Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry dịch câu
anh 󰞿, 英
◎ (tục tự của 嬰). Ss đối ứng εŋ² (Giáp Lai, Yến Mao, Ba Trại), εɲ² (Thạch Sơn, Mường Dồ) [NV Tài 2005: 171].
dt. trong quan hệ với tam (em). (Thuật hứng 64.6)‖ (Bảo kính 139.6)‖ Tuy rằng bốn bể cũng anh tam, có kẻ hiền lành, có kẻ phàm. (Bảo kính 174.1). bốn bể cũng anh tam dịch câu tứ hải giai huynh đệ. Ss cha thì già, tam thì dại.
chân chạy cánh bay 眞𧼋𦑃󱗟
đc. <Đạo> thú và chim. Huyền Thông Chân Kinh thiên Đạo nguyên viết: “Đạo cao không thể đo, sâu không thể lường, bao trùm trời đất, bẩm thụ vô hình, nguồn chảy ào ào, rỗng mà không đầy,…, ước giản mà có thể mở rộng, u ẩn mà có thể sáng rõ, nhu nhược mà có thể cương kiện, nuốt âm nhả dương, làm tỏ tam quang; núi vì thế cao, vực vì thế sâu, thú vì thế chạy, chim vì thế bay, lân vì thế chơi, phượng vì thế lượn, tinh tú vì thế đắp đổi.” (夫道者,高不可極,深不可測,苞裹天地,稟受無形,原流泏泏,沖而不盈,…,約而能張,幽而能明,柔而能剛,含陰吐陽,而章三光;山以之高,淵以之深,獸以之走,鳥以之飛,麟以之遊,鳳以之翔,星曆以之行). Chân chạy cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.7).
chừng 程
◎ Nôm: 澄 dt. âm HHV của trình 程, trỏ quãng đường hoặc quãng thời gian xác định đại khái. trình 程 là chữ hình thanh, gồm bộ hoà 禾 (nghĩa phù) và chữ trình 呈 (thanh phù). Nghĩa gốc là trỏ việc cân đo cũng như dụng cụ đo lường lúa gạo. Sách Tuân Tử thiên Chí sĩ : “chừng là cái chuẩn của vật, lễ là cái chuẩn của tiết độ; chừng để định số lượng; lễ để định nhân luân” (程者、物之準也,禮者、節之準也;程以立數,禮以定倫 trình giả vật chi chuẩn dã, lễ giả tiết chi chuẩn dã; trình dĩ lập số, lễ dĩ định luân). Nghĩa phái sinh của trình/ chừng là trỏ hạn độ (đo lường), giới hạn (thời gian), ví dụ: bài Nguỵ đô phú có câu: “đêm trăng có hạn” (明宵有程 minh tiêu hữu trình). Phái sinh tiếp, trình còn để trỏ giới hạn của không gian, quãng đường, như lộ trình. Rồi được dùng để trỏ cả quãng đường lẫn con đường.
dt. <từ cổ> quãng đường hoặc khoảng thời gian xác định đại khái. [Vương Lộc 2001: 36]. Non tây bóng ác đã măng tằng, dìn đỉnh tùng thu vãng chừng. (Tự thán 98.2)‖ Chiều người ngựa cũng vui chân qua chừng (lưu nữ tướng, c. 268)‖ ai ngờ gặp đứa gió trăng, cho nên khuất nẻo lạc chừng khốn thay! (trinh thử, c. 65-66)
cành 梗
AHV: ngạnh, âm phiên thiết: cổ hạnh thiết, âm cành 古杏切,音鯁 (Đường vận, Quảng Vận, Tập Vận), có các âm HHV như: ngành, nhành, cặng, cọng, cậng, cuộng, cuống, ngồng, chành, chánh. [xem thêm TT Dương 2011b]. hoa ngạnh 花梗: cuống hoa. thái ngạnh 菜梗: cọng rau. bình ngạnh 萍梗: cánh bèo. Ss đối ứng: 梗 cáng, kéng (Tày) [HTA 2003: 51, 228]. Ss đối ứng: kɛɲ, ɲɛɲ (21 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
dt. nhành cây. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.5)‖ (Thuật hứng 50.5)‖ (Bảo kính 142.2, 151.2, 151.3) ‖ (Tảo xuân 193.5)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.3)‖ (Mai thi 225.3).
cấu 構
đgt. <từ cổ> tạo nên. Đất dư dưỡng được khóm hoàng tinh, cấu phương lành để dưỡng mình. (Hoàng tinh 234.2). non cương cấu lạ, đất dải gây thiêng. (thận trai - quan phu tử: 3b). Ngao cực gây thiêng, hồ tinh cấu rạng (Nguyễn Bá Lân - Trương Lưu ).
cốt nhục 骨肉
dt. xương thịt, trỏ mối quan hệ huyết thống. Văn Vương thế tử ghi: “Tình thân cốt nhục chớ có đoạn tuyệt.” (骨肉之親無絕也). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).
gối 檜
◎ âm PVM: gol [VĐ Nghiệu 2011: 46].
