Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry dịch cụm
bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh 包饒尼辱𤳷尼荣
đc. dịch cụm thủ nhục tri vinh. Đạo Đức Kinh của Lão Tử ghi: “Biết vinh, giữ nhục, làm cái hay cho thiên hạ; làm cái hay cho thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu sẽ đầy đủ, mà trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo, xẻ ra thành đồ dùng; thánh nhân giữ thuần phác mà điều khiển trăm quan, cho nên người giỏi trị nước không chia cắt chi li.” (知其榮,守其辱,為天下谷。為天下谷,常德乃足,復歸於樸。樸散則為器,聖人用之,則為官長,故大制不割). Nguyễn Hiến Lê bình: “Câu cuối khuyên người trị dân phải hồn nhiên, chất phác, cứ tự nhiên để cho mọi vật phát triển theo tính của chúng, không đa sự, phân tích chi li.”. Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.8)
cho nên 朱𢧚
lt. từ liên kết giữa hai vế nguyên nhân- kết quả. Bằng rồng nọ ai phen kịp, mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8)‖ Già trui thép cho nên mẻ, bể nồi hương bởi ngã bàn. (Bảo kính 185.5).
chốn chốn 准准
dt. <từ cổ> nơi nơi. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.6).
cầm 扲
◎ Thông với 擒 (ngũ âm Tập Vận), đồng nghĩa với 把 (hán điển). Ss đối ứng: kɤm (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 188].
đgt. dùng tay nhấc lên. Tay cầm dao sắc ← 手執利刀 (Phật Thuyết 25a). cầm gậy trúc một mình lên (TKML iii: 17a). Đìa cỏ được câu ngâm gió, hiên mai cầm chén hỏi trăng. (Mạn thuật 23.6), dịch bài Bả tửu vấn nguyệt của Lý Bạch: “trời xanh trăng sáng tự bao lâu ? ngừng chén nay ta hỏi một câu! trăng sáng nào ai vin đến được, ta đi trăng lại mãi theo nhau?… người nay đâu thấy vầng trăng cũ, trăng vẫn từng soi dáng cố nhân. Xưa nay người tựa nước trôi xuôi, cùng ngắm bao đêm ánh nguyệt ngời, mong ước ca say trong tiệc rượu, chén vàng rượu ngọt có trăng soi”. (Nguyễn Phước Hậu dịch) (青天有月來幾時, 我今停杯一問之。 人攀明月不可得, 月行卻與人相隨。… 今人不見古時月, 今月曾經照古人。 古人今人若流水, 共看明月皆如此。 唯願當歌對酒時,月光常照金樽裡).
đgt. (bóng) chắc trong tay, năng lực đủ để thực hiện. Kẻ khôn thì bảo kẻ ngây phàm, nghề nghiệp cầm tay ở mới cam. (Bảo kính 173.2).
đgt. <từ cổ> bắt, giữ, ghìm, nhốt, thông với 擒 = 捉 [Từ Nguyên 2000: 858]. Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính 137.3). cn cầm lòng.
đgt. <từ cổ> đổi, trao đổi (dựa trên giá trị của các vật), lưu tích trong trong cầm cố, cầm đồ. “cầm cố: đem tới mà thế mà đợ, hoặc chịu của thế đợ. cầm thế: đem của thế mà lấy tiền bạc” [Paulus của 1985: 94]. Thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng. (Thuật hứng 55.8), dịch câu xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim 春宵一刻值千金. (Tô Đông Pha - xuân dạ).
day 移
AHV: di. OCM *lai, OCB *ljaj. MK: OKhmer *re /ree ~rəə / [Schuessler 2007: 566]. dời, rê.
đgt. lay, rung. Cội rễ bền day chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3). x. dời.
dài 𨱽 / 曵
◎ Ss đối ứng zaj (25 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 204].
tt. trái với ngắn. Dài hàm nhọn mũi cứng lông. (Trư 252.1). x. dài hàm.
tt. lâu (thời gian), lưu tích còn trong từ Dài lâu. (Tự thán 84.4, 91.6, 92.8)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1).
tt. trong vắn dài, trỏ sự khó lường. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6).
phục linh 茯苓
dt. loại nấm ký sinh trên thân cây tùng, màu đen, có vằn, có nếp nhăn, bên trong thịt có màu trắng hoặc hồng; hấp thu nhiều chất từ thân tùng nên được gọi là phục thần 茯神, là loại thuốc quý. Hổ phách phục linh dìn mới biết, dành còn để đỡ dân này. (Tùng 220.3).