Kiều 1866 Bản Liễu Văn
Ðường—Nghệ An Nguyễn Quảng
Tuân—Phiên âm - khảo dị Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2004)Ông Nguyễn Quảng Tuân là người đã sưu tầm
được tại Paris, thủ đô nước Pháp, bản Kiều Liễu Văn
Đường 1871, hồi đó được xem là bản Kiều Nôm có niên
đại cổ nhất. Ông đã phiên âm, khảo dị và cho in cuốn
Kiều đó năm 2002. Ông cũng may mắn, trong chuyến đi Mỹ,
được ông Đàm Quang Hưng, chủ nhân của bản Kiều do Nguyễn
Hưng Lập (Tiểu Tô Lâm – Noạ Phu) chép tay năm 1870 ở kinh
đô Huế, tặng cho một bản photocopy. Về nước, ông
cũng phiên âm và khảo dị cẩn thận để cống hiến cho
bạn đọc một quyển Truyện Kiều - Bản Kinh, năm 2003. Ngoài
ra ông vẫn kiên trì theo đuổi việc nghiên cứu văn bản
Truyện Kiều và đã xuất bản được nhiều công trình
khảo cứu. Nay nhân bản Liễu Văn Đường 1866 mới phát
hiện ở Nghệ An, ông lại may mắn được Bảo tàng Khu lưu
niệm Nguyễn Du tặng cho một bản photocopy. Ông cần cù
đêm ngày phiên âm, khảo dị, so sánh hai bản 1866 và 1871
để tiếp tục công việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều
mà ông đã say mê theo đuổi từ mấy chục năm
nay. Việc sưu tầm được bản Kiều nôm cổ nhất
ở Nghệ An là công lao của các nhà hoạt động văn hoá ở
Nghệ Tĩnh, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du. Ông Nguyễn Quảng Tuân là người nối tiếp và
nối dài ra công việc sưu tầm ấy: tất cả đều cùng
chung một tấm lòng yêu quý vô hạn đối với di sản của
văn dân tộc. Cách đây không lâu, báo chí đưa tin Bảo tàng
Thượng Hải ở Trung Quốc đã phải bỏ ra đến 4 triệu
rưỡi USD để mua từ Hồng Kông một văn bản chữ thảo
đời Tống. Ở Luân Đôn, quyển Truyện Kiều, một bản nôm
chép tay năm 1894, đã được thư viện Anh quốc (The British
Library) mua với một giá cực kỳ đắt tại một cửa hàng
sách quí hiếm (Sam Fogg Rare Books and Manuscript ở số 35 St.
George Street) vì quyển ấy cực kỳ đẹp và cũng rất có
giá trị. Xưa nay, những bản thảo, bản gốc, thậm chí
những sổ tay ghi chép... của các đại văn hào đều
được coi là những bảo vật quốc gia đối với văn
hoá và khoa học. Việc sưu tầm và nghiên cứu các văn
bản cổ là sự tìm về cội nguồn của tác phẩm, cốt
tìm ra cái bộ mặt thật (bản lai diện mục) của tác
phẩm. Việc này là một việc vô cùng khó khăn, công phu,
cần sự phối hợp với nhiều chuyên ngành nghiên cứu
khác nhau mới mong tìm ra được một câu, một chữ.