đgt. kề chờm lên, đậu, đỗ (trên bến, bờ nước). Nước biếc non xanh, thuyền gối bãi, đêm thanh, nguyệt bạc, khách lên lầu. (Bảo kính 153.3).
hanh 亨
đgt. hanh thông, thuận lợi, suôn sẻ. Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2), dịch câu “cùng tắc biến, biến tắc thông” (窮則變變則通) [Kinh Dịch].
lão mai 老梅
dt. cây mai già, mai cổ thụ. Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc, lão mai sá học nết người thanh. (Tự thán 86.4).
lạng 两
dt. đơn vị tiêu chuẩn trong đo lường trọng lượng, giá trị tiền bạc xưa. “Lạng là một lạng mười tiền.” [Phạm Đình Hổ 1827: 40b]. Thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng. (Thuật hứng 55.8). lượng.
lấy làm 𥙩𬈋
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (để làm). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân Các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.1).
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (coi là, cho là). Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.4).
lợi 利
AHV: lị. Kỵ huý Lê Thái Tổ [NĐ Thọ 1997: 57- 62]. Chuỗi đồng nguyên tự: lời - lợi - lỡi - lãi.
dt. được về của cải. (Ngôn chí 20.6)‖ (Bảo kính 128.3)‖ Bể học trường văn hằng nhặt bới, đường danh suối lợi, hiểm khôn tìm. (Bảo kính 150.4, 165.2, 173.7).
miêu 猫
dt. mèo. Tên bài số 251.
ngả 我
đgt. nghiêng xuống thấp, lưu tích còn trong ngả nghiêng. Tà dương bóng ngả khuở giang lâu, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 14.1)‖ Trường văn nằm ngả mấy thu dư, uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư” (Mạn thuật 34.1).
nhà bằng khánh 茹朋磬
đc. HVVT Thng sách Quốc Ngữ phần Lỗ ngữ thượng ghi: “Nhà như treo khánh, đồng chẳng cỏ xanh” (室如懸磬,野無青草 thất như huyền khánh, dã vô thanh thảo), sau cụm thất như huyền khánh trở thành thành ngữ, ý nói trong nhà rỗng không, nghèo xơ xác không có gì. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.5).
nhắn nhủ 認󱸺
đgt. gửi lời khuyên. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
phong vương 蜂王
dt. ong chúa. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). Bướm có thói quen hay vào hút mật của ong. Những khi ấy, ong thợ tập trung số lượng lớn ngoài cửa tổ, chĩa nọc ra phía bướm và vỗ cánh xua đuổi khiến bướm sợ mà không dám vào nữa. Chữ “khóc rân” là trỏ sự bất lực của bướm trước bầy ong.[xem thêm TVG, 1956: 176]. x. trêu tức.
sai 差
AHV: sa. Âm hán cổ: *?sraj [Schuessler 1988: 57].
đgt. khiến, trong sai phái. Đường tuyết thông còn giá in, đã sai én ngọc lại, cho dìn. (Tảo xuân 193.2).
thạch 石
dt. đá. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch. (Thuật hứng 61.7). x. đá.
tiếng 聲
◎ Nôm: 㗂 Ss đối ứng t’iəŋ (15 thổ ngữ Mường), siəŋ (15) [NV Tài 2005: 279], tiểng, cằm, heng [HV Ma 1984: 456]. Ss tương ứng khuôn vần -anh/-inh (AHV) -iêng (THV): 城 thành chiềng, 呈 trành/ trình chiềng, 正 chánh/ chính chiếng (tứ -), 正 chánh/ chính giêng, 精靈 tinh (linh-) thiêng (-liêng), 鉦 chinh chiêng (cái-), 檠 kình kiềng, 領 (bản) lĩnh (vốn) liếng [An Chi 2006 t5: 148; 2005 t1: 413; t2: 356], 鏡 kính kiếng, 驚 kinh kiềng,… khuôn vần âm HTC của 聲: -jeŋ (Baxter, Phan Ngộ Vân). Như vậy, tiếng là âm THV.
dt. âm thanh. Ngâm sách “thằng chài” trong khuở ấy. Tiếng trào dậy khắp Thương Lang (Ngôn chí 9.8, 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 35.4)‖ (Thuật hứng 61.8, 70.2)‖ (Tự thán 98.4)‖ (Tự thuật 119.5)‖ (Tức sự 123.8)‖ (Bảo kính 150.8, 151.6, 164.8, 170.7)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 201.1)‖ (Nhạn trận 249.6).
dt. tai tiếng, danh tiếng, lời nghị khen bao biếm. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ Tiếng thị phi. (Thuật hứng 57.8)‖ (Tự thán 75.1, 76.2, 84.6), Tiếng hổ hang. (Tự thán 93.8)‖ (Bảo kính 140.6)‖ (Trúc thi 221.3, 222.1).
tóc 𩯀 / 𬨻
◎ {cá + tốc}. Kiểu tái lập cho tiếng Việt tiền cổ: *ksok [TT Dương 2012a]. Âm PVM: *usŭk [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. tóc trên đầu. Lòng một tấc đan còn nhớ chúa, tóc hai phần bạc bởi thương thu. (Trần tình 43.4)‖ (Thuật hứng 46.5)‖ tóc. (Tự thán 80.1)‖ Biên tóc. (Tự thán 82.6, 99.5)‖ (Tự thuật 112.5, 113.4)‖ (Bảo kính 165.4).
