Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry dịch chữ
ao chín khúc 𬇚𠃩曲
dt. dịch chữ cửu khúc trì 九曲池, còn gọi là ao thiện tuyền 善泉. Sách Kiến Khang Chí ghi: “Ao chín khúc nằm trong thành nội của chốn đông cung đài thành, do chiêu minh thái tử nhà lương đào” (在台城東宫城内,梁昭明太子所鑿). Chiêu minh thái tử tiêu thống (501-531) là đại văn học gia triều lương, con trưởng của lương vũ đế tiêu diễn, ông tổ chức biên soạn bộ văn tuyển, đời sau gọi là chiêu minh văn tuyển gồm 30 quyển là bộ văn tuyển đồ sộ nhất từ trước cho đến thời bấy giờ. Bộ sách này được biên soạn tại đông cung, ông đã biến nơi đây thành thư khố với mấy vạn quyển sách. Cạnh thư khố, ông còn cho đào ao chín khúc, trong ao có đảo, đình, gò bãi và nhà thuỷ tạ, cảnh trí cực thanh u. Ông thường bơi thuyền trên ao để ngâm vịnh, có câu như: “hà tất đàn với sáo, non nước tiếng trong veo” (何必絲與竹, 山水有清音 hà tất ti dữ trúc, sơn thuỷ hữu thanh âm). Dưới tạc nên ao chín khúc, trong nuôi được cá nghìn đầu. (Bảo kính 154.3).
ba 𠀧 / 巴
◎ Ss với đối ứng pa, ba (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 173].
dt. số đếm. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.2), ba làn dịch chữ tam điệp 三疊 (?)‖ (Mạn thuật 27.3)‖ Đôi ba. (Thuật hứng 56.1, 58.5)‖ (Tự thán 76.6)‖ Trống ba. (Tự thán 94.6), trống ba dịch từ chữ tam cổ: tức tam canh, suốt đêm ba canh. (Tự thán 80.6)‖ (Bảo kính 158.8, 169.8, 140.7, 157.8)‖ Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.6)‖ Ba tháng. (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Tích cảnh 207.3)‖ (Đào hoa 230.3, 232.2)‖ (Điệp trận 250.7).
ba thân 𠀧身
dt. <Phật> thân kiếp trước, hiện tại, và tương lai, dịch chữ tam sinh 三生. (Ngôn chí 12.4)‖ Kẻ thì nên Bụt kẻ nên tiên, tượng thấy ba thân đã có duyên. (Tự thán 103.2)‖ (Bảo kính 168.5, 187.8).
ba xuân 𠀧春
dt. <từ cổ> ba tháng mùa xuân, trỏ toàn bộ thời gian của mùa xuân, dịch chữ tam xuân. Ba xuân thì được chín mươi ngày, sinh vật lòng trời chẳng tây. (Tích cảnh thi 209.1).
ba đường cúc 𠀧塘菊
dt. đc. dịch chữ tam kính cúc 三徑菊. Kính: đường nhỏ. tam kính: đc. Tam kính của Tưởng Hủ. Triệu Kỳ đời Hán trong Tam Phụ Quyết Lục phần Đào danh ghi: “Đời Hán, thứ sử duyện châu là Tưởng Hủ, nhân vì Vương Mãng chuyên quyền, từ quan ẩn cư, mở ba đường nhỏ trong rừng trúc, chỉ giao du với hai người Cầu Trọng và Dương Trọng. Đào Uyên Minh đời Tấn trong bài Quy Khứ Lai Từ có câu: “ba lối hoang vu, tùng cúc vẫn còn” (三徑就荒,松菊猶存 tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn). Mưa thu rưới ba đường cúc, gió xuân đưa một rãnh lan. (Ngôn chí 17.5)‖ (Tự thán 73.5, 107.5).
bia Nguỵ Trưng 碑魏徵
đc. Nguỵ Trưng là tể tướng nhà Đường, thày dạy cho thái tử, có rất nhiều công tích hiển hách. Khi ông mất, vua đích thân soạn văn và viết chữ lên bia mộ. Về sau, thái tử lý thừa càn mưu phản, nên bia của ông bị huỷ bỏ. Mãi đến khi Đường Thái Tông mất mới hạ lệnh cho Nguỵ Trưng được bồi táng ở chiêu lăng. Nghiệp Lưu Quý thịnh, đâu truyền báu, Bia Nguỵ Trưng cao, há nối tông. (Bảo kính 130.4) x. Nguỵ Trưng.
biên 鬢
◎ Nôm: 边 / 邉 / 邊 biên là âm HHV của mấn (Ss ABK: bin). Âm THV đọc là mai, lưu tích trong từ tóc mai. Thuyết Văn giải tự: “mấn: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Thuyết Văn: “mai: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Bạch Cư Dị trong bài Mãi thán ông có câu: “đôi tóc mai bàng bạc mà mười ngón tay lại đen” (两鬢蒼蒼十指黑 lưỡng mấn thương thương thập chỉ hắc). AHV: mấn/ tấn, ABK: bīn. Tương ứng chung âm -j > -n như: mai > mấn, tươi > tiên, lãn > lười.
dt. <từ cổ> tóc mai. Phong sương đã bén biên thi khách, tang tử còn thương tích cố gia. (Quy Côn Sơn 189.5)‖ Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc, đầu bạc xưa nay có khuở xanh. (Tích cảnh thi 202.3, 203.1)‖ (Thuật hứng 50.3, 62.4)‖ (Tự thán 82.6, 87.3)‖ (Tự thuật 113.4).
bo bo 逋逋
tt. “hà tiện, bỏn sẻn. giữ của bo bo là giữ của chằng chằng. Giữ bo bo: giữ chẳng chằng, giữ chặt, giữ khít ghim” [Paulus của 1895: 60], “giu bo bo: tenaciter custodire” [Morrone 1838: 196]. Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.5).
buồng the 房紗
◎ Nôm: 𢩣絁
dt. HVVT phòng có lụa the buông cho đẹp và kín đáo, trỏ phòng riêng của con gái nhà quyền quý xưa. Đi nào kẻ cấm buồng the kín, ăn đợi ai làm bàn soạn đầy. (Miêu 251.5).
bè 筏
◎ Nôm: 𤿤 Tày: phè, vè [HTA 2003: 408]. Nguyên từ là phiệt 筏 (ABK: fá). Kiểu tái lập: *pie.
dt. mảng ghép đơn sơ bằng tre nứa, dùng để vượt sông. Đài Tử Lăng cao, thu mát, Trương Khiên nhẹ, khách sang. (Ngôn chí 9.4).
dt. HVVD mảng ghép đơn sơ bằng tre nứa, dùng để thuỷ canh hay làm chà cho cá. Ao quan thả gưởi hai muống, đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.5)‖ Thuỷ hành rau muống lênh đênh một . (CNNA 70).
bó 把
◎ Nôm: 布 Đọc âm PHV. AHV: bả, bá. Ss đối ứng pɔ, bɔ (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 179], tro? (Katu) [NH Hoành 1998: 249]. bả / bó , nắm gốc Hán, chét, ôm gốc Việt.
dt. (lượng từ) ôm, nguyên nghĩa gốc là lượng từ, trỏ một khối lượng sự vật trong lòng bàn tay, giống như chét trong chét lúa. Thuyết Văn ghi: “Bả: nắm tay” (把,握也). Sách Mạnh Tử ghi: (拱把之桐梓), chú rằng: “dùng một tay mà bốc” (以一手把之也). Dương Vạn Lý có câu: “tháng hai sơn thành chẳng có đến một bó rau” (二月山城無菜把). nhật dụng thường đàm ghi: “Hoả bả 火把: là bó đuốc” [Phạm Đình Hổ 1827: 39b]. Đạp áng mây ôm củi, ngồi bên suối gác cần câu. (Trần tình 41.3). x. nắm.
bóng 俸 / 䏾
◎ Ss đối ứng: bóng (tày ) [HTA 2003: 41].
dt. ánh sáng. Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.3, 14.1, 16.4, 21.6)‖ (Tự thán 77.4, 98.1)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.4).
dt. phản quang của vật xuống một bề mặt. Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc, nước chảy âu khôn xiết bóng non. (Thuật hứng 49.6, 51.4)‖ (Tự thán 76.6, 79.1, 84.4)‖ (Bảo kính 160.4, 165.6)‖ (Lão mai 215.4)‖ (Mai thi 225.4, 226.1).
dt. hình ảnh từ phía xa của một vật. Lại có hoè hoa chen bóng lục, thức xuân một điểm não lòng nhau. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.3)‖ (Thiên tuế thụ 235.1)‖ (Thái cầu 253.6).
dt. bóng che mát, ví với sự che chở. Tuy đà chưa có tài lương đống, bóng cả như còn rợp đến dân. (Lão dung 239.4)‖ (Hoè 244.4)‖ (Cam đường 245.1).
bù trì 扶持
◎ Nôm: 逋持 / 逋扶 Bù: âm THV. AHV: phù trì.
đgt. <từ cổ> săn sóc, giúp đỡ. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.6)‖ (Tự thán 77.6)‖ Chử khăng khăng ai nỡ phụ, bù trì mựa khá để thon von. (Tự thán 87.8)‖ (Bảo kính 145.6)‖ Đông phong có ý bù trì nữa, một phút xuân là một động người. (Dương 247.3)‖ (Tức sự 125.6)‖ (Đào hoa thi 228.4). x. phù.
bạc phận 薄分
◎ Nôm: 泊分
tt. (phụ nữ có số phận) mỏng manh, không tốt. Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận, hồng nhan kia chớ cậy mình thay. (Mạt lị hoa 242.3). Câu này ý nói về việc tài mệnh tương đố.
bảng 榜
dt. tấm biển báo. Thu phát lệnh nghiêm hàng đỗ gấp, sương thanh bảng nhặt tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.6). sương thanh bảng nhặt: sương trong trẻo vào thu như tấm biển báo giục giã gấp gáp, nghiêm ngặt. x. nhặt ④.
bể 𣷭
◎ Ss đối ứng: pể (Tày) [HTA 2003: 400].
dt. biển. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5)‖ (Tự thuật 122.3)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.1).
dt. (bóng) những nơi rộng lớn. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.4)‖ Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết, ghê thay thế nước vị qua mềm. (Tự thuật 115.7)‖ (Bảo kính 160.1).
bể học 𣷭斈
dt. dịch chữ học hải 學海, trỏ việc học mênh mông bất tận như biển, hàng ngày phải dốc sức để tinh tiến không ngừng, sau trỏ trình độ học vấn sâu rộng. Dương Hùng đời Hán trong Pháp Ngôn thiên Học thuật ghi: “Bể học trăm nguồn đều đổ về biển lớn” (百川學海而至於海). Bể học trường văn hằng nhặt bới, đường danh suối lợi, hiểm khôn tìm. (Bảo kính 150.3).
bốn bể 𦊚𣷭
dt. <Nho> dịch từ chữ tứ hải 四海 (thiên hạ). Sách Luận Ngữ thiên Nhan Uyên có đoạn: “Tư Mã Ngưu lo lắng nói: Người ta đều có anh em riêng tôi không có. Tử Hạ nói: Thương này từng nghe rằng ‘sống chết có số mệnh, giàu sang bởi trời. Quân tử kính cẩn mà không lỗi; với người thì cung kính và có lễ. Người trong bốn biển đều là anh em. Thế thì, người quân tử lo gì không có anh em?” (司馬牛憂曰:人皆有兄弟, 我獨亡。子夏曰: 商聞之矣死生有命, 富貴在天。君子敬而無失; 與人恭而有禮; 四海之內皆兄弟也。君子何患乎無兄弟也). Tuy rằng bốn bể cũng anh tam, Có kẻ hiền lành, có kẻ phàm. (Bảo kính 174.1, 154.7).
bới 摆
đgt. bươi ra, xới ra, gạt lớp phía che phủ bên trên để nhặt ra, chọn ra. Gà bới thóc. Bươi- xới- bới là chuỗi đồng nguyên. Bể học trường văn hằng nhặt bới, đường danh suối lợi hiểm khôn tìm. (Bảo kính 150.3). Chữ “bới” ở đây đồng nghĩa với chữ “xới”, “cày”. So sánh với câu: khoẻ cày ruộng thánh đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.5).
bụi bụi 倍倍 / 配配 / 蓓蓓
◎ Phiên khác: phơi phới (TVG, ĐDA), bủi bủi: rời không dính nhau (Schneider, PL). Có thể phiên bụi bụi và có nghĩa là bụi (phủibụi trong tiếng Việt có quan hệ về trường nghĩa và cả mối liên hệ về âm). Âm bph vẫn thấy quan hệ trong tiếng Việt hiện nay, như ăn mặc bụi bặmmặc phủi. “… ngôn từ dân gian cho thấy trong tiếng Việt cổ có những danh từ chỉ sự vật lặp lại hai lần để chỉ phạm trù số nhiều không xác định. Đặc biệt với những loài nhỏ, thường tập hợp nhiều cá thể thành đám, ví dụ như mẳn mẳn, rặt rặt, sẻ sẻ, sao sáo, châu chấu, cào cào, đòng đong, cấn cấn, liu điu…” [NH Vĩ 2010].
dt. <từ cổ> nhiều bụi. Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm, bén phải Đông Hoa bụi bụi xâm. (Tự thuật 119.2).
đgt. <từ cổ> hoá thành cát bụi. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.8). Mượn ý từ bài Tái đáo Thiên Thai của Tào Đường có câu: “Lại đến Thiên Thai hỏi ngọc chân, rêu xanh đá trắng hoá bụi trần.” (再到天台訪玉真,蒼苔白石已成塵 tái đáo Thiên Thai phỏng ngọc chân, thương đài Bạch Thạch dĩ thành trần).
chay 齋
◎ Nôm: 𭤕 AHV: trai. (tục tự của 夈 < 斎 < 齋).
dt. loại đồ ăn chỉ có thực vật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.4). trái thì trai: trái cây là đồ chay theo mùa.
chim bay cá dảy 𪀄𠖤个𧿆
đc. <Pháp> các loài vật thung dung tự tại sống hoà theo tự nhiên. Sách Pháp Gia thiên Thận tử viết: “chim bay trên không, cá bơi dưới vực, chẳng theo thuật nào cả. Cho nên chim và cá cũng chẳng tự biết là nó có thể bay hay bơi. Nếu mà có biết, rắp tâm bay rắp tâm bơi thì lập tức rơi chìm… cho nên biết thuận theo tự nhiên thì sẽ bền lâu”. (鳥飛於空,魚游於淵,非術也。故為鳥為魚者,亦不自知其能飛能遊。苟知之,立心以為之,則必墮必溺…是以任自然者久,得其常者). Lẽ có chim bay cùng cá dảy, mới hay kìa nước nọ hư không. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.7). Câu này tác giả ngầm có ý sâu xa hơn.
cháu 𡥙
◎ Ss các đối ứng tʼon, (13 thổ ngữ Mường), son, sun (13 thổ ngữ Mường), caw (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 190]. Cho thấy, tʼon, son, sun (< 孫, AHV: tôn, ABK: sun) là các từ Hán Mường, caw là từ Việt-Mường.
dt. x. con cháu. (Ngôn chí 10.7)‖ (Bảo kính 130.2).
chân chạy cánh bay 眞𧼋𦑃󱗟
đc. <Đạo> thú và chim. Huyền Thông Chân Kinh thiên Đạo nguyên viết: “Đạo cao không thể đo, sâu không thể lường, bao trùm trời đất, bẩm thụ vô hình, nguồn chảy ào ào, rỗng mà không đầy,…, ước giản mà có thể mở rộng, u ẩn mà có thể sáng rõ, nhu nhược mà có thể cương kiện, nuốt âm nhả dương, làm tỏ tam quang; núi vì thế cao, vực vì thế sâu, thú vì thế chạy, chim vì thế bay, lân vì thế chơi, phượng vì thế lượn, tinh tú vì thế đắp đổi.” (夫道者,高不可極,深不可測,苞裹天地,稟受無形,原流泏泏,沖而不盈,…,約而能張,幽而能明,柔而能剛,含陰吐陽,而章三光;山以之高,淵以之深,獸以之走,鳥以之飛,麟以之遊,鳳以之翔,星曆以之行). Chân chạy cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.7).
chèo 棹
◎ Đọc âm THV. AHV: trạo.
dt. đgt. dụng cụ bạt nước đẩy thuyền đi. Vầu làm chèo, trúc làm nhà, được thú vui ngày tháng qua. (Trần tình 39.1)‖ Nước xuôi nước ngược nổi đòi triều, thuyền khách chơi thu các lướt chèo. (Tự thán 101.2).
đgt. dùng mái chèo bạt nước. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.7, 22.5)‖ (Mạn thuật 32.4)
chín 膳
◎ Nôm: 㐱 AHV: thiện. Quan hệ ch- ~ th- [NĐC Việt 2011: 11]. Ss đối ứng cin (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 194].
tt. trái với sống. Cành khô gấp bấy nay nên củi, hột chín phơi chừ rắp để bình. (Bảo kính 151.4).
chùa chiền 寺禪
◎ Nôm: 厨纏 Phiên khác: 廚纏
dt. đảo âm của chữ thiền tự. chùachiền là âm THV của tựthiền . Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, có thân chớ phải lợi danh vây (Ngôn chí 11.1). x. chiền.
chước 䂨 / 斫
dt. <từ cổ> mưu lược, kế sách, lưu tích trong mưu ma chước quỷ. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào khuở ích chưng dân. (Trần tình 37.7)‖ Chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6, 161.6). x. mười chước.