Những chữ của Nguyễn Du hay của Đỗ Phủ, Pushkin,
Shakespeare... là nhất tự thiên kim, nên ta vô cùng trân
trọng. Ông Nguyễn Quảng Tuân là người có công và có
duyên với công việc khó khăn và hệ trọng đó. Năm 2002 chúng tôi đã phiên âm và cho xuất bản
quyển Kim Vân Kiều tân truyện của Liễu Văn Đường khắc
in năm 1871. Bản nôm cổ ấy lúc trước được coi là cổ
nhất còn lưu giữ được một bản tại Thư viện Trường
Sinh ngữ Đông Phương ở Paris (Pháp). Thế rồi đến tháng 5 năm 2004 một bản Kim
Vân Kiều tân truyện cũng của nhà Liễu Văn đường đã
được phát hiện ở gia đình ông Nguyễn Thế Quang,
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Bản này được khắc in
năm 1866, niên hiệu Tự Đức thứ 19, cổ hơn bản của Thư
viện Trường Sinh ngữ Đông Phương tới 6 năm. Bản Kiều cổ nhất này thật vô cùng quý giá
chỉ tiếc nó đã bị xé mất 18 tờ tức 36 trang làm
thiếu đi 864 câu. Khu lưu niệm Nguyễn Du do ông Đinh Sỹ Hồng làm
Trưởng ban đã mua được về để trưng bày ở nhà Bảo
tàng tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà
Tĩnh. Chúng tôi hân hạnh đã được ông Hồng gửi
tặng cho một bản photocopy và đã cố gắng nghiên cứu,
phiên âm, khảo dị và chú giải để kịp thời cho in hầu
có thể cung cấp cho các độc giả một bản Kiều nôm
cổ, cổ nhất cho tới nay. Trong công việc biên khảo quyển sách này chúng
tôi đã nhận được sự động viên nhiệt tình của Gs Ts
Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc
học. Sách gồm có ba phần: - PHẦN I: Nhận định về bản Kim Vân Kiều tân
truyện khắc in năm 1866.
- PHẦN II: Văn bản Truyện Kiều.
- Chúng tôi đã cho in đối chiếu bản Nôm với
bản quốc ngữ phiên âm.
Vì bản in năm 1866 bị mất 36 trang nên để bổ
khuyết cho các trang thiếu ấy, chúng tôi đã cho in 36
trang trích từ bản nôm in năm 1871 để các độc giả tiện
tham khảo. - PHẦN III: Chú giải.
- Các chú giải có thể dùng chung cho cả ba bản:
bản 1866, bản 1871, và bản quốc ngữ ghi trong phần Khảo
dị.
Nghĩ rằng việc phiên âm, khảo dị và chú giải
khó tránh khỏi những sai sót, chúng tôi thành thực yêu
cầu các độc giả vui lòng đón góp cho những ý kiến
quí báu để khi tái bản chúng tôi có thể sửa chữa
lại cho được chính xác hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn trước. Kiều 1870 Bản Kinh đời Tự Ðức
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo
dị Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2003)Cuốn TRUYỆN KIỀU – Bản Nôm cổ nhất
– Liễu Văn
Đường tàng bản (1871) do ông Nguyễn Quảng Tuân sao chụp ở
Thư viện Liên trường Sinh ngữ Đông phương – Paris, sau khi
phổ biến đã nhận được sự chú ý của giới nghiên
cứu và các bạn đọc gần xa. Vào đầu tháng 3 năm 2003 vừa qua, Trung tâm
Nghiên cứu Quốc học đã tổ chức tại Hà Nội một
cuộc Hội thảo lấy tên là Đi tìm nguyên tác Truyện
Kiều. Đông đảo các học giả, các nhà nghiên cứu Hán –
Nôm, nghiên cứu ngữ học, nghiên cứu văn học ở Hà Nội
và một vài tỉnh lân cận đã tới dự và đã phát biểu
nhiều ý kiến có giá trị về mặt phương pháp luận
nghiên cứu cũng như đã đề xuất nhiều ý kiến giải
quyết một số trường hợp cụ thể. Cuộc Hội thảo dĩ nhiên là hướng về văn bản
Truyện Kiều nói chung chứ không nhằm vào một công trình
riêng biệt nào. Nhưng vì bản Kiều Liễu Văn Đường của
nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân và bản Kiều Duy Minh Thị
