Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry dịch từ câu
chiềng 呈
◎ Nôm: 廛 AHV: trình, âm phiên thiết: trành, đọc âm THV [An Chi 2006 t5: 148]. Phiên khác: gìn (PL), nhìn (ĐDA).
đgt. <từ cổ> tâu lên cho biết. Chiềng cho biết nay dường ấy, chẳng thấp thì cao ắt được dùng. (Bảo kính 132.7).
nương 娘
dt. ruộng trồng trên vùng đồi núi, hoặc bãi cát ven sông dùng để trồng dâu. Ruộng nương là chủ, người là khách, đạo đức lành, ấy của chầy. (Bảo kính 177.7). Bãi bể nương dâu < thương hải tang điền. Thng
muốn 悶
◎ Ss đối ứng muj, mɔɲ (18 thổ ngữ Mường), haw (9 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 244].
đgt. trong mong muốn, ham muốn. Ắt muốn đến chơi thành thị nữa, âu là non nước nó đàn chê (Tự thán 88.7, 108.7)‖ (Bảo kính 128.2, 137.1, 173.5, 177.6, 179.3).
mài chăng khuyết 𥕄庄鈌
đc. dịch từ câu ma nhi bất lân 磨而不磷. Thời Xuân Thu, Khổng Tử bị giới chính trị của nước Lỗ bài xích. Ông bèn dẫn học trò chu du liệt quốc, qua các nước Vệ, tống,… nhưng đều không được coi trọng, nhưng dù ở Hoàn Cảnh nào ông vẫn kiên trì theo cái đọa của mình. Trong thiên Dương hoá sách Luận Ngữ có chép một đoạn như sau: “Phật Bật triệu, Khổng Tử toan đi. Tử Lộ nói: trước kia, do này có nghe thầy dạy rằng: “người quân tử không đến nơi kẻ đích thân làm điều bất thiện”. Phật Bật chiếm đất trung mâu để làm phản. Nay thầy lại định đến đó, là nghĩa làm sao? Khổng Tử nói: phải, ta có nói thế. Nhưng ta há chẳng nói: “vật gì thật bền, mài cũng chẳng mòn?”, ta há chẳng nói: “vật gì thật trắng, nhuộm cũng chẳng đen” đó sao? ta há phải quả bầu? sao có thể treo chứ không ăn?” (佛肸召。子欲往。子路曰:昔者,由也聞諸夫子曰:親於其身為不善者,君子不入也。佛肸以中牟畔,子之往也,如之何?子曰:然,有是言也,不曰:堅乎?磨而不磷?不曰:白乎,涅而不緇?吾豈匏瓜也哉,焉能繫而不食?). Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8).
nghiêng 迎
đng ngả.
đgt. lệch về một phía. Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, ngày vắng xem hoa bợ cây. (Ngôn chí 11.3).
nhiễu 繞
◎ Nôm: 遶
đgt. vây quanh. Đào Uyên Minh trong bài Độc Sơn Hải Kinh có câu: “Đầu hè cỏ mau lớn, quanh nhà cây lên rậm.” (孟夏草木長, 繞屋樹扶疏 mạnh hạ thảo mộc trưởng, nhiễu ốc thụ phù sơ). Có nước nhiễu song, non nhiễu cửa, còn thơ đầy túi, rượu đầy bầu. (Tự thuật 121.3).
phô bay 鋪悲
đt. <từ cổ> các ngươi, chúng mày. Phô: các. “phô ông. Phô ngươi. Phô gã. Phô đoàn ấy: illi, (vox contemptus). Phô loài ấy: illa animalia” [Taberd 1838: 396]. Nhắn bảo phô bay đạo cái con, nghe lượm lấy, lọ chi đòn. (Huấn Nam Tử 192.1). Phô bay xét nghe. (Phật Thuyết 11b).
Đỗ Phủ 杜甫
dt. tức Đỗ Thiếu Lăng (712 - 770) nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.6), Đỗ Phủ trong bài Phụng tặng vi tả thừa… có câu: “Đọc sách rách muôn quyển, hạ bút như có thần.” (讀書破萬卷,下筆如有神 độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần). Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.5), Đỗ Phủ có câu: “Mũ nhà Nho làm luỵ nhiều đến thân mình.” (儒冠多誤身 nho quan đa ngộ thân).
đai lân 帶麟
dt. dịch chữ lân đái 麟帶, loại đai của các quan có thêu hình con lân. Ôn Đình Quân trong bài Vũ y khúc có câu: “Áo gấm dải lân ép hương sầu, lãi được lưỡi oanh giàm lụa quý.” (蟬衫麟帶壓愁香,偷得鶯簧鏁金縷 thiền san lân đái áp sầu hương, thâu đắc oanh hoàng khoá kim lũ). Đai lân bùa hổ lòng chăng ước, bến trúc đường thông cảnh cực thanh. (Tức sự 123.5).
ốc 沃
◎ Ss đối ứng hok (Mường) [Vương Lộc 2001: 127].
đgt. <từ cổ> gọi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.4). Chim ốc bạn cắn hoa nâng cúng (Huyền Quang - Vịnh Hoa ). kinh này danh ốc là gì? (Phật Thuyết 39a). Kinh này ốc là kinh nhân duyên. (Phật Thuyết 39a). Mị châu tên ốc đương thì thiếu đôi. (TNNL c. 779).
đgt. <từ cổ> rằng. Ngõ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.7) ngõ ốc: hiểu rằng.