②. dt. <từ cổ> cách, phương cách. Nợ cũ chước nào báo bổ, ơn sày, ơn chúa miễn ơn cha. (Tự thán 94.7)‖ (Bảo kính 171.4)‖ (Miêu 251.4).
chường 床
◎ Nôm: 床 / 棖 AHV: sàng. Nay đọc là giường. Phng. Bình Trị Thiên, chờng thờ: bàn thờ. Tương ứng ch- gi-, chốông giống, chợn giỡn, chụa giũa, chùi giùi, chụi giụi, chớc giấc, chiếng giếng, chon giòn, chừ giờ, chự giữ, láng chiềng láng giềng. [VX Trang 1997: 232, 233, 234, 248]. Ss với các đối ứng: cɨəŋ² (Mường), kcə̀ːŋ² (Sách) [Michaud 2009: 6]. Ngữ tố xuất hiện trong các câu thơ sáu chữ, kiểu tái lập: *kcə̀ŋ². Đối ứng s- (AHV) gi- (THV), như 殺 sát giết, 讒 sàm gièm, 雛 sồ giò (gà-), 蒭 sô giò (nhánh lúa), 牀 sàng- giường [Huệ Thiên 2004: 235].
dt. đồ nằm nghỉ. Chường thiền định hùm nằm chực. (Thuật hứng 64.3), dịch chữ thiền sàng 禪床.
dt. <từ cổ> bàn thờ. “giường thờ: quidam lectus in quo defunctis majoribus offerenda reponunt” [Taberd 1838: 180], “giầng thờ: altare ethnicorum” [Taberd 1838: 500]. Tráu sưa sưa hai cụm trúc, chường tấp tấp một nồi hương. (Tức sự 126.2).
chẳng 庒 / 庄 / 拯
p. phủ định từ. Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, góc thành nam, lều một căn. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.1, 15.7, 17.8, 18.8, 19.8, 20.2, 22.1, 22.7)‖ (Mạn thuật 24.2, 24.6, 25.4, 25.8, 36.8)‖ (Trần tình 38.1, 40.2)‖ (Thuật hứng 47.6, 50.1, 52.2, 57.8, 59.6, 60.3, 61.5, 62.7, 64.8, 67.5)‖ (Tự thán 74.5, 77.1, 82.8, 83.7, 84.2, 84.7, 85.2, 87.5, 95.5, 96.3, 97.2, 99.8, 105.1, 106.8, 116.7, 117.2, 118.7, 119.8, 121.2)‖ (Tự giới 127.8)‖ (Bảo kính 128.4, 128.7, 129.1, 132.8, 133.2, 136.5, 137.7, 143.1, 146.2, 147.8, 153.7, 155.2, 155.8, 157.1, 157.7, 158.8, 161.4, 162.7, 166.2, 167.7, 171.3, 171.6, 172.8, 175.3, 176.8, 179.7, 180.1, 180.3, 186.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.6)‖ (Trừ tịch 194.7)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ (Tích cảnh thi 209.2, 211.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.7)‖ (Lão mai 215.2, 215.6)‖ (Cúc 216.6)‖ (Tùng 218.1, 219.3)‖ (Trúc thi 221.4)‖ (Mai thi 224.1, 226.4)‖ (Hoa mẫu đơn 233.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Cúc 240.1)‖ (Mộc hoa 241.4)‖ (Liên hoa 243.1)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Trường an 246.1)‖ (Miêu 251.4)‖ (Trư 252.6)‖ (Thái cầu 253.1).
chứa 貯
AHV: trữ. Âm THV (Early Sino Vietnamese) PJ Duong 2013: 143].
đgt. đựng. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.5)‖ Bẻ chứa mây. (Mạn thuật 28.4)‖ (Tự thán 72.8).
chừa 除
◎ Đọc âm HHV. AHV: trừ.
đgt. bỏ, tránh. Kim ngân ấy của người cùng muốn, tửu sắc là nơi nghiệp há chừa? (Bảo kính 179.4). Tiếng Việt hiện còn bảo lưu trong các ngữ “chết vẫn không chừa”, “chừa cái mặt tao ra”, và “chừa” để mắng trẻ con.
cuốc 󱃨 / 掬
◎ Phạm Đình Hổ ghi “Cúc (鞠) là cuốc.” [1827: 24b], có lẽ là nhầm, vì 鞠 nghĩa là quả bóng da. Ss đối ứng kuək (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203]. Đây là từ Việt-Mường.
dt. nông cụ có lưỡi sắt tra vào cán. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.3, 13.6)‖ (Thuật hứng 48.1).
đgt. dùng cái cày để làm đất. Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khoẻ, tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu. (Trần tình 43.7)
cày ăn đào uống 𦓿咹淘㕵
đgt. <Nho> tự cày mà ăn, tự đào giếng mà uống, dịch câu tạc tỉnh nhi ẩm canh điền nhi thực (鑿井而飲耕田而食), trỏ cuộc sống tự cung tự cấp của ẩn sĩ. Cày ăn đào uống yên đòi phận, sự thế chăng hay đã Hán Tần. (Tự thán 102.7)‖ (Bảo kính 129.7). x. tạc tỉnh canh điền.
cáo 𤞺
◎ Ss đối ứng: kaw (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 186].
dt. con cáo. Chim có miệng kêu, âu lại ngậm, cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ. (Tự thán 108.4). Chưa rõ điển tích.
Cô Dịch 姑射
dt. tên núi tại huyện Lân Phân tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Sách Trang Tử thiên Tiêu diêu du có đoạn: “thấy núi Cô Dịch có thần nhân ở đó, da như băng tuyết, yểu điệu như gái chưa chồng, không ăn ngũ cốc, hớp gió uống sương. Cưỡi khí mây, ngồi rồng lượn mà chơi ngoài bốn bể. Khi thần khí tụ lại khiến muôn vật không bị bệnh tật mà mùa màng bội thu.” (藐姑射之山,有神人居焉,肌膚若冰雪,淖約若處子,不食五穀,吸風飲露。乘雲氣,御飛龍,而遊乎四海之外。其神凝,使物不疵癘而年穀熟). Thơ văn đời sau thường lấy Cô Dịch làm biểu tượng cho người đẹp có phẩm cách cao khiết hay trỏ chung cho thần tiên. Vương Chu đời Ngũ Đại trong bài Đại thạch linh dịch mai hoa có câu: “Cõi tiên Cô Dịch đón Dao Cơ, hoá trận thanh hương ấp ngả mờ.” (仙中姑射接瑶姬,成陣清香擁路岐 tiên trung Cô Dịch tiếp Dao Cơ, thành trận thanh hương dụng lộ kỳ). Tô Thức có câu: “Bên bờ biển gặp nàng Cô Dịch, khẽ nghiêng chào miệng chúm chím hoa.” (海邊逢姑射,一笑微俯首). Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch, kề nước cầm đưa tiếng cửu cao. (Mạn thuật 35.3)‖ (Mai 214.3)‖ (Lão mai 215.3).
cùng 共
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003c: 179]. AHV: cộng.
đgt. từ biểu thị hành động liên hợp, hợp tác của nhiều đối tượng. Bậu bạn cùng nhau nghĩa chớ vong, người kia phú quý nỡ quên lòng? (Bảo kính 178.1) ‖ (Bảo kính 180.3.
p. <từ cổ> và. Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.1, 10.1, 13.4)‖ (Thuật hứng 46.7, 54.8, 57.6)‖ (Tự thán 74.1, 76.6, 104.4).
p. <từ cổ> với. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 11.8)‖ (Mạn thuật 23.7)‖ (Tự thán 96.3, 101.7, 106.5, 109.5, 111.4)‖ (Tự thuật 118.3)‖ (Tức sự 126.4)‖ (Bảo kính 132.2, 145.7, 148.5, 150.8, 151.2)‖ (Tích cảnh thi 208.4)‖ (Cam đường 245.2).
p. <từ cổ> hay. Vận trị cùng loàn, chỉn mặc thì, bằng ta sinh uổng có làm chi. (Tự thán 100.1)‖ (Tức sự 126.7)‖ (Bảo kính 141.3, 186.7)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.7).
p. <từ cổ> đều. Ở thế dịn nhau muôn sự đẹp, cương nhu cùng biết hết hai bên. (Bảo kính 142.8, 179.3, 182.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.2)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.2)‖ (Cúc 216.7).
cúc 菊
◎ Ss đối ứng kuk³ (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. hoa quân tử, biểu tượng cho ẩn sĩ. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.6, 17.5, 22.4)‖ Cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.6)‖ (Thuật hứng 48.2)‖ Bạc cúc. (Thuật hứng 49.8, 50.2, 52.5, 60.5)‖ (Tự thán 71.3, 75.3, 83.4)‖ (Tự thuật 115.3)‖ (Bảo kính 129.4, 157.6, 164.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.4).
cũng 拱 / 共
◎ Ss đối ứng kuŋ (10 thổ ngữ Mường), i (19 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
p. từ biểu thị sự tương đồng về tính chất, hành vi giữa các sự việc. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.8)‖ Nẻo xưa nay cũng một đường, đây xốc xốc nẻo tam cương. (Tự thán 93.1).
p. <từ cổ> đều, đều là. Tuy rằng bốn bể cũng anh tam, có kẻ hiền lành, có kẻ phàm. (Bảo kính 174.1)‖ (Tích cảnh thi 211.1)‖ (Đào hoa thi 229.4)‖ (Trúc thi 221.1).
cơ 機
AHV: ki, kê.
dt. <từ cổ> mưu, mưu tính trong cơ mưu (cơ = mưu), nghĩa này hô ứng với chữ “toan”. Thua được toan chi Hán Sở, nên chăng đành lẽ kiện Thương Chu. (Thuật hứng 58.3). Chuyện thua hay được thì tính toán làm chi đến cái mưu của hán của sở; thành hay bại cũng đành thuận theo việc nhà Chu thay nhà Thương.
cạn 乾
◎ Nôm: 𣴓 AHV: can. Âm cạn là âm PHV. Đồng nguyên với chữ hạn 旱, lưu tích âm này còn thấy trong thanh phù can 干. 旱 và 乾 là các đồng nguyên tự, lần lượt được tái lập là: kan , *kân và ganᴮ, *gân? [Schuessler 1988: 249]. Chuỗi đồng nguyên: hạn - khan - khàn - cạn. Ss đối ứng: kan (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
tt. nông (do rút bớt lượng nước). Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5)‖ (Thuật hứng 69.3)‖ (Tự thán 109.3)‖ (Bảo kính 153.5).
cấy cày 𦔙𦓿
đgt. trỏ việc làm ruộng nói chung. “cay cay: aratrum” [Morrone 1838: 203]. Ở yên thì nữa lòng xung đột, ăn lộc đều ơn kẻ cấy cày. (Bảo kính 146.4). ưu sừ: cày cấy phải thì (CNNA 30a).
cốt nhục 骨肉
dt. xương thịt, trỏ mối quan hệ huyết thống. Văn Vương thế tử ghi: “Tình thân cốt nhục chớ có đoạn tuyệt.” (骨肉之親無絕也). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).
cội rễ 檜𣑶
dt. gốc và rễ. Cội rễ bền dời chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3).
của chăng phải đạo 𧵑拯沛道
đc. của cải chiếm được nhưng không đúng theo đạo. Của chăng phải đạo, làm chi nữa, muôn kiếp nào hề luỵ đến thân. (Bảo kính 184.8). Luận Ngữ thiên Lí nhân có câu: “phú và quý là cái mà ai chẳng muốn, nhưng chiếm được một cách phi đạo thì ta chẳng làm” (富與貴是人之所欲也,不以其道得之,不處也 phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã).
của cải 𧵑改
dt. tài sản. Yêu chuộng người dưng là của cải, thương vì thân thích nghĩa chân tay. (Bảo kính 145.3). phú thuyền: của cải ắp đầy (CNNA 28b).
cứng 勁
AHV: kính, ngạnh. cứng có các đồng nguyên tự: kính 勁 (cứng cỏi, trỏ sức lực), cương 剛 (cứng bền của lưỡi dao, cương trực), cứng 硬 (cứng, về đá) [xem TT Dương 2011b]. Ss đối ứng kɯŋ (26 thổ ngữ Mường), krɔŋ [NV Tài 2005: 204]. Như vậy, “cứng” là từ hán Việt-Mường, dạng có kr- là gốc Nam Á.
tt. trái với mềm. Non cao non thấp mây thuộc, cây cứng cây mềm gió hay. (Mạn thuật 26.4)‖ (Tự thán 93.5)‖ (Bảo kính 131.5)‖ (Trư 252.1).
tt. cứng cỏi, có khí tiết, dịch chữ kính tiết 勁節, thường lấy đốt trúc cứng để ví. Trúc Tưởng Hủ nên thêm tiết cứng, Mai Lâm Bô đâm được câu thần. (Tự thán 81.3)‖ (Tích cảnh thi 200.1)‖ (Trúc thi 222.4, 223.1).
cứng lông 勁𬖅
dt. con lợn, dịch chữ cang liệp 剛鬛 (lông cứng). Sách Khúc Lễ ghi: “Trâu gọi là nhất nguyên đại vũ, lợn gọi là cang liệp, cừu gọi là nhu mao, gà gọi là hàn âm.” (牛曰一元大武豕曰剛鬛羊曰柔毛雞曰翰音). Dài hàm nhọn mũi cứng lông, được dưỡng vì chưng có thửa dùng. (Trư 252.1). Tác giả chủ ý chơi chữ, dùng các danh từ hán dịch sang tiếng Việt theo nghĩa đen, để tả về hình dáng con lợn. x. dài hàm nhọn mũi.
cửa mận tường đào 𨴦槾墻桃
đc.<Nho> Địch Nhân Kiệt (607- 700) là tể tướng đời Đường, nổi tiếng chính trực dưới triều võ tắc thiên, ông có công tiến cử nhiều nhân sĩ tài danh đương thời cho triều đình. Môn khách lúc nào cũng chật cửa. Cho nên mới có câu: “Đào lý trong thiên hạ đều ở trong cửa nhà ông.” (天下桃李悉在公門 thiên hạ đào lý tất tại công môn). Lý Bạch trong bài Xuân dạ yến đào lý viên tự có câu: “Anh tài tuấn tú như Tạ Huệ Liên.” (桃李俊秀皆如惠蓮). cửa mận tường đào trỏ nơi tụ họp, chiêu đãi, trọng dụng kẻ sĩ, hay trỏ chốn quan trường nói chung. Trúc mai bạn cũ họp nhau quen, cửa mận tường đào chân ngại chen. (Thuật hứng 46.2).
cửa nhà 𬮌茹
dt. nhà ở nói chung. Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.3)‖ (Thuật hứng 55.6)‖ (Bảo kính 143.4)‖ (Giới nộ 191.4)
cửa song 𬮌牕
dt. cửa sổ. Cửa song dãi, xâm hơi nắng, tiếng vượn kêu, vang cách non. (Ngôn chí 21.3). song: từ gốc Hán, sổ :từ gốc Việt.
duyên 緣
dt. yếu tố thiên định không thể khác được. Đã mấy thu nay để lệ nhà, duyên nào đeo đẳng khó chăng tha. (Ngôn chí 8.2, 12.4)‖ (Thuật hứng 53.1, 54.5)‖ (Tự thán 74.1, 103.2)‖ (Bảo kính 143.2).
dài 𨱽 / 曵
◎ Ss đối ứng zaj (25 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 204].
tt. trái với ngắn. Dài hàm nhọn mũi cứng lông. (Trư 252.1). x. dài hàm.
tt. lâu (thời gian), lưu tích còn trong từ Dài lâu. (Tự thán 84.4, 91.6, 92.8)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1).
tt. trong vắn dài, trỏ sự khó lường. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6).
dưng dưng 仍仍
đgt. <từ cổ> không màng đến. “dưng dưng tlaõ tlàõ: trơ trơ, không động trong lòng” [Rhodes 1651: 78]. “dung dung: sonitus tormentorum” [Morrone 1838: 242]. “dửng dưng: bảng lảng không biết tới nhau” [Paulus của 1895: 250]. Dưng dưng sự thế biếng đôi tranh, dầu mặc chê khen, mặc dữ lành. (Bảo kính 169.1). Giàu chẳng kịp, khó còn bằng, danh lợi lòng đà ắt dưng dưng. (Tự thán 77.2)‖ (Tích cảnh 209.4)‖ (Trúc thi 222.3).
dương tràng 羊腸
dt. đường ruột dê, trỏ đường độc đạo nhỏ, dài và ngoằn ngoèo. Đỗ Phủ trong bài Hỉ văn quan quân dĩ lâm tặc cảnh có câu: “Đường ruột dê hiểm hút, mây ngang đuôi trĩ cao.” (路失羊腸險,雲横雉尾高 lộ thất dương tràng hiểm, vân hoành trĩ vĩ cao). Dương tràng đường hiểm khúc co que, quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe. (Tự thán 73.1).
dầm 淫
dâm: nghĩa gốc là bị thấm nước, ướt quá độ. dâm vũ (淫雨/霪雨): mưa nhiều ngày liền không dứt, lưu tích còn trong từ mưa dầm.
tt. <từ cổ> ướt nước. Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm, bén phải Đông Hoa bụi bụi xâm. (Tự thuật 119.1).
dể duôi 易唯
◎ Phiên khác: rạch ròi (TVG), rẻ roi (ĐDA). Như vậy, “dể” gốc Hán, “duôi” có khả năng là gốc Việt, nhưng hiện chưa tìm thấy đối ứng.