của Gs Nguyễn Tài Cẩn đều vừa mới công bố, nên Hội
thảo cũng đã chú ý nhiều đến hai công trình
này. Việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều do đó
đã tạo được một đà mới. Tiếp tục công trình nghiên cứu văn bản Truyện
Kiều, ông Nguyễn Quảng Tuân lại cho công bố một bản
Kiều nôm cổ nữa, BẢN KINH, do Lâm Noạ Phu sao chép khi đang
làm quan ở bộ Công dưới triều Tự Đức, vào năm 1870
(sớm hơn bản Liễu Văn Đường 1 năm). Bản này vốn được lưu giữ ở Sài Gòn trong
một tủ sách tư gia, sau 1975, đâu ngờ lại được bày bán
ở chợ sách cũ mà may mắn con trai ông Đàm Quang Hưng đã
mua được và gửi sang cho ông ở Hoa Kỳ. Đến khi có dịp sang thăm Hoa Kỳ – ở Houston
(Texas) – ngày 8 tháng 9 năm 2000 – ông Tuân đã được ông
Hưng kính tặng cho một bản sao quyển Đoạn trường tân
thanh. Nhận thấy bản Kiều nôm ấy là một bản Kinh
có giá trị, ông Tuân đã có bài viết trên tạp chí
Kiến thức Ngày nay (số 368 ra ngày 1-11-2000) để giới
thiệu văn bản cổ ấy với các nhà nghiên cứu và các
độc giả trong nước. Ông kiên trì làm việc: phiên âm, luận giải và
khảo dị giữa bản Kinh của Lâm Noạ Phu với các bản nôm
của Liễu Văn Đường (1871), Duy Minh Thị (1879), Tăng Hữu
Ứng (1874), Abel des Michels (1884, do Trần Ngươn Hanh sao
chép), Kiều Oánh Mậu (1902), Quan Văn Đường thời Hiền
Thi Tự (1906), Phúc Văn Đường (1918), Quảng tập Liễu Văn
Đường (1924), Quan Văn Đường (1925), và Chiêm Vân Thị
(viết sau năm 1905 và được in năm 1965). Ông có phiên đủ
các câu khảo dị của Lâm Noạ Phu (Nhất tác... ) và dịch
các lời bình của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng. Ông đã làm
khảo dị cẩn thận giữa hai bản: Lâm Noạ Phu và Liễu Văn
Đường để các độc giả thấy rõ sự khác biệt giữa
bản Kinh và bản Phường. Ông cũng khảo dị với bản Tăng
Hữu Ứng, một bản Kiều có nhiều câu chép theo bản
Kinh. Ngày nay chúng ta được thấy tận mắt bản
Kinh của Lâm Noạ Phu sao chép ngoài các bản Kinh chỉ được
nghe nói mà Kiều Oánh Mậu và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim đã
dùng để đỗi chiếu, san định khi phiên âm Truyện
Kiều. Như thế rõ ràng là đã có các bản Truyện
Kiều Bản Kinh. Các bản Kinh này không được in ra, mà
được chép tay, như Đào Nguyên Phổ đã kể lại cảnh
người ta “tranh nhau sao chép đến nỗi giá giấy đắt
như giấy quí Lạc Đô”. Thời xưa, việc chép tay những kiệt tác như
thế là chuyện thường, trong khi việc in khắc ván có
những khó khăn, phức tạp, tuy có tác dụng phổ biến
rộng rãi, thì việc chép tay, với những nhà thư pháp là
một việc thú vị, một việc mang tính nghệ thuật với
cá tính của từng người. Tất nhiên các bản chép tay ở Kinh đô này có
những khác biệt với các bản Phường cùng thời. Nó
đã được vua quan triều Tự Đức, một ông vua mê Kiều
và theo lời truyền đã có nhuận sắc bản Kiều cùng
với các cận thần (là những nhà văn, nhà nho lỗi lạc)
do đó đã để lại dấu ấn trong những bản Kiều
này. Việc công bố bản Kinh do Lâm Noạ Phu sao chép
cũng đem lại những thông tin mới. Trong Lời Tựa, câu:
Thị... xuất tự Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như
ông thủ thảo, lưu truyền ngũ (thập niên) vu tư... (Bản
Kiều này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn
liệp hộ Nguyễn Du được lưu truyền từ 50 năm nay..."
