Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry hư hoá
chứa 貯
AHV: trữ. Âm THV (Early Sino Vietnamese) PJ Duong 2013: 143].
đgt. đựng. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.5)‖ Bẻ chứa mây. (Mạn thuật 28.4)‖ (Tự thán 72.8).
của 𧵑 / 古
◎ Ss đối ứng kuə⁴ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. trong của cải, tài sản. (Mạn thuật 31.7)‖ Song viết lại toan nào của tích, bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 49.7, 61.1, 56.7)‖ (Tự thán 111.3)‖ (Tự thuật 117.7)‖ (Bảo kính 130.1, 133.5, 138.5, 146.5, 171.8, 175.3, 177.8). của chầy: của tồn tại mãi mãi (bóng). (Bảo kính 179.3, 186.1)‖ (Liên hoa 243.4).
dt. <từ cổ> đồ, thứ. Quê cũ nhà ta thiếu của nào, rau trong nội, cá trong ao. (Mạn thuật 35.1)‖ (Tự thán 74.5)‖ Của hằng. (Tự thán 77.6, 86.7) của cởi buồn: dịch chữ vong ưu vật‖ (Tự thán 105.7)‖ (Bảo kính 134.8, 135.3, 149.1, 163.5, 171.5, 182.8).
dt. <từ cổ> việc. Rày mừng thiên hạ hai của: tể tướng hiền tài, chúa thánh minh. (Thuật hứng 65.7)‖ Của yêu đương. (Tự thán 81.7, 99.7, 115.1)‖ (Bảo kính 184.7)‖ Nghĩ quy y Phật đương nguyện cho chúng sinh cóc hay trong đại đạo phát lòng có của trên. (Phật Thuyết 46b).
dt. k. từ trỏ quan hệ sở hữu. Phúc của chung, thì hoạ của chung, nắm thì hoạ khỏi phúc về cùng. (Bảo kính 132.1)‖ Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.4). Đây là hai ngữ cảnh có dấu hiệu chứng tỏ từ “của” đang chuyển từ thực từ sang hư từ vào giai đoạn thế kỷ XV.
hôm 歆
dt. buổi chiều. Song viết hằng lề phiến sách cũ, hôm dao đủ bữa bát cơm xoa. (Ngôn chí 18.4)‖ (Mạn thuật 26.1)‖ (Thuật hứng 55.2)‖ (Tự thuật 117.8)‖ (Mộc cận 237.3)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.3).
khói 灰
◎ Nôm: 𤌋 {火 hoả + 塊 khối}. Chữ 灰 có AHVhôi, khôi với nghĩa “lửa lụi gọi là khôi” (火之滅者為灰) [Lễ Ký- nguyệt lệnh]. Ss đối ứng kʼɔj (30 thổ ngữ Mường), buɲ (14), βuɲ (7) [NV Tài 2005: 231].
dt. <từ cổ> tro, xét “tro” còn có các đồng nguyên tự là “lọ” và “nhọ” với nghĩa màu tro than. Như vậy, “khói” gốc Hán, “tro” gốc Việt, “mun” gốc Nam Á. Tuy nhiên, “tro” vẫn luôn được dùng phổ biến, nên chuyển nghĩa thành “khí màu xám đục bốc lên từ tàn lửa tro bụi”. Mặt khác, “khói” cũng có đối ứng kʰɔj3 (Mường), kăhɔi3 (Rục), kahɔɔy (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 61], chứng tỏ gia nhập rất sớm. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4).
dt. hơi bốc lên từ mặt nước, hoặc khí mù. Khói trầm thuỷ quốc quyên phẳng, nhạn triện hư không gió thâu. (Ngôn chí 14.5, 19.4).
nâng 娘
◎ Phiên khác: nương: nương tựa (TVG, ĐDA), nương = vườn (Schneider).
đgt. đặt trên tay. Lai láng lòng thơ ngâm chửa đủ, ngồi nâng toàn ngọc, triện còn hương. (hoa mẫu 233.4).
thuỷ chung 始終
dt. <từ cổ> từ đầu đến cuối. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.3).
ý 意
đgt. dt. ý muốn, tâm nguyện. Âu lộ cùng ta dường có ý, đến đâu thì thấy nó đi theo. (Tự thán 101.7)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.6)‖ (Trúc thi 223.2)‖ (Đào hoa 229.3)‖ (Dương 247.3).
đong lừa 冬𪪏
đgt. <từ cổ> lừa gạt, nói tắt từ câu đong đấu lựa thưng, Tng. lừa thăng tráo đấu, trỏ việc gian lận. [Paulus của 1895: 319]. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6).
đục đục 濁濁
AHV: trọc trọc.
tt. HVVT <từ cổ> nhiều vẩn, nhiều cấn. Sau trại âm thành đùng đục và phái sinh theo nghĩa khác. Chớ người đục đục, chớ ta thanh, lấy phải thì trung, đạo ở kinh. (Bảo kính 156.1). x. chớ người đục đục.
mất 沒
AHV: một. 末. Ss đối ứng văt3 (Muốt), bət3* (Nà bái), vət3/6 (Chỏi), bət4 (Khẻn) [PJ Duong 2012: 9].
đgt. HVVD. hỏng, sai.Nguyên chữ một nghĩa là chìm (Thuyết văn), rồi dẫn thân thành “hết” (Kinh thi), tiếng Việt chuyển nghĩa thành mai một (tiêu hao) và mất (chết, không còn). Người cười dại khó ta cam chịu, Đã kẻo lầm cầm miễn mất lề. (Bảo kính 141.8)‖ Bằng rồng nọ ai phen kịp, Mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8). phb. trật, thất.