đgt. <từ cổ> khinh miệt [Rhodes 1651 tb1994: 73], “khinh de duoi” [Morrone 1838: 228], khinh dể [Paulus của 1895: 228]. Bạn tác dể duôi đà phải chịu, anh em trách lóc ấy khôn từ. (Bảo kính 180.5). dể duôi cha mẹ [Rhodes 1651 tb1994: 73], …chịu khốn chịu khó người ta dể duôi, cho đến già cả… (phép giảng tám ngày: 127).
dễ 易
◎ Đọc âm HHV. AHV: dị
tt. trái với khó. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5, 20.8) ‖ (Mạn thuật 36.5)‖ (Thuật hứng 49.5)‖ (Tự thán 84.3, 87.3, 89.8, 91.8, 93.6, 106.3)‖ (Bảo kính 142.6, 162.5)‖ (Tích cảnh thi 201.3, 203.4)‖ (Đào hoa thi 227.4).
giang san 江山
dt. núi sông. (Ngôn chí 19.5)‖ Tham nhàn lánh đến giang san, ngày vắng xem chơi sách một an. (Ngôn chí 17.1)‖ (Thuật hứng 63.6)‖ (Tự thán 72.8, 77.5, 94.5, 95.1)‖ (Trần tình 41.5).
giới nộ 戒怒
dt. tên bài số 191. Giới nộ nghĩa là răn dè về việc tức giận. Vì mải đua khí huyết sẽ làm con người ta quên nhân nghĩa, làm mất lòng người, làm tan nát gia đình, làm ảnh hưởng đến hoà khí. Nếu không biết nhẫn nhịn thì ăn năn cũng không kịp nếu biết nhịn thì mọi sự sẽ suôn sẻ.
giới sắc 戒色
dt. tên bài số 190 trong QATT. Giới sắc nghĩa là răn dè chuyện thanh sắc, chuyện nữ giới. Ông quan niệm, “sắc là giặc”, là cái đã làm từng làm cho triều đại của vua trụ, vua ngô sụp đổ, là cái làm cho “bại tan gia thất”, làm cho con người “tổn hai tinh thần”. Quan trọng là phải giữ được đạo vợ chồng, vì đó là đầu mối “tạo đoan” trong luân thường đạo lý.
gác Đông 閣東
dt. <Nho> dịch chữ đông các 東閣, là một tên gọi của hoa mai. TVG cho rằng “đông các là cái lầu chiêu hiền ở đời Hán. Nhà thơ Đỗ Phủ đời Đường khi làm quan ở đông các có làm câu thơ: “Ở Đông Các ngắm hoa mai động thi hứng.” (東閣觀梅動詩興 đông các quan mai động thi hứng) [theo TVG, Schneider cho rằng: “Đây là cơ quan thuộc Hàn Lâm viện, nơi Nguyễn Trãi làm việc”. Tuy nhiên, theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí Quan chức chí, dưới triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông không có cơ quan đông các cũng như chức vụ đông các ở trong Hàn Lâm viện, mà phải đến năm 1471 mới có. Như vậy thuyết của TVG là không ổn. Theo Chỉ Nam ngọc âm môn hoa loại có ghi: “Trạng nguyên: hoa quế; đông các: hoa mai”. Có thể hiểu là: “hoa mai thực đã từng làm khách của nhà thơ, chứ đâu chỉ có kết bạn với mỗi mình với tiên Lâm Bô ” [theo PL 2012: 349]. Gác Đông ắt đã từng làm khách, há những bô tiên kết bạn chơi. (Mai thi 224.3). ở đây, rõ ràng nhà thơ đang chơi chữ, bài tả về hoa mai, nên câu nào cũng có điển về mai. Dùng chữ “gác Đông” ấy chính là trỏ đích danh hoa mai, nhưng lại muốn ẩn cái tên đó đi, mà uyển chuyển nói rằng, loài hoa này từng làm khách ở gác Đông, với hàm ý một loài hoa quý được trồng ở những nơi lầu sảnh quan trọng, tức là vừa trỏ cái cốt cách của hoa, cũng là trỏ cái sở dụng của hoa.
gái 丐
dt. x. cái.
gạch 甓
◎ 󰍮, tục tự của bích 甓 (gạch), là chữ Nôm đọc nghĩa, chữ này đồng nguyên với bích 壁 (vách: cái xây bằng gạch). Kiểu tái lập: ?gak⁶ (a- gạch). Về ?g- [xem HT Ngọ 1999: 58, 61, 111, 114, 115]. Shimizu Masaaki cho rằng các ví dụ gày, gõ thuộc cấu trúc song âm tiết [2002: 768]. “gạch” (với *?g-) chuẩn đối với “sừng” (với *kr-) và đều được song tiết hoá.
dt. viên đất nung dùng để xây nhà. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3). Các bản khác đều phiên “gạch quẳng”, cho là điển “phao chuyên dẫn ngọc 拋磚引玉 (ném gạch ra để dẫn dụ ngọc đến) để nói về chuyện làm thơ [cụ thể xem TT Dương 2013c]. ở đây phiên “gạch khoảng nào bày với ngọc” dẫn điển 瓦玉集糅 (ngoã ngọc tập nhu) tương đương với thành ngữ “vàng thau lẫn lộn” trong tiếng Việt. Vương Sung đời Hán trong sách Luận Hành viết: “Hư vọng lại mạnh hơn chân thực, quả là loạn trong đời loạn, người chẳng biết đâu phải đâu trái, chẳng phân biệt màu đỏ màu tía, chung chạ bừa bãi, gạch ngói chất bừa, ta lấy tâm ta mà nói về những chuyện đó, há lòng ta có thể chịu được chăng?’” (虛妄顯於真實誠亂於偽世人不悟是非不定紫朱雜厠瓦玉集糅以情言之豈吾心所能忍哉). Nguyễn Trãi đã dùng thành ngữ này để đối với một thành ngữ khác ở câu dưới là “sừng mọc quá tai”, thành ngữ sau là một thành ngữ thuần Việt, gần nghĩa như câu hậu sinh khả úy. x. khoảng.
hay nữa 咍女
ht. đi chăng nữa. Đông phong ắt có tình hay nữa, kín tịn mùi hương dễ động người. (Đào hoa thi 227.3).
hiếu 孝
dt. đạo của con cái đối với cha mẹ. (Ngôn chí 10.6)‖ Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.7).
hung hăng 凶興
tt. “muốn làm dữ” [Paulus của 1895: 454], “hung hăng: violentè” [Taberd 1838: 213]. Nén lấy hung hăng bề huyết khí, tai nàn chẳng phải, lại thung dung. (Tự giới 127.7).
Hy Dịch 羲易
dt. tức Chu Dịch, vì Phục Hy viết ra bát quái trong sách này nên gọi vậy. Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc phong. (Bảo kính 178.3).
Hán Tần 漢秦
đc. theo Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm ghi chuyện người dân ở nguồn Đào hoa nói : “Đời trước tránh loạn nhà tần, đem vợ con và người trong ấp đến tuyệt cảnh này, chẳng ra nữa, cách ly hẳn với người ngoài, hỏi nay thuộc đời nào, thì chẳng biết đến nhà Hán, huống chi bàn đến nhà Nguỵ nhà Tấn.” (自云先世避秦時亂,率妻子邑人來此絕境,不復出焉,遂與外人間隔。問今是何世,乃不知有漢,無論魏晉). Cày ăn đào uống yên đòi phận, sự thế chăng hay đã Hán Tần. (Tự thán 102.8).
Hải Nhược 海若
dt. thần biển, theo bài Viễn Du trong Sở Từ. Hải Nhược chiết nên cành quế tử, Giang Phi chiếm được chước thiềm cung. (Thuỷ trung nguyệt 212.3)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.3).
hải đường 海棠
dt. loại thực vật lá hình trứng, sắc hoa hồng hoặc bạch. Là loại hoa biểu tượng cho sự phú quý. Một thân hoà tốt lại sang, phú quý âu chăng kém hải đường. (Hoa mẫu đơn 233.2).
hận 恨
◎ Sách Thuyết Văn ghi: hận: oán cực độ” (一曰怨之極也). Còn có nghĩa nữa là “hối hận.
tt. hờn. Chớ đua huyết khí nên hận, làm trật lòng người những lo. (Bảo kính 176.5).
hằng 恒
p. tt. <từ cổ> thường, luôn, mãi. Liêm, cần tiết cả tua hằng nắm, trung, hiếu niềm xưa mựa nỡ dời. (Ngôn chí 10.5, 12.3, 16.6, 18.3)‖ (Mạn thuật 24.3)‖ (Trần tình 38.3)‖ của hằng: dịch chữ hằng sản. (Tự thán 77.6, 92.4)‖ (Bảo kính 130.1, 133.7, 139.2, 139.5, 150.3, 184.4). x. sản hằng.
hằng lề 恒例
dt. thói thường, dịch chữ thường lệ 常例 (lệ thường, quy tắc thường thấy, quen dùng). Sách Bắc Tề Thư ghi: “Tài cao chẳng theo lệ thường” (才高不依常例). Chàu người họp, khó người tan, hai ấy hằng lề sự thế gian. (Bảo kính 139.2).
khen chê 㗂吱
đgt. bình luận, bao biếm. Tài lọn, công danh hợp mọi bề, dại ngây nên thiếu kẻ khen chê. (Bảo kính 141.2).
khuôn 框
◎ Nôm: 囷 / 困 AHV: khuông.
dt. cái khung định sẵn. Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều thì rập khuôn. (Bảo kính 148.2).
đgt. <từ cổ> rập khuôn theo, nghĩa dẫn thân là hạn định trong một khung khổ nào đó. Rồi việc mới hay khuôn được thú, khỏi quyền đã kẻo luỵ chưng danh. (Bảo kính 156.3)‖ (Liên hoa 243.2).
khá 可
AHV: khả.
đgt. <từ cổ> có thể, (khả năng). Thân đà hết luỵ, thân nên nhẹ, Bụt ấy là lòng, Bụt khá cầu. (Mạn thuật 30.6)‖ (Thuật hứng 47.1)‖ (Tự thán 72.6, 87.8)‖ (Bảo kính 183.1, 183.7)‖ (Cúc 217.6, 217.8)‖ (Đào hoa 232.4).
đgt. <từ cổ> hãy. Ở thế thì cho ta những thiệt, khoe mình khá chịu miệng rằng lành. (Tự thuật 113.6)‖ (Bảo kính 186.6, 137.6).
khách đăm chiêu 客󰝡招
dt. <từ cổ> bề tôi thân cận, dịch chữ tả hữu 左右. Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ chuộng yêu? (Bảo kính 135.1).
khánh 磬
dt. nhạc khí cổ thuộc bộ gõ, thường làm bằng một phiến đá liền, có khung giá để treo, phía nên có một lỗ quai xỏ, phần dưới hình bán nguyệt. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.6). chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre. cd x. nhà bằng khánh.
kháo 巧
◎ Nôm: 窖 / 呌 Đọc theo âm THV. AHV: xảo. “kháo. khôn kháo: khôn ngoan, khôn khéo. kháo lắm: rất khôn ngoan… khôn kháo, khôn ngoan: cùng một nghĩa.” [Rhodes 1651 tb1994: 125]. ”khôn kháo: khôn” [Béhaine 1773: 220], ”khôn kháo: tiếng nước đôi chỉ nghĩa là khôn. khôn kháo ráo rẻ: khôn ngoan lanh lợi (thường nói về lời nói). ăn nói khước kháo: …ăn nói thông suốt…” [Paulus của 1895: 481]. Cuối thế kỷ XIX, chữ khéo đã phổ dụng [Paulus của 1895: 485]. (AHV: cáo, thanh phù: cáo 告). Quá trình Việt hoá: xảo > kháo > khéo.
tt. <từ cổ> khéo léo. Hay văn hay vũ thì dùng đến, Chẳng đã khôn ngay kháo đầy. (Mạn thuật 25.8). Nhân nghĩa trung cần chử tích ninh, Khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2), Thế tình kháo uốn vuỗn bằng câu, Đòi phận mà yên há thửa cầu? (Bảo kính 162.1)‖ Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật, Trăm kháo nào qua chước kháo đầy. (Bảo kính 171.4)‖ Nhiều khôn, nhiều khó, lo cho nhọc, Chẳng đã khôn ngay kháo đầy. (Bảo kính 172.8)‖ Bút thiêng Ma Cật, tay khôn mạc, Câu kháo Huyền Huy, ý chửa đông. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.6)‖ Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, Cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.1)‖ Động người hoa kháo tỏ tinh thần, Ắt bởi vì hoa ắt bởi xuân. (Đào hoa thi 228.1)‖ Nước dẫy triều cường, cuối bãi đầy, Làm “kỳ”, “chính” kháo nên bầy. (Nhạn trận 249.2)‖ Nội hoa táp táp vây đòi hỏi, Doanh liễu khoan khoan kháo lữa lần. (Điệp trận 250.4).
khê 溪
tt. (cơm) bị quá lửa, nên cháy sém hay hoá than, có mùi khét. “cơm khê. id” [Taberd 1838: 226]. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.4). Cơm sôi cả lửa thì khê. (ca dao 36).
khêu 挑
◎ Nôm: 拞 AHV: khiêu, đọc theo âm HHV .
đgt. khơi bấc thắp đèn, 挑火 khiêu hoả (khêu lửa), 挑刺 khiêu thứ (khêu dằm), 挑燈亱讀 khiêu đăng dạ độc (khêu đèn đọc sách ban đêm). Dũ Ngạc trong bài Đảo nam tạp thi viết: “rả rích mưa mùa lúc lo âu, nửa đêm khêu bấc đọc ly tao.” (蠻蠻蕭雨正鬱陶,挑燈夜半讀《離騷》 man man tiêu vũ chính uất đào, khiêu đăng dạ bán độc ly tao). (Thuật hứng 67.4)‖ Lặt hoa tàn, xem ngọc rụng, soi nguyệt xủ, kẻo đèn khêu. (Tự thán 105.6).
khóm 坎
dt. <từ cổ> khoảnh, khoảng không gian rộng [NH Vĩ 2010]. “đồng nhất khóm nhị sào” [bia 07208 năm 1487]. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1)‖ Khóm ruộng. (Bảo kính 150.7)‖ Thương Lang mấy khóm. (Ngôn chí 19.1)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.5). khóm đất, khóm ruộng, khóm nước, khóm Thương LangLàu làu muôn khóm pha lê (thuý sơn, 1), Thức xuân rước gió như cười, chòm thanh khóm dật khác vời chân du (Mai đình mộng ký, c. 153). x. cụm.
khảy 快
◎ (khoái). Kh- khu iv tương ứng với g- bắc bộ ngày nay: khải (gãi), khỏ (gõ), khảy (gảy) [NT Cẩn 1997: 89]. Khảo dị: bản B ghi 掛 (quải). Phiên khác: quẩy, quảy: vác trên vai (TVG, ĐDA, PL), khoái: nước cờ hay (BVN). gảy, gẩy.
đgt. <từ cổ> gảy, “khảy: lấy móng tay, đầu ngón tay mà đánh nhẹ nhẹ” [Paulus của 1895: 478], trỏ việc đánh cờ., khác với nay chủ yếu dùng việc chơi các nhạc cụ bộ dây. Con cờ khảy, rượu đầy bầu, đòi nước non chơi quản dầu. (Trần tình 41.1).
kiếp 刼
刼 = 劫, dt. <Phật> một đời người. Nước mấy trăm thu còn vậy, nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay. (Mạn thuật 26.6)‖ (Thuật hứng 55.3)‖ (Tự thán 87.2)‖ (Tự thuật 112.3)‖ (Bảo kính 182.1, 184.8, 188.2).
liễu 柳
dt. cây thân gỗ, cành lả, lá dài, thường được dùng làm biểu tượng cho mùa xuân và người đẹp (Bảo kính 157.3)‖ (Tảo xuân 193.3)‖ (Tích cảnh thi 200.2, 206.1)‖ (Trúc thi 221.1)‖ Nội hoa táp táp vây đòi hỏi, doanh liễu khoan khoan kháo lữa lần. (Điệp trận 250.4)‖ (Thái cầu 253.5).
luỹ 壘
dt. bờ tường, bờ thành. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). Đây trỏ việc ong xây tổ. Vì đang nói đến “trận” của loài bướm nên dùng chữ “luỹ” để hô ứng, đây là thủ pháp chơi chữ hay thấy của Nguyễn Trãi.
ly tao 離騷
dt. tên tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Khuất Nguyên. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8).
là 羅
đgt. động từ quan hệ (hệ từ). Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu, miễn phỏng dạng đạo tiên nho. (Ngôn chí 3.2, 13.8, 17.8)‖ (Mạn thuật 24.2, 24.7, 30.6, 31.7)‖ (Trần tình 38.6 39.8)‖ (Thuật hứng 48.5, 53.6, 60.8)‖ (Tự thán 74.5, 81.5, 83.5, 88.8, 91.7, 93.5, 95.2, 99.7)‖ (Tự thuật 115.1)‖ (Tức sự 124.7)‖ (Bảo kính 131.5, 145.3, 149.1, 158.5, 163.4, 177.7, 178.6, 179.4, 179.7, 186.8, 190.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.5)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.4)‖ (Mai 214.4)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Dương 247.4).
làm 爫 / 𬈋 / 濫
◎ Ss đối ứng la (19 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 234].
đgt. thực hiện. Có mống, tự nhiên lại có cây, sự làm vướng vất, ắt còn chầy. (Mạn thuật 25.2)‖ (Thuật hứng 47.1)‖ Làm lành mới cậy chớ làm dữ, có đức thì hơn nữa có tài. (Tự thán 92.5, 98.8)‖ làm lành: dịch chữ vi thiện 為善 (Tự thán 99.8)‖ (Bảo kính 147.5, 149.5, 171.1, 173.7, 176.7, 177.5, 183.7)‖ (Nhạn trận 249.2).
đgt. làm cá thể xã hội trong tương quan với những cá thể xã hội khác. Làm con. (Ngôn chí 2.8)‖ Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8, 6.1)‖ Làm cái con (Ngôn chí 21.8)‖ (Mạn thuật 33.8)‖ (Trần tình 44.7)‖ (Thuật hứng 50.2, 53.1, 61.5)‖ (Tự thán 80.5, 89.4, 91.1, 95.1, 109.2, 109.3)‖ (Tự thuật 118.5)‖ (Tức sự 126.8)‖ (Tự giới 127.1)‖ (Bảo kính 167.1)‖ (Tùng 218.3)‖ (Mai thi 224.3)‖ (Thiên tuế thụ 235.3)‖ (Điệp trận 250.1)‖ (Thái cầu 253.2).
đgt. tạo ra vật dụng. Vầu làm chèo , trúc làm nhà, được thú vui ngày tháng qua. (Trần tình 39.1).