đã cho ta thấy rằng đây có thể là bản được chép
từ bản gốc, bản tác giả và bản này lưu truyền đã 50
năm nay (tính từ năm 1870 ngược lại đến năm 1820, năm
Nguyễn Du mất). Nếu đi sâu vào từng chữ, từng câu thì có
lắm chữ lắm câu có thể làm căn cứ để đối
chiếu, luận giải với các bản Kiều nôm cổ khác, từ
đó cố gắng có được cái bộ mặt thực - bản lai
diện mục của Truyện Kiều, một việc vô cùng thú vị và
khó khăn, cần phải huy động nhiều ngành học, nhiều học
giả... Bản phiên âm và khảo dị này của ông Nguyễn
Quảng Tuân tuy đã rất công phu, nhưng phiên âm nôm là
việc không đơn giản, có thể còn có một số chữ
người đọc cách này kẻ đọc cách khác, cũng cần cùng
nhau thảo luận thêm để tiếp cận chân lý, tạo nên một
diễn đàn học thuật vừa hào hứng, vừa tao nhã. Xưa đã chẳng có người cho rằng Truyện Kiều
có tác dụng kích dương tao nhã đó sao? Kiều 1871 Bản Liễu Văn Ðường
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo
dị Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002)NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN QUẢNG TUÂN VÀ VĂN BẢN
TRUYỆN KIỀU. Ông Nguyễn Quảng Tuân thuộc lớp trí thức
Tây học, được đào tạo chu đáo về tiếng Pháp và văn
hoá Pháp. Cơ duyên nào đã khiến ông từ biển Tây đi
vào biển Tàu - biển Hán rồi từ đó đi vào biển
Nôm biển Ta, và rồi một đời gắn bó với việc
khảo cứu Truyện Kiều? Chắc chắn rằng đó là bởi lòng yêu sâu
nặng đối với tiếng Ta, đối với văn hoá nước
nhà, bởi lòng yêu quê hương, đất nước. Nó nằm sâu
như một hạt giống dưới lớp đất nặng phù sa quê
nhà Kinh Bắc của ông và chợt một hôm nó nẩy mầm và
vươn ra ánh sáng. Do nhiều nguyên do, hơn hai nghìn năm văn hoá
Hán Việt, Hán Nôm cơ hồ đã bị đứt lìa đối với
nên văn hoá ngày nay. Đó là một mất mát quá lớn
và quá đau đớn, bởi vì không có gì có thể đo
lường được và bù đắp được. Không sống trong nền
văn hoá phương Đông với chủ nghĩa nhân văn tuyệt diệu
ấy mà Truyện Kiều chỉ là một trong muôn ngàn lệ chứng
thôi người ta khó mà đối thoại và hiểu nhau. Người
ta mất mà không biết mình mất, đôi khi còn tự hào ầm
ĩ là nhờ thế người ta bước đến được đến các
nền văn minh khác, rời bỏ được cái cổ hủ, cũ kỹ của
dân tộc và phương Đông, trong khi ở các nền văn minh
ấy thì họ chỉ được xem như một ông Tây An Nam, một
người chỉ mới vừa dính một chút bụi hoa lệ của các
kinh thành Âu Mỹ. Tôi hoàn toàn không có ý bãi ngoại hay
đóng cửa để nhốt mình vào cái cũ xưa, nhưng ở đây
có vấn đề! Trong cái tình thế đó, những người tiếp
nhận nhiều nền văn hoá Tây-Đông vừa lại quay về và
đam mê với văn hoá Việt, như ông Nguyễn Quảng Tuân (và
rất nhiều nhà nghiên cứu khác mà ta đã biết) là một
xúc động. Nó chứng minh rằng, tuy còn lẻ loi, những
người như thế đang đi đúng đường đúng hướng và
họ sẽ có những đóng góp có ý nghĩa cho văn hoá dân
tộc. Mấy chục năm nay, đặc biệt là từ sau 1975,
ông Nguyễn Quảng Tuân đã liên tục cho ra những tác phẩm
biên khảo với một sức làm việc và lòng đam mê không
mỏi (tuy ông đã ở vào tuổi gần bát tuần). Trong nhiều
công trình, người ta đặc biệt chú ý đến các bản
khảo cứu về văn bản Truyện Kiều của ông. Gần đây, việc tìm tòi về văn bản Truyện
Kiều vụt trở nên náo nhiệt. Nhiều nhà nghiên cứu với