tông 宗
◎ Nôm: 宗 Xét kỵ huý thời Nguyễn [NĐ Thọ 1997: 142].
dt. tổ tông. (Bảo kính 130.4)‖ tông có tộc mựa sơ thay, vạn diệp thiên chi bởi một cây. (Bảo kính 145.1)‖ (Giới sắc 190.8).
vinh 榮
dt. trái với nhục. Lã Thị Xuân Thu có câu: “Vả lại, kẻ nhục cũng có lúc vinh” (且辱者也而荣 thả nhục giả dã nhi vinh). Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.8). x. bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh, xét.
xâm 侵
đgt. <từ cổ> lấn vào, phạm vào. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.4).
đgt. <từ cổ> (bóng nắng) dần dần nhích vào, làm ấm dần lên. Cửa song dãi, xâm hơi nắng, tiếng vượn kêu, vang cách non. (Ngôn chí 21.3).
đgt. nhiễm vào. Hái cúc ương lan, hương bén áo. Tìm mai đạp nguyệt, tuyết xâm khăn. (Thuật hứng 60.6)‖ (Tự thuật 119.2)‖ (Lão hạc 248.5).
xủ 醜
◎ Phiên khác: xấu: trăng mờ (TVG, ĐDA, BVN, VVK, MQL, PL). Nay theo Schneider.
đgt. <từ cổ> chiếu xuống, toả xuống một cách rạng rỡ. “醜 xủ: đổ xuống, bỏ xuống, thòng xuống. Xủ xuống. id. xủ rèm: bỏ rèm xuống cho khuất. xủ tay áo: bỏ thõng tay áo, giũ tay áo xuống” [Paulus của 1895 1898: 1205], “醜 xủ: pendulus, a, um; pendere. Xủ xuống: id.” [Taberd 1838: 616]. Với ngữ cảnh ở thế kỷ XV như dưới đây, chúng ta thấy, “xủ” còn mang nghĩa là “toả xuống, chiếu xuống”. Lặt hoa tàn, xem ngọc rụng, soi nguyệt xủ, kẻo đèn khêu. (Tự thán 105.6). Về nghĩa, thì “trăng sáng” mới không cần đến “khêu đèn đọc sách”, cho nên khó có thể phiên là “trăng xấu” được. tàn vàng xủ lại chồi mai bạc, bóng ngọc rây vào cụm trúc xanh (Hồng Đức: 18.6). trên không vặc vặc trăng xủ, đáy nước hiu hiu gió đưa. (Hồng Đức: 37.3). pb xấu.
ép nè 押泥
◎ Phiên khác: ép nề (TVG, PL), ép nài (TVG).
đgt. “nè 泥: chà bổi, nhánh cây người ta hay dùng mà cắm choái, làm rào thưa” [Paulus của 1895: 688]. ép nè: (nghĩa đen) ép cành nhỏ mà giặm làm rào, cũng như ép uổng 押枉 là ép cành cây cho cong lại.
đgt. chèn ép, ép uổng. Chớ cậy sang mà ép nè, lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.1).
ý 意
đgt. dt. ý muốn, tâm nguyện. Âu lộ cùng ta dường có ý, đến đâu thì thấy nó đi theo. (Tự thán 101.7)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.6)‖ (Trúc thi 223.2)‖ (Đào hoa 229.3)‖ (Dương 247.3).
đóa 朵 / 朶
dt. <từ cổ> khóm, cụm. Sách Thuyết Văn ghi: “đóa: cây buông hoa tua tủa” (朶樹木垂朵朵也). Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.1).
dt. lượng từ của hoa. Ánh nước hoa in một đóa hồng, vện nhơ chẳng bén, “Bụt là lòng” (Mộc cận 237.1).
mạc 模
◎ (sic) < 摸. Phiên khác: mua (TVG, BVN).
đgt. <từ cổ> vẽ, tô, “mặt mạc: mặt nạ” (Béhaine 1773: 350, 279), “mạc: peindre” (Gustave Hue). Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn (Đặng Trần Côn- Chinh phụ ngâm) dịch từ câu Chinh nhân mạo  thùy đan thanh, Tử sĩ hồn  thùy ai điếu (征人貌誰丹青, 死士魂誰哀弔), chữ “mạc mặt” dùng để dịch chữ “mạo” và “đan thanh”, trong đó “đan thanh 丹青, tức chu sa hay đan sa có mầu hồng, và thạch thanh một khoáng chất có mầu xanh, là những bột vẽ, nên có nghĩa là hội họa, là vẽ, là sử sách”. (PX Hy 2006). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.2)‖ Bút thiêng Ma Cật, tay khôn mạc, Câu kháo Huyền Huy, ý chửa đông. (Thủy thiên nhất sắc 213.5)‖ hộ tượng: tượng vẽ mạc chưng mặt người (CNNA 44b).