đgt. lấy làm, coi là. Buồng văn tấp cửa lọn ngày thu, đèn sách nhàn làm song viết nhu (nho). (Thuật hứng 58.2)‖ (Tự thán 111.5)‖ (Bảo kính 133.7, 135.4, 142.4, 152.3, 163.5, 184.3)‖ (Liên hoa 243.4).
đgt. tỏ ra, làm ra vẻ. Cưu lòng nhụ tử làm thơ dại, ca khúc Thương Lang biết trọc thanh. (Tự thán 96.5).
đgt. thành. Ai thấy rằng cười là thế thái, ghê thay biến bạc làm đen. (Tức sự 124.8).
đgt. lao động, làm lụng. Tay ai thì lại làm nuôi miệng, làm biếng ngồi ăn lở núi non. (Bảo kính 149.7), Ss tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ. Tng. có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho. cd‖ (Bảo kính 173.4, 174.4)‖ (Huấn Nam Tử 192.8)‖ (Miêu 251.6).
đgt. gây ra, tạo ra. Xa hoa ở quãng nên khó, tranh cạnh làm hờn bởi tham. (Bảo kính 174.6, 176.6).
lành 令
◎ Nôm: 冷 AHV: lịnh, lệnh. Nghĩa gốc là “đẹp” trỏ nhan sắc, dịch chữ lệnh sắc (Luận Ngữ).
tt. đẹp (thời gian, thời tiết), như lệnh nhật (ngày lành), lệnh nguyệt, lệnh niên, lệnh thời. Ngày khác hay đâu còn việc khác, tiết lành mựa nỡ để cho qua. (Quy Côn Sơn 189.8)‖ Tiếc thiếu niên qua trật hẹn lành, hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình. (Tích cảnh thi 202.1)‖ Hoa nguyệt đôn dùng mấy phút lành. (Tích cảnh 207.4).
tt. tốt tươi (cây cối). Mống lành nẩy nẩy bãi hoè trồng, một phút xuân qua một phút trông. (Hoè 244.1).
tt. tốt, hay. Đất dư dưỡng được khóm hoàng tinh, cấu phương lành để dưỡng mình. (Hoàng tinh 234.2).
tt. (đạo đức) tốt. Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.1, 177.8).
tt. ngon. Bánh lành trong lá ghe người thấy. (Bảo kính 172.3).
tt. <kính>, thường dùng tỏ ý tôn kính, trang trọng như lệnh huynh, lệnh nữ, lệnh đức trong hán văn. Vàng bạc nhà chăng có mỗ phân, lành thay cơm cám được no ăn. (Trần tình 38.2)‖ Bà ngựa dầu lành. (Tự thuật 114.3)‖ Ngọc lành. (Tự thuật 116.3).
tt. dịch chữ thiện 善. Ở thế đấng nào là của trọng, vui chẳng đã đạo làm lành. (Tự thán 99.8, 111.4)‖ (Tự thuật 113.6).
tt. trái với dữ, ác. Sự thế dữ lành ai hỏi đến, bảo rằng ông đã điếc hai tai (Ngôn chí 6.7)‖ (Thuật hứng 48.7, 69.2)‖ (Tự thán 92.5)‖ (Bảo kính 147.1, 147.5).
lão mai 老梅
dt. cây mai già, mai cổ thụ. Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc, lão mai sá học nết người thanh. (Tự thán 86.4).
lòn 論
◎ Bắt vần với: tròn, mòn, non, con. Các bản khác đều phiên theo âm hiện nay là “luồn”.
đgt. <từ cổ> vươn qua các khoảng hẹp “lòn qua: cúi đầu đi qua” [Rhodes 1651]. Dấu người đi la đá mòn, đường hoa vướng vất trúc lòn. (Ngôn chí 21.2).
lòng 腸
◎ Nôm: 𢚸 AHV: tràng, trường (ruột, lõi, nhân bên trong). tròng = lòng, lòng trắng, tròng mắt, áp tròng. “tlão tlứng: lòng trắng trứng” [Rhodes 1651 tb1994: 231]. Xem thêm [Huệ Thiên: 415]. *tlaòng >rụng tiền tố [t-] >lòng, *tlaòng > hoà đúc > tròng. tlaòng là âm HHVH của giai đoạn xvii trở về trước. lòng được ghi bằng 車󱗲, kiểu tái lập *klaòng, ngữ cảnh: lòng nết chăng hay tối mò chăng lo áng nạ có ơn đức cả < 心行昆蒙不思爺娘有大恩德 (Phật Thuyết 17a). Trong khi đó, 腸 có âm HTC đọc *drjang (Lý Phương Quế), *l’ang (Trịnh Trương Thượng Phương), *g-ljaŋ (Baxter). Kiểu tái lập: *klɔŋ². [TT Dương 2012c].
dt. tâm. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6)‖ (Ngôn chí 7.6, 8.7, 10.3, 11.1, 11.7, 12.1, 19.7, 22.8)‖ (Mạn thuật 23.4, 26.8, 30.6, 32.5, 34.4, 34.6)‖ (Trần tình 39.8, 43.3, 49.5)‖ (Thuật hứng 50.7, 58.6, 59.2, 60.3, 63.5, 64.2, 68.7, 69.7, 70.5)‖ (Tự thán 74.5, 77.2, 79.4, 83.1, 86.3, 93.7, 96.5, 97.7, 100.7, 105.8, 106.3, 108.4, 109.5, lòng thắm: dịch chữ đan tâm‖ 110.8, 111.2)‖ (Tự thuật 112.5, 114.6, 115.6, 117.6, 118.4, 121.6)‖ (Tức sự 123.5, 125.7) lòng thường: dịch chữ hằng tâm‖ (Tự giới 127.2)‖ (Bảo kính 128.6, 135.5, 137.5, 138.1, 138.7, 140.5, 141.6, 143.1, 144.4, 145.8), lòng tây: dịch chữ tư tâm‖ (Bảo kính 146.3, 147.5, 156.5, 161.7, 165.3, 167.6, 169.8, 173.8, 178.2, 179.8)‖ Quân tử, thánh hiền lòng tựa nước, càng già càng ngẫm của bùi ngon. (Bảo kính 182.7) dịch câu đạm nhược thuỷ‖ (Bảo kính 184.6, 187.5, 187.7, 188.5)‖ (Vãn xuân 195.6)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4)‖ (Tích cảnh thi 201.2, 206.3, 208.4, 209.2, 210.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ (hoa mẫu 233.3)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Thái cầu 253.2, 253.4, 253.6)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.3).
dt. đáy, phần phía dưới. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3).
lông 󱲧 / 𬖅
◎ Ss đối ứng loŋ (29 thổ ngữ Mường), suk (1 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 235]. “lông” là từ gốc Việt-Mường, “tóc” là từ gốc Nam Á. x. tóc.
dt. sợi mọc ngoài da động vật. Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông, ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.1)‖ (Trư 252.1).
lưng lưng 凌凌
tt. Như lâng lâng “lưng lưng: bộ hớn hở, bộ vui vẻ” [Paulus của 1895: 543]. Được trật dõi nơi sự tiếc mừng, đạo ta thông biết, hết lưng lưng. (Bảo kính 181.2).
lưới thưới 𢅭𢄌
◎ Nôm: 䋥洒 AHV: lái sái. Sách Loại Thiên ghi: “Âm sư hãi thiết, si thượng thanh. Lái sái: áo rách.” (師駭切,篩上聲。𢅭𢄌,衣破也). Chữ sái còn cho âm đọc nữa là rưới trong từ rách rưới. Chữ lái sái còn để lại lưu tích trong từ lái xái hay lài xài “déchiré, déguenillé” [Bonet 1889: 333]. “lang thang lưới thưới: bộ rách rưới quá”[Paulus của 1895: 603], “lưới thưới: déguenillé” [Génibrel 1898]. Khảo dị: bản B ghi “rách rưới”. Phiên khác: lướt thướt (TVG), lái xái (ĐDA), rách rưới (Schneider), sếch sác: không chú nghĩa (BVN). Nay theo cách phiên của nhóm MQL, nhưng phân xuất nghĩa khác do ngữ cảnh, tạm xác định đây là nghĩa dẫn thân theo lối Việt dụng. x. la ỷ.
tt. HVVD <từ cổ> bộ giăng mắc phất phới, vẻ mậu thịnh. La ỷ lấy đâu chăng lưới thưới, hùng ngư khôn kiếm phải thèm thuồng. (Thuật hứng 68.3). lái xái, lái sái, lưới sưới, lưới rưới, lài xài.
lưới trần 䋥塵
dt. dịch chữ trần võng 塵網, ý nói con người sống trên đời luôn bị nhiều trói buộc, giống như con cá bị mắc vào lưới, cho nên những hệ luỵ cuộc đời được gọi là lưới trần. Đông Phương Sóc trong bài Dữ hữu nhân thư có câu: “Chớ để cho lưới trần giàm danh trói gò, sung sướng cười hoài, du chơi khắp thập châu tam đảo.” (不可使塵罔名韁拘鎖,怡然長笑,脱去十洲三島 bất khả sử trần võng danh cương câu toả, di nhiên trường tiếu, thoát khứ thập châu tam đảo). Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “Rơi nhầm vào lưới trần, thoắt cái ba mươi năm.” (誤落塵網中, 一去三十年 ngộ lạc trần võng trung, nhất khứ tam thập niên). Ngại ở nhân gian lưới trần, thì nằm thôn dã miễn yên thân. (Thuật hứng 60.1)‖ Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.2).
lạng 两
dt. đơn vị tiêu chuẩn trong đo lường trọng lượng, giá trị tiền bạc xưa. “Lạng là một lạng mười tiền.” [Phạm Đình Hổ 1827: 40b]. Thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng. (Thuật hứng 55.8). lượng.
lạt 辣
◎ (AHV: lạt). Kiểu tái lập: *mlạt. *mlạt > rụng [m-] > lạt, *mlạt >hoà đúc > nhạt, *mlạt > rụng [-l-]> mạt (khinh mạt). [NN San 2004: 72]. Rượu mlạt. Hèn mlạt  [Rhodes 1651 tb1994: 150], “blat: insulsus. cuoi blat vel nhat: insulsè ridere” [Morrone 1838: 200]. Lưu tích còn trong tiếng Việt thế kỷ XIX: “nói mạt: nhiếc móc, nói bỏ xó, chê dể. chê mạt. Id.” [Paulus của 1895: 635], nghĩa này còn phảng phất thấy trong chữ cười nhạt. Ss đối ứng lac, lat (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 234].
tt. nhạt, trái với mặn. Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình (Tự thán 80.4).
tt. nhạt, sơ sài dịch chữ đạm (đạm bạc). Quân tử nước giao, âu những lạt, hiền nhân rượu thết, lọ là nồng! (Bảo kính 178.5): dịch câu quân tử chi giao đạm nhược thuỷ 君子之交淡若水 (sự giao đãi của quân tử với nhau vốn nhạt như nước [nhưng lại vững bền]) (Trư 252.5).
đgt. coi thường, lưu tích còn trong khinh lạt, khinh mạt. Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, một mình lạt khuở ba đông. (Tùng 218.2), dịch chữ lăng hàn 凌寒 (coi thường cái rét).
lầm cầm 淋𤴽
◎ Phiên khác: lầm dầm (TVG), lầm khầm (ĐDA), lầm cầm: lẫn lộn [NQH 2006: 585].
đgt. <từ cổ> không biết gì, thô lậu. “lầm cầm, qui souffre inconnu de tous. mặt lầm cầm, figure d’un homme colère et cruel” [Génibrel 1898: 387; MQL: 967- 968]. Người cười dại khó ta cam chịu, đã kẻo lầm cầm miễn mất lề. (Bảo kính 141.8).
lầm nhơ 淋洳
◎ Phiên khác: lấm nhơ (BVN). Xét, lấmlầm đều là các đồng nguyên tự, đều là danh từ trỏ “bùn”, lưu tích còn trong lầm than, lấm láp, lấm tấm [Taberd 1838: 251]. Sau, lấm chuyển dần sang làm động từ hoặc tính từ, như lấm tay, lấm chân [Taberd 1838: 251].
dt. bùn bẩn. Lầm nhơ chẳng bén, tốt hoà thanh, quân tử kham khuôn được thửa danh. (Liên hoa 243.1), dịch câu xuất ư nê nhi bất nhiễm 出淤泥而不染 trong ái liên thuyết của Chu Đôn Di.
lẩn 吝
đgt. ẩn, nấp, trốn, lưu tích còn trong lẩn quẩn/ luẩn quẩn, lẩn = trốn. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 21.7)‖ (Tự thán 95.7)‖ (Bảo kính 160.7).
lẹt lạt 劣辣
tt. <từ cổ> thấp kém. lẹt (劣) gốc Hán [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 368], lạt gốc Việt, lưu tích trong hèn mạt/ hèn lạt (hèn = lạt = kém).x. mạt. Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.5).
lệnh 令
dt. điều người trên sai làm. (Tích cảnh 211.1)‖ Thu phát lệnh nghiêm hàng đỗ gấp, sương thanh bảng nhặt tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.5).
lọ là 路羅
đgt. <từ cổ> cần gì phải, dịch chữ hà tất 何必, hà tu 何須. Có xạ, tự nhiên mùi ngát bay, lọ là đứng gió xang tay. (Bảo kính 172.2) do câu 有麝自然香,何必當風立 hữu xạ tự nhiên hương, hà tất đương phong lập. Hoặc 有麝自然香,何須迎風揚 hữu xạ tự nhiên hương, hà tu nghinh phong dương , hay câu 有麝自然香,何必人前誇 hữu xạ tự nhiên hương, hà tất nhân tiền khoa.
lỗ tiền 魯錢
dt. chỗ khuyết vuông ở giữa tiền đồng. Của nhiều sinh chẳng được con hiền, ngày tháng công hư, chực lỗ tiền. (Bảo kính 186.2).
miệng 𠰘
◎ âm PVM: *miəŋ [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. mồm. Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ, có lòng bằng trúc mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.3) x. chử miệng tựa bình. ‖ (Tự thán 89.3, 91.5, 106.4, 108.3)‖ (Tự thuật 113.6)‖ (Bảo kính 136.3, 149.7, 171.5)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
mài 磨
◎ Nôm: 𥕄 Đọc theo âm THV. Ss đối ứng maj (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 237]. Đây là từ hán Việt-Mường.
đgt. chà cho mòn đi.
mài chăng khuyết 𥕄庄鈌
đc. dịch từ câu ma nhi bất lân 磨而不磷. Thời Xuân Thu, Khổng Tử bị giới chính trị của nước Lỗ bài xích. Ông bèn dẫn học trò chu du liệt quốc, qua các nước Vệ, tống,… nhưng đều không được coi trọng, nhưng dù ở Hoàn Cảnh nào ông vẫn kiên trì theo cái đọa của mình. Trong thiên Dương hoá sách Luận Ngữ có chép một đoạn như sau: “Phật Bật triệu, Khổng Tử toan đi. Tử Lộ nói: trước kia, do này có nghe thầy dạy rằng: “người quân tử không đến nơi kẻ đích thân làm điều bất thiện”. Phật Bật chiếm đất trung mâu để làm phản. Nay thầy lại định đến đó, là nghĩa làm sao? Khổng Tử nói: phải, ta có nói thế. Nhưng ta há chẳng nói: “vật gì thật bền, mài cũng chẳng mòn?”, ta há chẳng nói: “vật gì thật trắng, nhuộm cũng chẳng đen” đó sao? ta há phải quả bầu? sao có thể treo chứ không ăn?” (佛肸召。子欲往。子路曰:昔者,由也聞諸夫子曰:親於其身為不善者,君子不入也。佛肸以中牟畔,子之往也,如之何?子曰:然,有是言也,不曰:堅乎?磨而不磷?不曰:白乎,涅而不緇?吾豈匏瓜也哉,焉能繫而不食?). Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8).
mày đe 眉泥
◎ Phiên khác: mày nề. Cau mày khó chịu, trong “mặt nặng mày nề” (theo ĐDA, Schneider, MQL, VVK, TTD 2014) = “mặt nặng mày nhẹ”, Ss “mặt sưng mày sỉa”. NHV phiên “mè ne”. Nay đề xuất phiên “mày đe”.
đgt. <từ cổ> trơ lì, trơ trẽn. “mày đe: mày dày, không biết mắc cỡ” [Paulus của 1895: 623] “mặt đe: lì lợm, mặt chai mày đá, không biết xấu hổ” [Paulus của 1895: 284]. Đe nghĩa là cái đe để giọi sắt trong nghề rèn, như trong đe loi, ngàm đe, hòn đe. Tng. trên đe dưới búa. Cách nói “mày đe” hay “mặt đe” là cách nói rút gọn từ kiểu ví von “mặt mày trơ lì như cái mặt đe”. Chữ “đe” trong QATT được ghi bằng chữ Nôm 泥. Mối liên hệ n-/đ- đã có tiền lệ, như nói nôm- nói đôm, nệm- đệm, nóc – đốc, nọc – độc, nác (nước) – đác, nắm – đấm, no – đủ, nút - đút. Đòi khuở khó khăn chăng xuýt uẩy, thấy nơi xao xác đã mày đe. (Tự thán 79.6). Hai câu này nói về nhân tình thế thái: khi thấy người ta khó khăn thì chẳng thèm hỏi han; khi thấy người giàu có thì mày dày dặn dạn xun xoe ra chào hỏi. x. xuýt uẩy.
má đỏ 𦟐覩
dt. dịch chữ hồng nhan 紅顏 hay hồng kiểm 紅臉. Hễ kẻ danh thơm hay được phúc, mấy người má đỏ phải nhiều lăn. (Bảo kính 175.6), dịch từ câu hồng nhan đa truân 紅顏多迍.
mách 𠰌
AHV: mạt. Phiên khác: mùi (ĐDA) vì cho là chữ 味.