những kiến giải khác nhau đã đem đến cho giới nghiên
cứu văn bản Truyện Kiều và bạn đọc nhiều điều lý
thú. Tựu chung, người ta nhận thấy về cơ bản nay đã
có một văn bản Truyện Kiều tạm ổn định, đã trung
thành với nguyên tác Nguyễn Du, với thiên tài Nguyễn Du,
thi pháp Nguyễn Du... Mà đó là công lao của nhiều thế
hệ, của toàn dân tộc, từ các nhà nho khoa bảng cho đến
đến những người bình dân đọc Kiều, ngâm Kiều, sống
với Kiều... Họ đã trả về cho Nguyễn Du những chữ
đích thực thiên tài. Nhưng việc tiếp tục tìm thêm
các bản Kiều Nôm cổ, thảo luận thêm về các trường
hợp phiên âm, chọn âm, chọn chữ... trong tính hệ thống
của văn bản, trong mối liên hệ lớp tấng sâu xa với
ngữ âm, ngữ pháp, ý nghĩa, với câu trúc thi pháp văn
bản... là một việc vẫn phải tiếp tục lâu dài. Đây là
một ngành học uyên bác, dày công, liên ngành, xuyên ngành,
một ngành học mà chỉ soi tìm một chữ thôi đã phải tốn
cả một đời học vấn và tâm trí. Ông Nguyễn Quảng Tuân đã qua tận Paris, vào Thư
viện Liên trường Đại học Ngôn ngữ Đông phương
(Bibliothèque Interuniversitaire des Langues Orientales), tìm cho kỳ
được bản Nôm được xem là cổ nhất hiện giờ còn lưu
giữ ở đó - bản Liễu 1871, đời Tự Đức thứ
24. Ông cũng đã có lần sang tận "xứ sương
mù"
để tìm cho được một bản Kiều Nôm cổ chép tay năm
1894, có chú thích và minh hoạ rất đẹp mà Thư viện Anh
quốc (The British Library) đã mua được ở một tiệm bán
đồ cổ ở Luân Đôn với giá rất đắt. Ông còn qua Hoa Kỳ tìm bản Kinh, bản Đoạn trường
tân thanh chép tay năm 1870 của Lâm Noạ Phu và lại qua Trung
Quốc theo bước đường lưu lạc của nàng Kiều từ Bắc
Kinh về tới Hàng châu - sông Tiền Đường... để mà yêu
thêm, hiểu thêm cái hồn của chữ nghĩa Truyện
Kiều. Thật là: Biết bao công mướn của thuê "Quê người" mấy độ đi về dặm khơi.Người ta nói: Thư trung hữu nữ nhan như ngọc,
cô Kiều tài sắc mặn mà đến thế nào mà còn làm
"luỵ" được người đến thế. Nhà ông còn tàng trữ nhiều tư liệu nghiên
cứu quí hiếm, đặc biệt là có gần đủ hết tất
cả các bản Kiều nôm và quốc ngữ. Ông Tập Kiều, Vịnh
Kiều làm thơ Đường luật, viết Hát nói về những
lịch lãm trong cuộc đời. Công việc sưu tầm, nghiên cứu là việc của cả
học giới; thành tựu của riêng ông có cống hiến đáng
kể và có thể còn giới hạn là điều hiển nhiên, nhưng
tấm lòng ấy, sự nỗ lực ấy cho văn hoá dân tộc
thật đáng trân trọng. Người thủ thư, một phụ nữ Pháp, ở Thư viện
Paris thấy có một người Việt Nam cả tháng đều đặn
đến đọc những cuốn sách cổ có chữ tượng hình
rất ít người mượn đọc, một hôm đã hỏi ông
Tuân: — Ai tài trợ cho ông đi đọc những cuốn sách
này? Ông Tuân đã trả lời: — Nhà tôi (Ma femme) Vì vậy, khi giở những trang Kiều phiên âm và
khảo dị, đọc những nhận xét về bản Kiều Nôm cổ ấy
sau đây, mong các bạn hãy hiểu cho tấc lòng của người
đã gửi lòng yêu say đắm của mình vào từng chữ, từng
câu của áng văn thiên thu tuyệt diệu. Kiều 1872 Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh
Thị Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002)- Trong số các bản Kiều Nôm cổ, bản Duy Minh
Thị có một vị trí riêng biệt. Kể về năm in thì đó
là một trong hai bản cổ nhất hiện biết: nó khắc in
năm 1872, tức một năm sau bản Liễu Văn Đường.
Nhưng bản Duy Minh Thị khi khắc ván mới (tân
thuyên) đã nói rõ khắc để trùng san một văn bản cổ.
Căn cứ vào các hiện tượng kị huý có thể phỏng
đoán đây là một văn bản được biên tập trong khoảng 30
năm đầu thế kỷ 19, từ đầu đời Gia long đến đầu
đời Minh mạng, nghĩa là trong khoảng cụ Nguyễn Du còn
sống. Cụ Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đã đi sâu
vào bản này và cụ đã đánh giá nó rất cao. Theo cụ,
đây là một bản Nôm rất quí, có thể giúp ích nhiểu
trong việc dò tìm nguyên tác và trong việc theo dõi lịch
sử diễn biến của văn bản truyện Kiều (tạp chí Văn học
số 3/1997). - Nhưng theo chỗ chúng tôi được biết, bản
Duy Minh Thị 1872 hiện không có ở các thư viện quốc gia
trung ương và địa phương. Nó chỉ còn được lưu giữ ở
thư viện Leiden, Hà Lan (Kí hiệu số Nr.5803-6) và thư
viện riêng của Cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris. Đó là một
điều rất thiệt thòi cho giới nghiên cứu Văn học, Ngữ
ngôn và Hán Nôm ở trong nước.
- Đứng trước tình hình đó, chúng tôi nghĩ
rằng cần phải tìm cách để công bố bản Kiều Nôm
này. Anh Lê Sơn Thanh, một học trò cũ của cụ Hoàng Xuân
Hãn, và hiện là một nhà nghiên cứu làm việc ở trường
Viễn Đông Bác cổ Pháp (tại Paris) đã chí tình giúp
đỡ chúng tôi để có được bản ấn ảnh: in từ bản
lưu giữ ở thư viện riêng của gia đình thầy. Là người
đang đi sâu nghiên cứu về nhóm Duy Minh Thị, anh cũng đã
có nhã ý cung cấp và cho sử dụng một số tư liệu
rút từ hồ sơ riêng của anh. Chúng tôi xin bày tỏ ở đây
lời chân thành cảm tạ của chúng tôi.
- Cái quý giá nhất là văn bản Nôm. Nhưng
để giúp cho đông đảo bạn đọc, cũng như để dọn
đường trước cho giới nghiên cứu, chúng tôi đã
tiến hành phiên Nôm và trình bày văn bản dưới dạng
đối chiếu: mỗi trang Nôm có một trang Quốc ngữ bên
cạnh.