đgt. <từ cổ> bảo, nói, “mách: postica criminatio. Mách miệng: renuntiare. Mách bảo. id. đôi mách: delationes discutere” [Taberd 1838: 291]. qng. ngồi lê đôi mách. Mách lẻo. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.4), chữ “mách” (động từ) đối với chữ “kể” (động từ), chuẩn đối. “bài thơ phát ngôn thái độ sống của ẩn sĩ như đoạn tuyệt với cung đình. Khi tại thế thường phải lo lắng rằng mình sống không giống với thói tục của những người xung quanh. Về đến đây rồi thì thôi đã hết tiếng chê cười đàm tiếu. Muốn biết ngày thì tính toan theo con nước triều rặc. Muốn ẩm thực dân dã thì mua chác cá tươi của thằng chài…” [NH Vĩ 2010].
mã 馬
◎ Phiên khác: ngựa (TVG).
dt. cái ngựa đàn, tức thanh gỗ hay kim loại để cố định một đầu dây, từ đó mới dòng dây qua các nhạn đàn và cuối cùng néo vào khoá đàn để điều chỉnh độ căng và cung phím của dây đàn, tiếng anh gọi là cái cầu đàn (bridge). Cầm khua hết , cờ xua tượng, chim bắt trong rừng, cá bắt ao. (Tự thán 89.5).
mơ mơ 麻麻
tt. mơ ảo, không thực. Phú quý bao nhiêu người thế gian, mơ mơ bằng khuở chước Hoè An. (Thuật hứng 63.2).
mưa 雨
◎ Nôm: 湄 AHV: [Maspéro 1912: 39; Vương Lực 1942: 62, 66]. Đối ứng m- (THV) > v- (AHV): mùi 味 > vị, mắng 聞 > văn, mựa 無 > vô, mùa 務 > vụ, múa 舞 > vũ, mù 霧 > vụ, mo 巫 > vu, mong / mòng 望 > vọng, mạng / màng 網 > võng, mắng 聞 > văn, muộn 晚 > vãn, muôn/ man 萬 > vàn/ vạn, … qua các cứ liệu của tiếng Sách, Rục, Mày, Pọng, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng mưa có khả năng là có tiền âm tiết hay vết tích tiền âm tiết ở trước: ‖ mưa. [NTC 1997: 39]. Nay với tổ hợp phụ âm *km- đã xác định rõ trong QATT (*kmỉa, *kmuống, kmẽ…), có thể có kiểu tái lập là *kmưa [TT Dương 2012c].
dt. mưa. Mưa thu rưới ba đường cúc, gió xuân đưa một rãnh lan. (Ngôn chí 17.5).
mạy mọ 眉某
đgt. <từ cổ> rờ rẫm, lần mò, như máy mó, mọ: âm Việt hoá của chữ 摸, như mô ngư 摸魚 (mò cá), Phng. Thanh Hoá còn nói mọ cá, các biến âm: mày mò, mầy mò, máy mó, mó máy. “Mó máy: manus irrequietæ.” [Taberd 1838: 308]. Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.3).
mận đào 槾桃
dt. cây đào 桃 và cây mận (lí 李), trỏ chốn quan trường. (Mạn thuật 23.2)‖ (Thuật hứng 46.2)‖ Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ, lẩn thẩn làm chi áng mận đào. (Mạn thuật 35.8)‖ (Tự thán 83.5). x. tường đào ngõ mận, Địch Nhân Kiệt, đào lý.
mật 蜜
dt. chất ngọt của nhị hoa, của mía hay của ong tạo nên, đồng nguyên với mứt. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5).
mặn lạt 蔓辣
◎ Ss đối ứng của “mặn”: măn (13 thổ ngữ Mường), căm (15 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 237].
tt. mặn nhạt, (bóng) trỏ việc thân gần và xa lánh của người đời. Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình. (Tự thán 80.4).
mẹ cha 媽㸙
◎ Nôm: 媄吒
dt. song thân. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.6). đng sở sinh, cha mẹ, song thân.
mềm 󱟇 / 𣼺 / 𩞝
tt. trái với cứng. Non cao non thấp mây thuộc, cây cứng cây mềm gió hay. (Mạn thuật 26.4)‖ (Bảo kính 158.1)‖ (Tích cảnh thi 200.2, 206.1).
đgt. trong từ mềm lòng. giống như động lòng, xao lòng. Cực thấy ngoài hiên tơ liễu rủ, một phen liễu rủ một phen mềm. (Tích cảnh thi 205.4).
tt. <đạo, nho> dịch chữ nhu nhược 柔弱 (yếu mềm). Sách Đạo Đức Kinh ghi: “Trong trời đất không gì mềm yếu bằng nước, thế mà mọi thứ cứng mạnh chẳng thể thắng nổi nước. Yếu mà thắng mạnh, mềm mà thắng cứng; trong thiên hạ ai mà không biết cái lẽ ấy thì chẳng thể hành sự được.” (天下莫柔弱於水,而攻堅強者莫之能勝,其無以易之。弱之勝強,柔之勝剛,天下莫不知,莫能行 thiên hạ mạc nhu nhược ư thuỷ, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng, kỳ vô dĩ dịch chi. Nhược chi thắng cường, nhu chi thắng cương, thiên hạ bất tri, mạc năng hành). Sách Lễ Ký thiên Tuy y có câu: “Tiểu nhân chết đuối vì nước, đại nhân chết đuối bởi dân.” (小人溺於水,大人溺於民). Sách Khổng Tử gia ngữ ghi: “Vua là thuyền, dân là nước. Nước để chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền.” (夫君者、舟也;庶人者、水也。水所以載舟,亦所以覆舟 phù quân giả chu dã; thứ nhân giả thuỷ dã. Thuỷ sở dĩ tải chu, diệc sở dĩ phúc chu). Nguyễn Trãi trong bài Quan hải có câu: “Lật thuyền mới tin dân còn như nước.” (覆舟始信民猶水 phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ). “nước là chất mềm, người ta hay đùa bỡn với nước mà không biết nước là một thứ nguy hiểm, nên thường bị chết đuối. Dân là cỗi rễ của nước, tuy chất phác thật thà nhưng không ai có thể khinh rẻ được, nếu vua chúa mà bỏ dân không bảo vệ dân thì lòng dân phân li mà sự phản bội sẽ theo đến ngay” [TVG,1956: 107]. Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết, ghê thay thế nước vị qua mềm. (Tự thuật 115.8).
mỉa 󱫤
◎ Kiểu tái lập: *kmỉa. *kmỉa > mỉa TT Dương 2012a]. Phiên khác: mở (TVG, BVN, ĐDA, Schneider, PL). Nay theo trần uyên thi (2010).
đgt. <từ cổ> giống, giống như, sánh với. “美 mỉa. Similis, e. 美枚 mỉa mai. 美羕 mỉa dạng. 美似 mỉa tợ. 美美 mỉa mỉa. 美欮 mỉa chiệng.” [Béhaine 1773: 292; x. Taberd: 305; Génibrel 1898: 452]. “mỉa .n. mường tượng, gần giống, không khác gì bao nhiêu. Mỉa mai. Mỉa giống. Mỉa dạng. Mỉa tợ. Mỉa chiệng. id.”[Paulus của 1895: 646]. Ngàn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương. (Trần tình 42.4)‖ Mỉa đào nguyên động, in đồ đồ vũ lăng (chiêu anh các - lư khê vãn c. 24). Nét phong tao mỉa chuyện hồng lâu, trang thanh tú cũng phường bạch bích. (đông lộ địch 9).
mỗ 某
đt. <từ cổ> thường đứng trước danh từ, từ phiếm chỉ, nọ, nào đó, trỏ người hay sự vật nào đó chưa biết một cách rõ ràng xác định. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.3)‖ (Tự thán 95.1, 100.4)‖ (Bảo kính 167.2).
đt. <từ cổ> trỏ đối tượng đã nhắc đến, hoặc đối tượng mà ai cũng đã biết. Sách Phật Thuyết có câu: Mày tuy là đệ tử cả tao, đi tu hành tuy rằng đà lâu ngày, hay sự mỗ chưa rộng. (tr. 7), sự mỗ tức các sự việc trong đời. Ở thế những hiềm qua mỗ thế, có thân thì sá cốc chưng thân. (Mạn thuật 33.3), mỗ thế: cuộc đời này‖ (Thuật hứng 59.3)‖ (Tự thán 73.7), mỗ phận: phận của mình (tức trỏ phận của các loài phi tẩu)‖ (Tự thán 98.8)‖ (Cúc 216.8), mỗ mùi hương: mùi hương của từng loài hoa (Cúc và lan).
đt. <từ cổ> ngôi tự xưng, ta, có thể dùng làm chủ ngữ, cũng có thể làm tính từ với nghĩa “của ta”. Vương An Thạch 王安石 đời Tống trong du bảo thiền sơn ký 游褒禪山記 viết: Vương Mỗ 王某 và tự chua rằng “Vương Mỗ tức Vương An Thạch tôi. Cổ nhân xưa khi biên soạn sách vở, khi viết đến tên mình, thường chỉ viết chữ mỗ để thay thế, hoặc viết chữ mỗ sau họ của mình. Sau khi viết xong, cho chép lại sách ấy thì mới chính thức viết danh tính”. Trong sách Phật Thuyết có đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất là mỗ giáp : tôi, ta (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít). Dịch từ chữ Hán tương ứng ngã 我 trong câu Ấy vậy mỗ giáp kĩnh lễ ← 是故我皈依 Phật Thuyết, 2b1 ‖ (Ngôn chí 7.1)‖ Phú quý chẳng tham thanh tựa nước, lòng nào vạy, mỗ hây hây. (Ngôn chí 22.8)‖ (Mạn thuật 29.4, 31.4, 34.4)‖ (Tự thán 94.4, 104.8, 106.2)‖ (Tự thuật 114.1, 115.2)‖ (Bảo kính 142.6, 157.7, 180.2)‖ Quý nương đà trở lại lê viên, lui gót mỗ dời chân dặm liễu. (đinh Lưu Tú 11).
dt. <từ cổ> trỏ số lượng nhỏ, chút, mảy may. Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục có câu: chẳng mỗ phút hơi, xẩy vậy cả mưa < 不瞬間忽然大雨. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.2, 38.1)‖ (Thuật hứng 52.2).
dt. <từ cổ> một. Khi mát về chiêm bao khách êm, chốn sơn phòng chẳng có mỗ việc < 涼回客夢清,山房無個事 (TKML). Trong tiếng Hán, “cá” là lượng từ chỉ đơn vị cá thể, đứng trước nó thường là từ chỉ số lượng. Trường hợp từ số lượng là “một”, thì không nhất thiết phải dùng. Do vậy “cá sự” có thể hiểu là “nhất cá cự”, có nghĩa là “một việc”, ở đây được giải âm là “mỗ việc”, thế thì “mỗ” phải là từ chỉ số lượng [NT Nhí 1985]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8) ‖ (Mạn thuật 33.8)‖ (Bảo kính 187.2).
mộc hoa 木花
dt. hoa mộc, tên bài thơ số 241. Mộc hoa là các gọi tắt từ mộc tê hoa 木樨花, là loại cây nhỏ, hoa thơm, có thể dùng ướp trà, ngâm rượu, hay làm nước gội đầu, nước hoa.
Nghiễn trung ngưu 硯中牛
dt. trâu nằm trong cái nghiên mực. Tên bài số 254. Thời xưa, người ta thường khắc hình một con trâu nằm trong nghiên mực, dùng để trang trí. Nguyễn Trãi mượn lối vịnh vật để nói về đạo học của các nhà Nho.
nghé 兒
◎ Nôm: 𤚇 Đối ứng nh- ng-, còn thấy bảo lưu trong các chữ Hán có AHVnghê như: 倪 (trẻ con, lưu tích trong ngô nghê), 猊 (con sư tử = con nghê), 霓 (cầu vồng), 鯢 (cá kình cái, trong kình nghê), 麑 (hươu non). Ss đối ứng tlu kɔn (10 thổ ngữ Mường), ŋε (8 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 248]. Như vậy, “nghé” là gốc Hán, “trâu con” gốc Việt-Mường. Chỉ có “nghé” là danh từ.
dt. con trâu con. Xét, các loài vật nhỏ thường dùng chữ “nhi”, như ngựa non là nhi mã, mèo con là nhi miêu, trâu con là nhi ngưu. Ví dụ quan trung tấu nghị của Dương Nhất Thanh có câu: “còn 140 con nghé, 12 con lừa” (存兒牛百四隻驢一十二頭 tồn nhi ngưu bách tứ chích, lư nhất thập nhị đầu). “đồng độc: trâu nghé hiệu là trâu con” (CNNA 55b). Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, hòn đất hầu lầm, mất cái chim. (Bảo kính 150.5), dịch từ câu sảy ràn tan nghé, sau có dị bản là sảy đàn tan nghé. x. ràn.
nghề nghiệp 藝業
dt. công việc mưu sinh chính. Kẻ khôn thì bảo kẻ ngây phàm, nghề nghiệp cầm tay ở mới cam. (Bảo kính 173.2).
nguyệt 月
dt. trăng. Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.3, 4.5, 11.3, 12.5, 14.4, 18.5, 19.3, 21.6, 22.5)‖ (Mạn thuật 26.6, 28.5, 32.4, 35.6)‖ (Trần tình 42.6)‖ (Thuật hứng 48.4, 49.5, 51.3, 52.4, 60.6, 64.6, 65.2, 70.4)‖ (Tự thán 74.3, 76.6, 82.3, 84.4, 88.3, 90.4, 102.5, 105.6, 108.6)‖ (Tự thuật 114.7, 118.6, 122.6)‖ (Bảo kính 129.8, 137.6, 153.4, 157.3, 158.4, 159.4, 161.8, 165.5, 168.4, 169.8)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.3)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 202.2, 207.4)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.1)‖ (Lão mai 215.5)‖ (Mai thi 226.2)‖ (Mạt lị hoa 242.2)‖ (Liên hoa 243.3)‖ Lầu nguyệt đã quen tiên thổi địch, non xuân từng bạn khách ăn thông. (Lão hạc 248.3).
ngày ngày 𣈜𣈜
p. ngày nào cũng thế, hằng ngày. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5)‖ (Thiên tuế thụ 235.3).
ngã 我
đgt. trượt té khiến thân mình rơi xuống. Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.8)‖ (Bảo kính 185.6).
ngả 我
đgt. nghiêng xuống thấp, lưu tích còn trong ngả nghiêng. Tà dương bóng ngả khuở giang lâu, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 14.1)‖ Trường văn nằm ngả mấy thu dư, uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư” (Mạn thuật 34.1).
nhan sắc 顏色
dt. sắc đẹp Người đua nhan sắc khuở xuân dương, nghỉ chờ thu cực lạ dường. (Cúc 216.1).
nhau 饒
dt. từ biểu thị sự tác động qua lại giữa các đối tượng. Trúc mai bạn cũ họp nhau quen, cửa mận tường đào chân ngại chen. (Thuật hứng 46.1)‖ (Tức sự 126.4)‖ (Bảo kính 133.5, 138.7, 142.7, 145.7, 147.8, 149.4, 152.4, 178.1, 178.8)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4).
nhuộm chăng đen 染庄顛
đgt. <Nho> vốn dịch từ câu Niết nhi bất tri (Luận Ngữ). Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8). x. mài chăng khuyết.
nhà bằng khánh 茹朋磬
đc. HVVT Thng sách Quốc Ngữ phần Lỗ ngữ thượng ghi: “Nhà như treo khánh, đồng chẳng cỏ xanh” (室如懸磬,野無青草 thất như huyền khánh, dã vô thanh thảo), sau cụm thất như huyền khánh trở thành thành ngữ, ý nói trong nhà rỗng không, nghèo xơ xác không có gì. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.5).
nhân tâm 人心
dt. lòng người. Nẻo đua khí huyết, quên nhân nghĩa, hoà thất nhân tâm, nát cửa nhà. (Giới nộ 191.4).
nhẫn dầu 忍油
k. <từ cổ> cho dù. Đạo quân thân nhẫn dầu ai lỗi, hổ xanh xanh ở trốc đầu. (Bảo kính 159.7).
nhậm 任
◎ Nguyên văn: 任, kính khuyết nhất bút, lệ kỵ huý thời Nguyễn [NĐ Thọ 1997: 152].
đgt. giữ chức vị được giao. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
nhọc hơi 辱唏
tt. mệt hơi. Sang cùng khó bởi chưng trời, lặn mọc làm chi cho nhọc hơi. (Ngôn chí 10.2).
nhỏ 𡮈
tt. trái với lớn. Chẳng ngừa nhỏ, âu nên lớn, nẻo có sâu, thì bỏ canh (Bảo kính 136.5).
nuôi 挼 / 餒
đgt. chăn, dưỡng. Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá, nhà quen thú thứa, ngại nuôi vằn. (Thủ vĩ ngâm 1.6)‖ (Tự thán 106.1)‖ (Bảo kính 135.5, 149.7, 154.4)‖ (Miêu 251.8).
nâng niu 娘嵬
◎ Phiên khác: nàng ngồi (TVG), nâng coi (MQL, PL), nương ngôi (BVN). Nay theo ĐDA, cho rằng 嵬 viết lầm từ chữ 㝹 “nao”, đọc chệch thành niu.
đgt. nâng lên thận trọng, nhẹ nhàng. “nâng niu: demulcere” [Taberd 1838: 327]. Nẻo đến tin đâu đều hết có, nâng niu ai nỡ để tay không. (Thái cầu 253.8).
nấu 𤒛
đgt. đun cho chín. Than lửa hoài chưng thương vật nấu, [củi] thiêu tiếng khóc cảm thần linh. (Bảo kính 151.5), bài này nhắc đến điển Tào Thực (192-232) làm thơ ngăn anh trai Tào Phi (Nguỵ Văn Đế) định giết hại mình. Vì như thế là làm việc “Nấu đậu bằng cành đậu, đậu khóc than trong nồi: ‘vốn sinh cùng một cội, nấu nhau nhanh quá đỗi’.” (煮豆燃豆箕, 豆在釜中泣。 本是同根生, 相煎何太急 chử đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp: ‘bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp’), sau trỏ việc anh em giết hại nhau. Cho nên bài thơ mở đầu bằng câu: “ai trách hiềm cây lại trách mình”.
nối 挼
◎ Ss đối ứng nol, noj (18 thổ ngữ Mường), k’ap (1) [NV Tài 2005: 256].