Trong quá trình phiên Nôm, chúng tôi đã so sánh
với một bản Kiêu hiện đại - bản cụ Đào Duy Anh công
bố cuối cuốn Từ điển Truyện Kiều của cụ, in năm
1974. Nhưng chỗ từ ngữ bản Duy Minh Thị khác bản Đào Duy
Anh chúng tôi đều cho in chữ hoa. Nhưng chỗ chúng tôi
thấy cần nêu nhận xét hay cần trao đổi, tranh thủ ý
kiến của giới nghiên cứu chúng tôi đều cho in chữ
đậm. Có được một bản in như vậy, bạn đọc chỉ
cần lướt qua là đã có thể thấy nổi lên ngay những
điểm riêng biệt của bản Duy Minh Thị, cũng như những
điểm quan trọng cần chú ý tìm hiểu tiếp. - Trước phân chính - phần II - trình bày
đối chiếu văn bản Quốc ngữ - văn bản Nôm chúng tôi
có một phần, giới thiệu “vài nét sơ lược về bản
DMT/1872; còn sau phần chính là phần III, trình bày khoảng
1.000 nhận xét về các vấn đề chữ nghĩa trong bản
Kiều Nôm cổ này.
- Trước khi đưa in, cuốn sách này đã
được Ban biên tập Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội đọc, góp ý, và đặc cử chị Hà Thị Tuệ Thành
thường xuyên liên hệ với tác giả, tham gia rà xét mọi
mặt để năng cao chất lượng bản thảo. Nhân đây chúng
tôi cũng xin được biểu lộ lòng tri ân của chúng
tôi.
Kiều 1902 Bản Kiều Oánh Mậu Sưu tầm,
khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn
Thế & Phan Anh Dũng Hiệu đính
chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn
Đình Thảng. Nxb Thuận Hoá — Huế 2004Nguyên bản truyện Kiều chữ Nôm này là bản in
khắc Đoạn trường tân thanh, Giá Sơn Kiều Oánh Mậu
chú giải, Thành Thái Nhâm Dần trung thu vọng (1902), được
chụp ảnh in lại trong Tổng tập Văn học Việt Nam tập 12
(TTVH 12), bản này thường được gọi ngắn gọn là bản Kiều
Oánh Mậu (KOM). Đây là bản in khắc đẹp nhất, chữ Nôm
viết khá quy phạm và có ý thức chuẩn hoá, phần
giới thiệu và chú giải công phu, những người chấp
bút tham dự đề từ, bình giải đều là các bậc khoa
bảng danh tiếng đương thời. Được TTVH 12 đánh giá là
một trong hai bản có giá trị khoa học cao nhất (bản kia là
bản Kim Vân Kiều tân tập do nhóm Thời Hiền Thi Tự của
Chu Mạnh Trinh khắc in năm 1906, thường gọi là bản Quan Văn
Đường (viết tắt là QVĐ). Bản KOM đã được TTVH 12 chọn
lựa để chụp in lại, và làm cơ sở để khảo chú. Bản
này do Giá Sơn Kiều Oánh mậu (1853-1912), đậu Phó bảng
đời Tự Đức (Canh Thìn - 1880), dựa trên bản Kinh của
Đình nguyên Đào Nguyên Phổ đem từ Huế ra tặng cùng tham
chiếu các bản Phường (các bản khắc in dân gian ở
phường Hàng Gai, Hà Nội) và các bản sao tư gia mà soạn
lại. Nhiều người cho đây là bản Kinh thực ra không
đúng hẳn. Bản Truyện Kiều gốc in lần đầu là do Nguyễn
Du giao cho Phạm Quý Thích khắc in ở Hà Nội, nên các
bản Phường vẫn được tiếng là gần nguyên bản, nhưng
thực ra tam sao thất bản khá nhiều. Nhận xét đại thể
thì thấy các bản Phường theo rất sát ngữ âm miền
Bắc, hầu như không thấy có tiếng Nghệ, do đó nên
đặt nghi vấn phải chăng Phạm Quý Thích có sửa chữa
ít nhiều chứ không phải in đúng y như chính bản của