đgt. kế thừa, tiếp tục truyền thừa, kế nghiệp Nghiệp Lưu Quý thịnh, đâu truyền báu, bia Nguỵ Trưng cao, há nối tông. (Bảo kính 130.4)‖ Nối nghiệp (Bảo kính 166.1), kế nghiệp cha ông, ý nói Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn đời Trần Duệ Tông, còn Nguyễn Trãi đỗ thái học sinh đời Hồ ‖ (Giới sắc 190.8).
đgt. chắp lại. Chân tay dầu đứt bề khôn nối, xống áo chăng còn mô dễ xin. (Bảo kính 142.5).
nữa 女
p. từ biểu thị sự tiếp tục của hành động hay trạng thái. Ẩn cả lọ chi thành thị nữa, nào đâu là chẳng đất nhà quan. (Ngôn chí 17.7, 19.7)‖ (Mạn thuật 29.7)‖ (Trần tình 38.7, 45.7)‖ (Thuật hứng 63.7)‖ (Tự thán 80.8, 88.7, 89.7, 107.7, 111.7)‖ (Tự thuật 117.7)‖ (Bảo kính 143.7, 184.7)‖ (Trúc thi 221.3, 223.3)‖ (Đào hoa 227.3, 230.3)‖ (Dương 247.3).
tt. <từ cổ> hơn, lưu tích còn trong hơn nữa. Thì nghèo, sự biến nhiều bằng tóc, nhà ngặt, quan thanh lạnh nữa đèn (Thuật hứng 46.6)‖ Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực, dòng nước Liêm Khê lục nữa tràm. (Tự thán 97.6)‖ Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh. (Bảo kính 136.4, 146.3) x. hơn nữa (Tự thán 92.6).
quyền quyền 拳拳
◎ Phiên khác: cồn cồn: khư khư (BVN), cuồn cuồn (VVK). Nay theo TVG, ĐDA.
tt. <từ cổ> thiết tha, quyến luyến, cố giữ lấy [TVG, 1956: 104]. Lưu Hướng đời Hán trong liệt nữ truyện có câu: “quyến luyến như người thân” (拳拳若親). Sách Trung Dung có đoạn: “anh hồi làm người: một khi đã nắm được cái đạo Trung Dung, nắm được điều thiện thì thiết tha giữ trong lòng mà không có phút nào rời ra” (回之為人也,擇乎中庸,得一善,則拳拳服膺而弗失之矣). Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.1).
quê Hà Hữu 圭何有
dt. chốn hư không. x. Hà Hữu.
quản 管
đgt. trong quản lý, ý nói bao quát hết, rong chơi hết. Xin làm mỗ bậu quản giang san, có biết đâu là sự thế gian. (Tự thán 95.1).
đgt. <từ cổ> mặc, kệ. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.6)‖ (Bảo kính 140.4, 141.3, 155.8).
lt. <từ cổ> cho dù, bất luận. Ỷ Lý há cầu quan tước hán, Hứa Do quản ở nước non Nghiêu. (Tự thuật 116.6).
rây 籂
AHV: si.
đgt. (ánh sáng) chiếu qua các khe hở. Nguyễn Trãi trong bài Chu trung ngẫu thành có câu: “nửa rừng nắng rây cây sương khói” (半林殘照篩煙樹 bán lâm tàn chiếu si yên thụ). Trị dân sơ lập lòng cho chính, có nước thường in nguyệt khá rây. (Bảo kính 137.6).
rặc 落
◎ Đọc theo âm THV. AHV: lạc. Phiên khác: lạc: xuống (TVG, ĐDA). Nay theo Schneider, MQL.
đgt. (con nước, thuỷ triều) rút, xuống. “rặc: canh, rút xuống (nói về nước)” [Paulus của 1895 t2: 240]. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3). bao giờ rặc nước sông bùng, hai vai trúc đá bể Đông cát bồi. cd x. triều rặc.
rợp 立 / 葉
◎ (8). Chữ 葉 dùng d- ghi r-, cho thấy đây là chữ Nôm hậu kỳ do đời sau dọn bản. Chữ 立 ở 12.2 là chữ Nôm cổ, xuất hiện 1 lần. Ss đối ứng lɣp (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 236].
đgt. tt. che kín, che mát. “rợp rợp, nơi rợp: nơi mát mẻ.” [Rhodes 1651 tb1994: 195]. (Ngôn chí 5.3)‖ Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân, trúc rợp hiên mai quét tục trần. (Ngôn chí 12.2, 17.3, 21.5)‖ (Thuật hứng 51.6)‖ (Bảo kính 165.6, 170.2)‖ (Lão dung 239.4)‖ (Hoè 244.4).
rụng 𬈭 / 用 / 洞
◎ thanh phù nôm chủ yếu dùng thuỷ âm đ- để ghi r-. Đối ứng đ- r- giữa phương ngữ Bình Trị Thiên và Hà Nội như: đún rốn, đùng mình rùng mình, đuốc ruốc (ruốc nấu canh),… [VX Trang 1997: 241]. Phiên khác: động (TVG), rúng: rung cảm, xao xuyến, do tra cứu âm rúng trong Taberd 1838, Génibrel 1898, Paulus của 1895 (Schneider, PL). Nay theo ĐDA.
đgt. rơi xuống. (Thuật hứng 48.3, 51.4, 52.3)‖ (Tự thán 95.5, 105.5)‖ (Mộc cận 237.3). Hoa còn để rụng lem đất, cửa một dường cài sệt then. (Tức sự 124.5).
rụng rời 𬈭浰
◎ Phiên khác: rụng rơi (ĐDA). Xét, “rụng rơi” và “rụng rời” đều là các đồng nguyên tự. Nhưng ở đây, đang thuộc khuôn vần -ời (dấu huyền) nên phiên như vậy.
đgt. <từ cổ> ý mạnh hơn rụng, đến thế kỷ XIX thấy đã có nghĩa dẫn thân “hãi kinh, sợ sệt” [Paulus của 1895: 884]. Thân nhàn đến chốn dầu tự tại, xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời. (Thuật hứng 59.6).
so 󰖚
◎ {cư 車 + lô 卢 < 盧}. Kiểu tái lập: *klo. *kro > so. 𨎆 {cư 車+ sô 芻}. Kiểu tái lập: *kso [xem TT Dương 2012a]. đng mỉa.
đgt. sánh với. Ngàn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương. (Trần tình 42.3)‖ Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, so tam hữu chẳng bằng mày. (Mai thi 226.4). đng sánh. sánh, , bằng gốc Hán; so gốc Việt.
suốt 律
◎ Kiểu tái lập: *kruot⁵ [TT Dương 2013b], chuẩn đối với blọn (trọn).
dt. cả, trỏ sự việc diễn ra không nghỉ trong quãng thời gian dài. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4).
sơn thuỷ 山水
dt. non nước. Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, cửa quyền hiểm hóc ngại xung xăng. (Mạn thuật 27.1).
sương 霜
dt. mù đọng. Phú quý treo sương ngọn cỏ, công danh gưởi kiến cành hoè. (Tự thán 73.3, 82.6)‖ (Bảo kính 157.6)‖ (Lão mai 215.1)‖ (Cúc 217.4, 240.2)‖ (Nhạn trận 249.6).
sở sinh 所生
dt. bố mẹ, song thân phụ mẫu, người sinh ra mình. Kinh Thi phần Tiểu nhã bài Tiểu uyển ghi: “Sớm dậy, sáng ngủ, chẳng thẹn với cha mẹ ta” (夙興夜寐,無忝爾所生) Tơ tóc chưa hề báo sở sinh, già hoà lú, tủi nhiều hành. (Tự thán 80.2).
thanh vân 青雲
dt. nguyên là chữ thanh vân lộ 青雲路 (đường mây xanh), ví với ngôi cao, hoạn lộ. Tư Mã Tương Như trong bài Tử Hư phú có câu: “Lộn xộn đua tranh, trèo lên mây xanh.” (交錯糾紛,上干青雲 giao thác củ phân, thướng can thanh vân). biệt lý Tham quân của Trương Kiều đời Đường có câu: “Lặng nghĩ đến con đường mây xanh, thì thấy vẫn nên gửi gắm thân này.” (静想青雲路, 還應寄此身 tĩnh tưởng thanh vân lộ, hoàn ưng ký thử thân). Đời sau thường vẽ hình chú bé thả diều để ngụ ý chúc tụng thăng quan phát tài. Nợ quân thân chưa báo được, hài hoa còn bện dặm thanh vân. (Ngôn chí 12.8)‖ Mấy phen lần bước dặm thanh vân, đeo lợi làm chi luống nhọc thân. (Bảo kính 165.1). x. mây xanh.
thiền định 禪定
đgt. an định, lối tu của nhà Phật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.3).
thon von 村員
◎ Phiên khác: thôn viên: thôn nhân, ông lão nông thôn (TVG), chon von: cao vút, chơ vơ (ĐDA). Nay theo Schneider và NT Nhí.
tt. <từ cổ> suy vi, “cheo leo, nguy hiểm, gian nan”. [Paulus của 1895: 1024]. Chỉn đã thon von ← 式微式微乎不歸 (Kinh ), chim phượng kia vậy sao đức chưng thon von < 鳳兮鳳兮何德衰 (Tứ thư ước giải- Luận Ngữ) [NTN 2008: 94, NTN 1985]. “Chỉn đã thon von! chỉn đã thon von!” < thức vi! thức vi! (Thi kinh giải âm, 1892). Các cụ già Đông Anh, cổ loa vẫn nói “con cháu phải giữ thói ông cha, chớ để thon von” với nghĩa “suy sút, sút kém” [CK Lược 1980: 184]. Văn này gẫm thấy mới thon von, thương hải hay khao, thiết thạch mòn. (Thuật hứng 49.1). Sách Luận Ngữ thiên có đoạn: “Khổng Tử bị hãm ở đất khuông. Than rằng: Văn Vương đã mất, văn chẳng còn ở trong ta đây sao? nếu trời để mất cái nền văn này, thì những kẻ chết sau ta sẽ chẳng thể biết được nền văn ấy nữa; còn nếu như thiên chưa muốn để mất văn này, thì người đất khuông liệu có làm gì được ta?” (子畏於匡。曰:“文王既沒,文不在茲乎?天之將喪斯文也,後死者不得與於斯文也;天之未喪斯文也,匡人其如予何?), thon von dịch chữ táng 喪‖ Giữ khăng khăng ai nỡ phụ, bù trì mựa khá để thon von. (Tự thán 87.8)‖ phò vạc hán thuở thon von (Hồng Đức ). Câu thơ thể hiện nỗi lo lắng của tác giả về tình hình văn trị. Một nguyên nhân có thể là do “Bấy giờ, các chức đứng đầu ở triều đình đều là đại thần khai quốc nắm giữ, họ không thích Nho thuật.” (Đại Việt sử ký toàn thư) [PL 2012: 369].
thái cầu 彩毬
dt. quả cầu ngũ sắc, tên bài thơ số 253. Trần Văn Giáp (1956: 179) chú: “tên một vật bằng giấy, cắt hình chim, tức là thái yến, là con yến cắt bằng giấy, ngày lập xuân thường treo ngoài cửa. Theo Tuế sở kinh thì ký: ”ngày lập xuân, nhà nào cũng cắt giấy màu làm hình chim yến treo ở trước cửa nhà”. Vì thế có câu thơ cổ: “thái yến biểu niên xuân” (chim yến cắt bằng giấy, báo hiệu bắt đầu xuân). Xét, thái yến khác Thái cầu. Theo Bội văn vận phủ, tết Hàn thực, vua gửi thiếp vào trong quả thái cầu để trao tặng các cận thần [MQL 2001: 1196]. Dựa vào nội dung trong bài thơ có thể mô tả vật này như sau: đây là quả cầu ngũ sắc, dùng để truyền tin trong dịp xuân. Quả cầu này, có khả năng làm bằng giấy hoặc bằng lụa, gập thành tám múi, trong có giấu một tờ giấy viết tin nhắn thể hiện mong ước, nguyện vọng trong đầu năm. Dưới quả cầu có làm đuôi tua bằng vải ngũ sắc trông sặc sỡ như đuôi chim phượng. Quả cầu này có thể được treo phía dưới đèn trời, nên có khả năng bay xa, “dõi qua ngàn liễu”, “bay tịn lòng hoa”. Đến khi đèn trời tắt, quả cầu rơi xuống. Người ta đi nhặt để đọc thông tin ở phía trong quả cầu. Đây hẳn là một trò thả cầu tìm ý trong một lễ hội đầu xuân có nhiều người tham gia. Tính ngẫu nhiên của nó chính là cái thú vị của trò chơi này.
thôn nhân 村人
dt. người quê mùa, nông dân. Miệt bả hài gai khăn gốc, xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân. (Mạn thuật 33.8).
thương 殤
dt. người chết trẻ (từ tám đến mười chín tuổi). Bành được thương thua: con tạo hoá, diều bay cá dảy đạo tự nhiên. (Tự thán 103.3).
thất sở 失所
đgt. HVVT <từ cổ> mất chốn, thất bại, mất đi địa vị, “lạc loài, không có chỗ nương tựa”[Paulus của 1895: 991]. Đắc thì thân thích chen chân đến, thất sở láng giềng ngảnh mặt đi. (Thuật hứng 57.4).
Thừa chỉ 承旨
dt. tên một chức quan, chức này bắt đầu có từ đời Đường, tên đầy đủ là Hàn Lâm học sĩ Thừa chỉ thuộc Hàn Lâm viện, là quan đứng đầu các học sĩ, phàm các việc chính sự trọng yếu như cáo lệnh, phế truất, cắt đặt đều được một mình ứng đối. “qua bức thư Nguyễn Trãi thay mặt lê lợi soạn thảo sớm nhất còn lại là Thỉnh hàng thư (Thư xin hàng) viết vào tháng 5 năm quý mão (1423), có thể đoán Nguyễn Trãi được phong chức đó từ những năm đầu tham gia khởi nghĩa lam sơn. Dưới triều Lê Thái Tổ, với chức vụ Thừa chỉ, Nguyễn Trãi chuyên thay mặt vua soạn thảo chiếu, chế, biểu… ghi chép hoạt động của Nguyễn Trãi khoảng 1433 - 1437, Đại Việt sử ký toàn thư vẫn gọi ông với chức danh Thừa chỉ. Tháng 6 năm đinh tị (1437), nhân bất đồng với quy chế nhã nhạc do Lương Đăng soạn thảo, nhưng vua Lê Thái Tông lại tán thành, ông xin về Côn Sơn dựng nhà, thỉnh thoảng mới về thăng long chầu vua. Bài thơ có lẽ được làm ở Côn Sơn vào thời kỳ này, khi Nguyễn Trãi vẫn đương chức Thừa chỉ” [PL 2012: 131]. Thừa chỉ ai rằng thì khó ngặt, Túi thơ chứa hết mọi giang san. (Tự thán 72.7).
tiêu hao 消耗
đgt. hao tổn và mất mát. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.6).
tri âm 知音
đgt. biết tiếng. Liệt Tử thiên Thang vấn có đoạn: “Bá Nha giỏi đánh đàn, còn chung tử kỳ giỏi nghe đàn. Tiếng đàn của Bá Nha có ý miêu tả ngọn núi cao, chung tử kỳ liền nói: “hay quá! núi cao chừ như thái sơn”. Tiếng đàn có ý miêu tả dòng nước chảy, chung tử kỳ nói: “hay quá! cuồn cuộn chừ như sông lớn” (伯牙善鼓琴,鍾子期善聽琴。 伯牙琴音志在高山,子期說“峩峩兮若泰山 ”;琴音意在流水, 子期說洋洋兮若江河). Ý nghĩ của Bá Nha, chung tử kỳ đều biết được. Đời sau dùng “tri âm” để ví với người tri kỉ, cùng chí hướng. Rủ vượn hạc xin phương cổi tục, quyến trúc mai kết bạn tri âm. (Tự thuật 119.4, 121.5)‖ (Trúc thi 222.2).
trí 智
dt. trí tuệ. Hỉ nộ cương nhu tuy đã có, nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây. (Mạn thuật 25.6)‖ (Tự thán 89.1)‖ bảo kính 132.6‖ 183.1.
trại 豸
Phật Thuyết ghi 賴 lại tại vị trí dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, *tlại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác< 被人誘引逃竄他鄉違背爺娘離家別慣 (19a9), kiểu tái lập: *tlai [xem thêm TT Dương 2013b]. Phiên khác: trễ: chểnh mảng, trễ nải (TVG, ĐDA). Nay theo Schneider.