Nguyễn Du giao. Như thế tiêu chí cho cổ bản (các bản
Phường cổ) là gần nguyên tác hơn cận bản (bản Kinh, bản
KOM... ) e không chắc, lại thêm một lẽ là bản gia truyền
của dòng họ Nguyễn Du do Phạm Kim Chi phiên Quốc ngữ (1917)
nhiều chỗ thấy gần Kinh bản hơn là Phường bản. Khi chú dị bản chúng tôi chủ yếu so sánh
với bản Quốc ngữ Truyện Kiều của Bùi Kỷ và Trần
Trọng Kim hiệu khảo (do NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh in lại
1999, sau sẽ viết tắt là B-T) vì đây là bản được in
nhiều, phổ biến sớm và rộng từ khoảng những năm 20
của thế kỷ này, phần chú giải ngắn gọn và dễ hiểu,
có điều là chế bản Quốc ngữ sai nhiều chỗ. Do chúng
tôi mong muốn giới thiệu nội dung bản Kiều Nôm này
với đông đảo bạn đọc chứ không muốn bó hẹp trong
giới nghiên cứu chuyên sâu về Hán Nôm, nên đã chủ ý
chọn bản B-T để so sánh dị bản (vì các bản Quốc ngữ
khác đều theo gần sát bản B-T). Sự sai khác dị bản chủ
yếu là giữa hệ Kinh bản và hệ Phường bản. Bản KOM bị
quy là Kinh bản thực ra chỉ theo bản Kinh khoảng 21 câu trong
số khoảng 150 câu bản Kinh khác bản Phường (thống kê
của TTVH 12). TTVH 12 đánh giá là bản B-T bị ảnh hưởng nhiều
từ bản KOM, thực ra B-T chỉ theo những câu chữ ĐÚNG hơn
rõ ràng, còn nếu không gì hơn gì nhau thì lại thấy là
B-T trung thành với câu chữ bản Phường, những chỗ dị
bản so với KOM hầu hết là của các bản Phường, mà bản
QVĐ là tiêu biểu. Tuy các bản khác nhau không ít nhưng
phần nhiều khác nhau ở hư từ, từ đồng nghĩa, hay là
đảo thứ tự chữ, các trường hợp khác hẳn nghĩa
thực ra không nhiều. Chúng tôi chủ ý giới thiệu phần khảo chú
dị bản và chú giải từ ngữ sao cho ngắn gọn, tránh
biến cuốn sách này thành một tác phẩm chuyên khảo.
Phần chú giải và chú dị bản được đánh số liên tục,
các chữ có dị bản được in nghiêng. Chữ Quốc ngữ
được chế bản dạng bình thường nhằm cho nhiều người
đọc như đã định hướng ở trên, chứ không xếp ngang
dưới chữ Nôm và cũng không ép câu Quốc ngữ và Nôm
phải ở trên cùng một trang. Nhờ các học giả, các nhà nghiên cứu đã dày
công khảo định, chú giải, phiên âm rất công phu, nên công
việc của chúng tôi gặp nhiều thuận lợi. Đồng thời
chúng tôi đã cố gắng khảo thật kỹ bản Nôm KOM nên
cũng tìm được đôi chỗ người trước phiên âm chưa
sát. Ví dụ câu 2364, các sách đều phiên "Càng cay
(ଚE;) nghiệt lắm càng oan trái nhiều"; câu 1431
"Một
sân lầm cát đã đầy
(
)"
thực tế bản KOM
là "Một sân lầm cát dã dày
(
)"... Ngoài ra
chúng tôi có chủ ý tìm thêm các sách đọc khác với
người trước, mục đích cũng để bạn đọc rộng đường
đánh giá thưởng thức, nên cách đọc khác dù không
được hay nhưng nếu không quá vô nghĩa thì cũng ghi chú.
Với sự hiểu biết có hạn, nên chúng tôi chỉ xin
được đóng góp thêm một đầu sách nghiên cứu về
Truyện Kiều thiên về mặt văn bản học hơn là việc khảo
chú văn nghĩa, chắc chắn sẽ gặp nhiều thiếu sót mong
được các bậc thức giả và bạn đọc bổ
khuyết.
|