đgt. <từ cổ> không làm theo, làm trái. Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7)‖ Trung cần há nỡ trại cân xưng. (Bảo kính 188.1). Dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, trại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác. (Phật Thuyết 19a).
trần 塵 / 󰡰
dt. bụi bặm, trỏ cõi tục. Lánh trần náu thú sơn lâm, lá thông đàn, tiếng trúc cầm. (Thuật hứng 70.1)‖ x. Lưới trần. (Thuật hứng 60.1)‖ x. Cõi trần. (Tự thán 110.6)‖ x. Tục trần. (Ngôn chí 12.2)
trật 失
◎ Nôm: 秩 / 栗 Các nhà phiên chú trước nay đều mặc nhiên phiên là mất. Nhưng tr- và m- chưa thấy mối liên hệ về âm trong lịch sử. Sách Phật Thuyết: áng nạ lòng thực dấu, tủi xót chăng trật sự no. (cha mẹ tình thành thực, thương yêu chẳng lúc nào thôi) < 父母情誠厚,憐憫無時 (tr.13b1), chữ trật đối dịch từ chữ thất 失 (mất), nguyờn bản nôm trật được ghi bằng hai chữ 坡栗 (pha lật) được tái lập là blạt [HT Ngọ 1999: 107; Shimizu Masaaki 2002: 767; NQ Hồng 2008: 134]. QATT chữ trật được một lần ghi là 栗 lật ở vị trí 202.1, Trần Văn Giáp và ĐDA cải chính, và đề xuất phiên lật với nghĩa là “trật, lỡ” [ĐDA: 823]. Từ pha lật 坡栗 trong Phật Thuyết đến lật 栗 trong QATT, đã xảy ra quá trình từ “chữ kép” (loại e1) chuyển sang “chữ đơn” (loại c). Quá trình biến đổi ngữ âm từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII có thể hình dung như sau: blạt > trật. Tương ứng như các trường hợp *blời > trời, *blả > trả, *blái> trái, *blọn > trọn, *blai > trai, *blở > trở [Shimizu Masaaki 2002: 767]. Như thế chữ Nôm trật 秩 trong văn bản dương bá cung là chữ Nôm của thế kỷ XVIII trở về sau. Diễn biến chữ (thế kỷ XII) > 栗 (thế kỷ XV) > 秩 (thế kỷ XVIII >). Chữ trật với nghĩa là “thua, lỡ, hỏng, trái với được” xuất hiện tám lần trong QATT, trong khi mất chỉ xuất hiện ba lần. Sự khu biệt nghĩa cũng khá rõ ràng: mất là một từ trỏ “chết, dứt, đứt đoạn”, vốn có nguyên từ là một 歿 (x. mất), Ss hoặc nhân nhớ con, gầy biến chết mất 或因緣子衰變死亡 (Phật Thuyết 20b1), han hỏi đi lại từ chưng ấy ắng mất 參問起居從茲斷絕 (Phật Thuyết 21a3). Còn trật thường là trái nghĩa với được, và luôn đi đôi với được trong QATT. Song ở đôi chỗ phảng phất có sự xâm lấn lẫn nhau, đây chính là giai đoạn trù bị để cho mất thay thế trật từ thế kỷ XVII trở về sau, còn trật lại chuyển sang nghĩa “sai đi, chệch đi” như Rhodes ghi nhận [1651 tb1994: 40, 147]. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, đắc >< thất, được >< trật, là hai cặp điệp thức có cùng nguyên từ là 得 >< 失 . 得 đắc / được là chuỗi liên hệ đã được làm rõ từ lâu. Còn 失 thất/ trật ít nhiều có thể thấy lưu tích qua thanh phù của chữ Nôm trật 秩 (trật tự, phẩm trật), trật 跌 (Trượt, trật trưỡng), trật 袠 / 帙 (túi sách). Kiểu tái lập *plat⁶. [TT Dương 2012c].
đgt. <từ cổ> mất. Lấy đâu xuất xử lọn hai bề, được thú làm quan trật thú quê. (Tự thán 109.2)‖ (Tự thuật 121.2)‖ (Bảo kính 161.4, 176.6, 182.2, 184.6)‖ (Giới sắc 190.3)‖ (Tích cảnh 202.1).
trẻ tạo hoá 𥙩造化
dt. dịch chữ hoá nhi 化兒. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6) ‖, thủ pháp bẻ từ đã được sử dụng ở đây để tạo nên các thế đối lập giữa chủ thể và khách thể, vừa u mua lại vừa trớ trêu và nghiệt ngã. Phạm Thành Đại 範成大 đời Tống trong bài Lập xuân đại tuyết 立春大雪 có câu: 化兒任惡劇,歡伯有奇懷 hoá nhi nhiệm ác kịch, hoan bá hữu kỳ hoài (hoá nhi ác bày tấn kịch, hoan bá riêng ôm cõi lòng). cn con tạo.
tuyệt 絕
đgt. không hề có. Chiều mai nở chiều hôm rụng, sự lạ cho hay tuyệt sắc không. (Mộc cận 237.4). Cái lãnh đạm an nhiên trước sự nở tàn của hoa đã tạo ra sắc Thái Chân như cho ý thơ ở đây, khác hẳn với truyền thống thi ca Trung Hoa. Lý Thương Ẩn trong bài Cận hoa 槿花 viết: “gió sương buồn thảm cảnh thu bời; khá thương nở rụng sớm chiều thôi” (風露凄凄秋景繁,可憐榮落在朝昏 phong lộ thê thê thu cảnh phồn, khả lân vinh lạc tại triêu hôn).
tày 齊
AHV: tề. Tục tự : 斉
tt. <từ cổ> sánh ngang, bằng với. Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa, được về ở thú điền viên. (Bảo kính 143.7, )‖ Mực thước thế gian dầu có phải, cân xưng thiên hạ lấy đâu tày. (Bảo kính 172.6).
tám trận 渗陣
dt. tức bát trận đồ 八陣圖 của gia cát Khổng Minh. Khổng Minh dùng đá xếp trận đồ này theo độn giáp, chia thành tám cửa sinh 生, thương 傷, hưu 休, đỗ 杜, cảnh 景, tử 死, kinh 驚, khai 開 biến hoá khôn lường, trận đồ này có thể chống được mười vạn tinh binh (xem tam quốc diễn nghĩa). Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử, tám trận khôn hay chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6).
tình thư 情書
dt. thư tình. Tình thư một bức phong còn kín, gió nơi đâu gượng mở xem. (Ba tiêu 236.3), Bội văn vận phủ chép rằng Thẩm Chu đời Minh có bài thơ viết trên lá chuối có câu: “Đã định nhổ thuyền đi, nhân anh lại viết thư lá chuối.” (tiên dục khai thuyền khứ, nhân quân cánh tả tiêu 便欲開船去,因君更寫蕉), đời sau có câu “thư lá chuối vừa đưa đến, lời văn vẫn còn xanh” (書來蕉葉文猶綠 thư lai tiêu diệp văn do lục). Tiền Hủ 錢珝 đời Đường trong bài Vị triển ba tiêu viết như sau: “đuốc lạnh hết khói, nến xanh tàn, lòng thơm vẫn cuộn sợ xuân hàn. Phong thư giấu kín điều chi đó, bị gió xuân về lén mở coi.” (冷燭無煙綠蠟乾, 芳心猶卷怯春寒。一緘書箚藏何事,會被東風暗拆看 lãnh chúc vô yên lục lạp can, phương tâm do quyển khiếp xuân hàn. Nhất giam thư tráp tàng hà sự, hội bị đông phong ám sách khan.).
tượng 象
dt. con tịnh (cờ). Cầm khua hết mã, cờ xua tượng, chim bắt trong rừng, cá bắt ao. (Tự thán 89.5).
tốt lạ 卒邏
tt. <từ cổ> tốt (đẹp) = lạ (đẹp). Huống lại vườn còn hoa trúc cũ, dồi thức tốt lạ mười phân. (Tích cảnh thi 211.4)‖ Ấy chẳng tây thi thì Thái Chân, trời cho tốt lạ mười phân. (Trường an hoa 246.2). x. lạ ②.
tốt tươi 萃鮮
◎ Nôm: 卒鮮
tt. HVVT rậm rạp và đẹp đẽ. Đông phong từ hẹn tin xuân đến đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi. (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ (Mai thi 224.1)‖ (Đào hoa thi 227.1)‖ (Mộc hoa 241.2).
tửu sắc 酒色
dt. rượu và sắc dục. Hiềm kẻ say chưng bề tửu sắc, hoạ người thìn được thói cha ông. (Bảo kính 130.5, 179.4).
tự thán 自歎
dt. tên của chùm 41 bài từ số 71 đến số 111 trong QATT. Tự thán nghĩa là tự mình ngâm vịnh một mình cho mình nghe. ở đây là tác giả đang viết những bài thơ mang tính tự thuật nội tâm, dùng thơ để tự mình đối thoại với chính mình, tự chiêm nghiệm về cuộc đời mình trong thế thái nhân tình, như câu: Càng một ngày càng ngặt đến xương, ắt vì số mệnh, ắt văn chương. (Tự thán 1) hay: Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa, cầu một ngồi coi đời thái bình. (Tự thán 10).
uống 㕵
◎ Ss đối ứng oŋ³ (nguồn), oŋ³ (Mường bi), ŋo³ (Chứt), nwăi (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236].
đgt. trong Ăn uống. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ Tác ngâm: bạc dẫy mai trong tuyết, đối uống: vàng đầy cúc khuở sương. (Bảo kính 157.6), đối uống dịch chữ đối ẩm 對飲 hoặc chữ đối tửu 對酒.
vạy 尾
◎ Phiên khác: với then: đầy then thuyền (TVG), vạy: lệch (ĐDA, Schneider, BVN, VVK, MQL, PL).
tt. <từ cổ> cong, lệch [Taberd 1838: 579]. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.6).‖ cây vạy ghét mực tàu ngay cdcon sông khúc vạy khúc ngay cdmũi vạy lái phải chịu đòn. Tng.
tt. <từ cổ> gian, bất chính. Phú quý chẳng tham thanh tựa nước, lòng nào vạy, mỗ hây hây. (Ngôn chí 22.8)‖ lúc giận dệt thêu ngay hoá vạy (Nguyễn Công Trứ - thói đời).
với 貝
đgt. <từ cổ> dùng chung. Toan cùng người với, thì chẳng đủ, xử một ta nay ắt có dư. (Bảo kính 180.3).
k. từ biểu thị người sắp nêu ra là đối tượng cùng có chung hành động, trạng thái vừa nói đến. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3)‖ (Bảo kính 148.6).
vờn vờn 院院
tt. <từ cổ> rậm rịt mà toả xoà ra. Chỉ Nam ngọc âm thế kỷ XVII ghi: “Cam đường: cây bàng tán vờn”, chứng tỏ lúc này vẫn còn được dùng độc lập. Cây lục vờn vờn bóng lục in, xuân nhiều tuổi đã kể dư nghìn. (Thiên tuế thụ 235.1).
vợ 婦
◎ Nôm: 𡞕 AHV: phụ.
dt. chính thất. Kết bạn mựa quên người cố cựu, yên nhà nỡ phụ vợ tao khang. (Bảo kính 129.6)‖ (Bảo kính 182.6).
xuất xử 出處
đgt. <Nho> xuất sĩ và thoái ẩn, tức việc ra làm quan và việc từ quan về ở ẩn. Sái Ung đời Hán trong bài Tiến hoàng phủ quy biểu có đoạn: “Ra sức tu thân, trung trinh mở rộng, xuất xử theo nghĩa, rực rỡ không mờ.” (修身力行,忠亮闡著,出處抱義,皦然不污 tu thân lực hành, trung lượng xiển trứ, xuất xử bão nghĩa, hạo nhiên bất ô). Lấy đâu xuất xử lọn hai bề, được thú làm quan trật thú quê. (Tự thán 109.1).
xình xoàng 情控
AHV: tình khống. Phiên khác: tình suông (TVG, BVN, MQL, VVK). Chữ 控 “khống”, có khả năng viết nhầm từ chữ “腔” (xoang). Xét, cách phiên trên là dựa theo AHV. Phiên “xênh xang” như Schneider là có cơ sở về âm khi coi đây là một từ láy. Xét, chữ “xênh xang” không thấy xuất hiện trong văn cổ, thêm nữa lại không hợp với chữ “quản” (mặc kệ). Chữ Nôm trên có thể phiên là “xênh xang” hoặc “xinh xang” nhưng âm này lại chỉ có nghĩa là “nở nang, tươi tốt, khoe khoang” [Paulus của 1895 t2: 579, 583], không hợp với văn cảnh. ĐDA phiên là “xềnh xoàng”, có lẽ ông cho đó là âm cổ của “xình xoàng”, “xuềnh xoàng” hiện nay, với nghĩa “dễ dãi, sơ sài, coi thế nào cũng xong”. pbb xênh xang.
tt. <từ cổ> chếnh choáng. “xình xoàng: say, vừa say, có chén” [Paulus của 1895: 1193]. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.1).
xông 衝
AHV: xung. Tương ứng khuôn vần -ông -ung: (làm-) lụng lộng 弄, nồng nùng 濃, phộng phụng/ phượng 鳳, thông thung 樅 [An Chi 2005: 70].
đgt. tiến mạnh lên phía trước. Dò trúc xông qua làn suối, tìm mai theo đạp bóng trăng. (Tự thán 77.3).
đgt. xông pha. Dụt xông biếng tới áng can qua, địch lều ta dưỡng tính ta. (Ngôn chí 18.1). x. xung đột.
Y Phó 伊傅
dt. tức Y Doãn và Phó Duyệt. Đời dùng người có tài Y, Phó, nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan. (Bảo kính 160.5). x. Phó, Y Doãn, Thương Chu.
yêng hùng 英雄
dt. âm đọc trại của anh hùng, hàm ý phản nghĩa. Việc ngoài hương đảng chớ đôi co, thấy kẻ yêng hùng hãy dịn cho. (Bảo kính 176.2). x. anh hùng.
yêu đương 腰當
đgt. <từ cổ> quý, trọng, thích, nghĩa, sắc thái và phạm vi sử dụng khác ngày nay. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.7). yêu đang [Paulus của 1895: 464].
âu 鷗
dt. loài chim nước, lông trắng, cánh dài mà nhỏ, ăn các loài thuỷ sản. sa âu: chim âu trên bãi cát men sông. Diếp còn theo tiên gác phượng; rày đà kết bạn sa âu. (Bảo kính 162.4). Kết bạn với chim âu ngoài bãi cát, dịch từ chữ âu minh 鷗盟, ví với cuộc sống thoái ẩn, gần gũi với thiên nhiên. Lục Du đời Tống trong bài Túc hứng viết: “hạc oán nhờ ai giải, hẹn âu sợ lạnh rồi” (鶴怨凭誰解,鷗盟恐已寒 hạc oán bằng thuỳ giải, âu minh khủng dĩ hàn).
ích chi 益之
tt. HVVT không có lợi gì. Cốc lại thửa làm càng tổn thiệt, ích chi còn muốn nhọc chân tay? (Bảo kính 177.6)‖ Bại tan gia thất đời từng thấy, tổn hại tinh thần sự ích chi! (Giới sắc 190.6)‖ x. hữu ích.
ông 翁
◎ Ss đối ứng ɔŋ (20 thổ ngữ Mường), tɔ (1), dɔ dɔ (1) [NV Tài 2005: 256]. x. ngư ông.
dt. đàn ông đã có tuổi. Diếp huyện hoa còn quyến khách; rày biên tuyết đã nên ông. (Thuật hứng 62.4).
dt. (loại từ) trỏ người già. Phơ phơ đầu bạc ông câu cá; lẻo lẻo duềnh xanh con mắt mèo. (Tự thán 101.5).
đt. từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Sự thế dữ lành ai hỏi đến; bảo rằng ông đã điếc hai tai. (Ngôn chí 6.8, 11.8)‖ (Mạn thuật 28.8).
ăn 咹
◎ Ss đối ứng ạn² (Mường), ʔăn¹ (Rục), ʔan (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 63], ăn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 172].
đgt. nhai nuốt đồ vào bộ máy tiêu hoá. (Ngôn chí 4.3, 20.1) no ăn. (Trần tình 38.2)‖ Cơm kẻ bất nhân ăn ấy trớ; áo người vô nghĩa mặc chăng thà. (Trần tình 39.3)‖ (Bảo kính 134.6, 140.3, 149.8, 150.7, 149.3, 173.4)‖ Ít ăn thì lại ít người làm. (Bảo kính 174.4)‖ Ăn có dừng thì việc có dừng. (Bảo kính 181.8)‖ (Giá 238.3)‖ (Miêu 251.6) Cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ Cơm ăn. (Thuật hứng 67.5)‖ (Huấn Nam Tử 192.6)‖ Đói lại ăn. (Tự thán 110.1)‖ Xưa đà có câu truyền bảo; “làm biếng hay ăn lở non”. (Huấn Nam Tử 192.8), dịch câu toạ thực sơn băng 坐食山崩, Ss miệng ăn núi lở. Tng.Ăn trái, dưỡng cây. (Bảo kính 137.1).
đgt. (bóng) hưởng. Miễn là tiêu sái qua ngày tháng; lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu. (Mạn thuật 24.8)‖ (Mạn thuật 27.6)‖ (Tự thán 87.2)‖ (Bảo kính 146.4)
đao binh 刀兵
dt. <từ cổ> chiến tranh loạn lạc. Nẻo từ nước có đao binh, nấn ná am quê cảnh cực thanh. (Tự thán 107.1).
đua 都
đgt. giành lấy phần thắng trong sự cạnh tranh. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.4)‖ Đua hơi (Tự thán 85.1)‖ Đua lành cùng thế mựa đua khôn. (Tự thán 111.4)‖ Đua nhọc. (Bảo kính 135.8)‖ Chớ đua huyết khí. (Bảo kính 176.5)‖ Đua khí huyết. (Giới nộ 191.3)‖ Đua nhan sắc. (Cúc 216.1).
đuốc 燭
◎ Nôm: 𤒘 Đọc theo âm THV. Âm HTC: tjuk (Lý Phương Quế). AHV: chúc. Ss đối ứng tiəm, diəm (23 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 217]. Chứng tỏ, “đuốc” gốc Hán (âm THV), “diêm” gốc Hán Việt-Mường (焰火 AHV: diệm hoả), tiếng Việt chỉ còn bảo lưu “diêm” ở nghĩa “đồ đánh lửa” (diêm sinh, diêm tiêu) [LN Trụ 1959: 132].
dt. bó củi dùng để đốt sáng. Bốn bể nhẫn còn mong đuốc đốt, dầu về dầu ở mặc ta dầu. (Bảo kính 154.7). Sách Nhĩ Nhã chú sớ có câu: “Bốn mùa hoà thuận là đuốc ngọc, chua rằng: đạo chiếu như ánh sáng, khiến xuân vì thế nảy nở, hè vì thế lớn đầy, thu vì thế thâu tàng, đông vì thế an ổn.” (四時和謂之玉燭注道光照春為發生夏為長贏秋為收成冬為安寧). Sách Từ Nguyên giải thích rằng đức của vua như ngọc mà sáng như đuốc, có thể gây điềm lành khiến cho khí hậu thuận hoà. Đông Phương Sóc truyện có đoạn: “lấy rồng ngậm đuốc để chiếu cửa trời, đời trị thì lửa sáng, đời loạn thì lửa tối”. [ĐDA: 798]. Phiên khác: đúc chuốt: “xây đắp, sửa sang cho đẹp” (TVG, Schneider, PL)‖ Cầm đuốc chơi đêm. (Vãn xuân 195.7)‖ (Tích cảnh thi 204.4, 205.1). x. cầm đốc chơi đêm, bỉnh chúc dạ du.
đài 大
◎ âm HHV. AHV: đại.
tt. lớn. Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi, ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài? (Trừ tịch 194.8).
đàn chê 弹吱
đgt. <từ cổ> chê cười. Ắt muốn đến chơi thành thị nữa, âu là non nước nó đàn chê. (Tự thán 88.8).‖ chê đàn. Chú bác chê đàn ← 伯叔論非 (Phật Thuyết 19a). Tới thu lại thấy yêu đương nữa, mựa chớ đàn chê thiếp bạc duyên. (hông đức b. 58).
đàn tao 壇騷
dt. dịch chữ tao đàn, văn đàn, thi đàn. Miệng khiến tửu binh pha luỹ khúc, mình làm thi tướng đánh đàn tao (Tự thán 89.4). Đánh đàn tao: chữ “đánh” ghi bằng 頂 (AHV: đảnh, đỉnh). Schneider, VVK và PL phiên “đứng”. Nay theo cách phiên của TVG, ĐDA, BVN, MQL. Bởi đây là một lối chơi chữ thường thấy của Nguyễn Trãi (xem thêm bài trư). Bài này đang nói về “trường chính trị” cũng như là “chiến trường”, cho nên mới nói đến “tài trí”, “quyền”, “tửu binh”, “luỹ khúc”, “thi tướng”, “đàn tao”, “tượng- mã”, “anh hùng”. Câu trên đã là “pha luỹ khúc” (xông pha chiến luỹ) thì dưới cũng nên là “đánh đàn tao”, như thế độ tập trung ngôn từ ở đây sẽ là yếu tố quyết định cho phương án phiên âm. x. thi tướng.
đâm 󰝡
◎ Ss đối ứng: tăm (Tày) [HTA 2003: 494], tâm² (nguồn), tâm² (Mường bi) [NV Tài 1993: 236]. .
đgt. <từ cổ> giã. “dam gao, xay lua: tundere et molere oryzam. Coi dam”. [Morrone 1838 : 233]. Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt, khoan khoan những lệ ác tan vầng. (Tích cảnh thi 199.3). Nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm (Trần Nhân Tông - cư trần 21).
đông quân 東君
dt. thần mặt trời, thần mùa xuân trong thần thoại. Mới trách thanh đồng tin diễn đến, bởi chưng hệ chúa đông quân. (Tích cảnh thi 210.4, 211.1).
được 得
◎ Nôm: 特 AHV: đắc. *tək [Schuessler 2007: 207], tơk4 (Chứt) [NV Tài 1993: 236], dɯək (2 thổ ngữ Mường), an (27 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 218]. Như vậy, “được” là từ hán Việt-Mường, “ản” [NV Khang 2001: 22- 23] là từ gốc Mường. x. trật.
đgt. giành phần thắng. Thân nhàn dầu tới dầu lui, thua được bằng cờ, ai kẻ đôi. (Ngôn chí 13.2)‖ (Mạn thuật 27.7)‖ (Thuật hứng 58.3)‖ (Tự thán 103.3)‖ (Bảo kính 156.8, 161.4, 152.3)‖ (Tích cảnh thi 204.2).
đgt. chiếm làm sở hữu của mình, có, có được. (Mạn thuật 23.5, 24.4, 24.8)‖ (Trần tình 39.2)‖ (Thuật hứng 69.1)‖ (Tự thuật 121.2)‖ (Bảo kính 128.1, 131.4)‖ Rừng Nho quãng, nấn ngàn im, hột cải tình cờ được mũi kim. (Bảo kính 150.2, 154.2, 162.5, 163.2, 164.7, 171.8, 187.2). Ba xuân thì được chín mươi ngày, sinh vật lòng trời chẳng tây. (Tích cảnh thi 209.1).
p. từ biểu thị việc đạt kết quả (thường đứng sau động từ). (Ngôn chí 4.8, 12.7, 16.8, 19.5, 20.7)‖ (Trần tình 37.4, 39.6, 42.7)‖ (Thuật hứng 68.1)‖ (Tự thán 81.4, 81.7, 85.8, 97.7, 104.8)‖ (Bảo kính 130.6, 144.3, 154.4, 156.3, 160.7, 161.7, 175.5, 179.2, 186.1)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.4)‖ (Cúc 216.7)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Đào hoa thi 232.2)‖ (Hoàng tinh 234.1)‖ (Lão dung 239.1)‖ (Liên hoa 243.2)‖ (Cam đường 245.2)‖ Chiếm được thiều quang chín mươi, day day hoa nở tốt hoà tươi. (Dương 247.1).
p. từ biểu thị thụ động, hưởng nhận (đứng trước động từ và tính từ). Vàng bạc nhà chăng có mỗ phân, lành thay cơm cám được no ăn. (Trần tình 38.2)‖ (Thuật hứng 47.8, 53.6)‖ (Tự thán 74.2, 78.7, 82.2, 99.2, 109.2)‖ (Tự thuật 112.6, 114.8, 116.2)‖ (Bảo kính 132.8, 133.8, 143.8, 145.7, 153.8, 177.2, 185.2)‖ (Quy Côn Sơn 189.2)‖ (Tích cảnh thi 203.2)‖ (Cúc 217.7)‖ (Giá 238.3)‖ (Mộc hoa 241.2)‖ (Miêu 251.3)‖ (Trư 252.2)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.6).
p. từ biểu thị khuyên răn. Phu phụ đạo thường chăng được trớ, nối tông hoạ phải một đôi khi. (Giới sắc 190.7).
được hay chăng 特咍庄
ng cụm từ để hỏi thăm dò, như Được hay không được. Một phút thanh nhàn trong khuở ấy, nghìn vàng ước đổi được hay chăng? (Tự thán 77.8).
đạo thánh bằng tơ 道聖朋𮈔
đc. <Nho> Trần Lượng 陳亮 đời Tống trong bài Dữ ưng trọng thực thư có câu: “Nếu chẳng có các nho sĩ đi du thuyết để ngăn ngừa, thì cái thế sụp trong vỡ ngoài đã thành sự thực rồi, nên đạo ta mới được bất tận như tơ vậy.” (苟無儒先生駕說以辟之,則中崩外潰之勢遂成,吾道之不絕如縷耳). Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.6).
đất con ong 坦昆螉
dt. đất xấu, ít màu, có nhiều cục vón và lỗ trông như tổ ong. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1). cn đá ong.
đầu kế 頭髻
dt. HVVT đầu kết búi tóc ở sau. “kế (髻) là cái búi tóc” [Phạm Đình Hổ 1827: 17b]. Đầu kế lăng căng những hổ, thân hèn lục cục mỗ già. (Tự thán 94.3).
đắng cay 䔲荄
tt. (vị giác) dịch chữ tân khổ, tân 辛 là cay, khổ 苦 là đắng. Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, tật được tiêu nhờ thuốc đắng cay. (Tự thuật 112.6).
tt. (cảm giác) khổ đau. Mùi thế đắng cay cùng mặn chát, ít nhiều đã vấy một hai phen. (Thuật hứng 46.7).
đắp 答 / 㙮 / 荅
◎ Ss đối ứng tăp, tum, dum (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 210].
đgt. xây, bảo vệ. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6).
đgt. phủ chăn lên mình. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ Ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng. (Tích cảnh thi 208.4).
đgt. <từ cổ> đổi, lưu tích còn trong đắp đổi. Lấy khi phú quý đắp cơ hàn, vần chuyển chăng dừng sự thế gian (Bảo kính 133.1, 144.6).
đgt. <từ cổ> che tai, bịt tai không nghe [MQL 2001: 750]. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ (Bảo kính 165.8). Ngậm miệng đắp tai, hề cho hoạ cả (Trần Nhân Tông- Đắc ).
đắp đổi 㙮対
đgt. <từ cổ> xoay vần, chu tuần, luân lưu theo một chu trình định sẵn, “xếp có thứ tự” [Rhodes 1651 tb1994: 85]. Tự nhiên đắp đổi đạo trời, tiêu trưởng doanh hư một phút dời. (Tự thán 104.1). Thế sự tuần hoàn hay đắp đổi (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân Am 10). Đêm ngày đắp đổi traNH Hoành tương liên. (Thiên Nam Ngữ Lục 45).
đến tuổi 旦歲
tt. <từ cổ> có tuổi, luống tuổi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.3).
đều hết 調歇
đt. <từ cổ> hết thảy, thảy thảy, đều = hết. Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng. (Tức sự 126.8)‖ (Thái cầu 253.7).
đỉnh 嵿 / 頂
AHV: đính, như sơn đính (đỉnh núi), ốc đính (nóc nhà), bình đính mạo (mũ đỉnh bằng).
dt. chóp núi, đỉnh núi.
dt. chóp của vật (ở đây là trỏ ngọn cây). Non tây bóng ác đã măng tằng, dìn đỉnh tùng thu vãng chừng. (Tự thán 98.2).
dt. chóp của đầu (ở đây là trỏ cái mào của chim hạc). Cánh xâm bạch tuyết mười phần bạc, đỉnh nhuốm đan sa chín chuyển hồng. (Lão hạc 248.6).
đốt 節
◎ Nôm: 炪 AHV: tiết.
dt. đoạn giữa các mấu trên thân cây. Ăn nước kìa ai được thú, lần từng đốt mới hay mùi. (Giá 238.4).
đổi lần 對吝 / 対吝
đgt. <từ cổ> chuyển vòng cho nhau, chuyển lần chuyển lượt cho nhau một cách tuần tự, trỏ việc chu lưu tuần hoàn của bốn mùa. cn Đắp đổi. Đông đà muộn lại sang xuân, xuân muộn thì hè lại đổi lần (Thu nguyệt 198.2)
đgt. thay đổi theo lượt, biến thiên. Đổi lần đã mấy áng phồn hoa, dầu ngặt, ta vui đạo ta. (Bảo kính 168.1).
động 動
đgt. lay động. (Ngôn chí 5.3, 17.3)‖ Cội rễ bền dời chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3)‖ (Thái cầu 253.6).
tt. trái với tĩnh. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.4).
đgt. tình cảm dấy lên, trong xúc động. Trong khi hứng động bề đêm tuyết, ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.7)‖ (Tự thán 84.3)‖ (Tích cảnh thi 201.2)‖ Động lòng. (Cam đường 245.4)
đgt. vang. Nha tiêm tiếng động án Chu Dịch, thạch đỉnh hương tàn khói thuỷ trầm. (Tự thuật 119.5)
đới tục 帶俗
đgt. mang tục. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, chủ vô tâm ỷ khách vô tâm. (Ngôn chí 5.5). Tiền Vịnh trong bài bút ký Lý viên tùng thoại có câu: “nghèo hèn gần nhã, phú quý gần tục, trong nhã mà mang tục có thể đủ sống; trong tục mà mang nhã có thể xử thế.” (貧賤近雅,富貴近俗,雅中帶俗,可以資生,俗中帶雅,可以處世).
đục 濁
◎ Nôm: 瀆 / 濁 Thích Danh chú âm 瀆 độc. [Vương Lực: 360]. Zhuó < drổwk [Baxter 1992: 195]. AHV: trọc. Đối ứng duk⁵ (Mường), tùk² (Rục), tuk (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60].
tt. không trong, có vẩn cặn. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5).
tt. ô trọc. Gió gấp hay là cỏ cứng, đục nhiều dễ biết đường quang. (Tự thán 93.6).
ảo hoá 幻化
tt. AHVhuyễn hoá, nghĩa gốc là “sự biến đổi”, trong đó huyễn = hoá (từ kép đẳng lập), như: “幻化也” (Quảng Vận). Liệt Tử phần chu mục vương ghi: “Những việc mà đến lúc cùng thì sẽ biến đổi, nhân theo hình mà thay đổi, đó gọi là hoá, gọi là ảo…… nên biết rằng việc ảo hoá không khác gì với việc sống chết.” (窮數達變,因形移易者,謂之化,謂之幻.…知幻化之不異生死也). Sau được dùng để dịch thuật nhữ māyā-upamatā của Phật giáo, trỏ vạn vật không có thực tính. Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “đời người tựa ảo hoá, thảy đều về hư vô” (人生似幻化,終當歸空無 nhân sinh tự ảo hoá, chung đương quy không vô). Toàn Đường Thi (q.806) bài Hàn san thi có câu: “phù sinh ảo hoá như đèn lụi, thân vùi dưới đất ấy hữu - vô” (浮生幻化如燈燼,塚內埋身是有無 phù sinh ảo hoá như đăng tận, trủng nội mai thân thị hữu vô). Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.3). ai ai sá cóc: bằng huyễn chiêm bao; xẩy tỉnh giấc hoè, châu rơi lã chã. Cóc hay thân huyễn, chẳng khác phù vân; vạn sự giai không, tựa dường bọt bã. [Trần Nhân Tông - Đắc Thú lâm tuyền 31a]. kinh kim cương có câu: “tất thảy phép hữu vi, như bóng bọt mộng ảo” (一切有爲法,如夢幻泡影 nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh).
ẩn 隱
đgt. <Nho> náu mình để giữ đạo, không tham gia các việc đời nhiễu nhương. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Nọ kẻ tranh hùng nên hán tướng, kìa ai từ tước ẩn Thương San. (Bảo kính 185.4).
ốc 沃
◎ Ss đối ứng hok (Mường) [Vương Lộc 2001: 127].
đgt. <từ cổ> gọi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.4). Chim ốc bạn cắn hoa nâng cúng (Huyền Quang - Vịnh Hoa ). kinh này danh ốc là gì? (Phật Thuyết 39a). Kinh này ốc là kinh nhân duyên. (Phật Thuyết 39a). Mị châu tên ốc đương thì thiếu đôi. (TNNL c. 779).
đgt. <từ cổ> rằng. Ngõ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.7) ngõ ốc: hiểu rằng.
bát 鉢 / 缽
◎ Ss đối ứng pat, bat (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 175].
dt. đồ đựng thức ăn. (Ngôn chí 15.5, 18.4)‖ Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc, Ngày tháng tiêu ma một bát chè. (Tự thán 73.6)‖ (Bảo kính 182.4).
thâu 收
đgt. thu lại, gom lại. (Ngôn chí 14.6)‖ (Trần tình 40.6)‖ (Bảo kính 153.6)‖ Một vườn hoa trúc, bốn bề thâu, Lánh thân nhàn được thú mầu. (Bảo kính 154.1).
phải 沛
tt. đúng. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2)‖ (Bảo kính 132.4, 149.2, 156.2, 165.7, 172.5, 173.7, 184.7).
đgt. <từ cổ> đúng là. Khó bền, mới phải người quân tử, Mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
đgt. cần, ở trong điều kiện không thể không làm, không thể khác. Cho về cho ở đều ơn chúa, Lọ phải xung xăng đến cửa quyền. (Thuật hứng 53.8, 57.2, 68.4)‖ (Bảo kính 131.8, 144.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4).
thân 身
dt. thân mình. Một thân lẩn quất đường khoa mục, Hai chữ mơ màng việc quốc gia. (Ngôn chí 8.3)‖ (Hoa mẫu đơn 233.1).
dt. cuộc sống, sinh mệnh. Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, Có thân chớ phải lợi danh vây. (Ngôn chí 11.2, 13.1)‖ (Mạn thuật 29.4)‖ (Mạn thuật 30.5, 32.1, 33.4, 34.8)‖ (Thuật hứng 46.4, 47.1, 47.3, 53., 59.5, 60.2, 62.1)‖ (Tự thán 72.6).
dt. thân = phận, trong thân phận. Lòng chẳng mắc tham là của báu, Người mà hết lụy ấy thân tiên. (Tự thán 74.6)‖ Trung hiếu cương thường lòng đỏ, tự nhiên lọn nghiệp ba thân. (Bảo kính 187.8) dịch chữ tam thân 三身‖ (Tự thán 83.2, 94.4, 103.5, 106.1)‖ (Bảo kính 154.2, 165.2, 180.1, 184.8)‖ (Tích cảnh thi 204.1)‖ (Lão dung 239.1).
phương 方
dt. phương cách, phương hướng. Rủ vượn hạc xin phương giải tục, Quyến trúc mai kết bạn tri âm. (Tự thuật 119.3)‖ (Hoàng tinh 234.2).
dt. phương diện. Đạo đức hiền lành được mọi phương, Tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.1)
dt. chốn, phương hướng. Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân chàu đủ khắp đòi phương. (Bảo kính 170.8).
từ 自
gt. từ khi, từ lúc. Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ, Quạt đã hầu thu lòng Tiệp dư. (Mạn thuật 34.5)‖ Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.1)‖ từ nay (Thuật hứng 59.8)‖ (Tự thán 107.1)‖ (Tự thuật 118.5)‖ (Vãn xuân 195.1)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.3)‖ (Trúc thi 223.3)‖ (Ba tiêu 236.1). x. tuồng.
cờ 旗
AHV: kỳ. đọc theo âm THV.
dt. tinh kỳ. Đàn trầm đạn ngọc sao bắc, Phất dõi cờ lau gió tây. (Nhạn trận 249.4), dịch chữ lô kỳ 蘆旗.