Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry biểu tượng
Bao Chửng 包拯
dt. Bao Thanh Thiên (999 -1062), người Hợp Phì 合肥, Lô Châu 廬州, đời Tống (nay thuộc huyện An Huy 安徽), tự là hi nhân 希仁, tiến sĩ triều thiên thánh 天聖. Nhậm các chức tam ti hộ bộ phó sứ, sau lần lượt cải nhậm sang tri gián viện tri khai phong phủ, quyền ngự sử trung thừa, tam ti sứ…, ông nhiều lần luận tội quyền thần, phá nhiều án lớn. Năm gia dụ thứ sáu (1061), nhậm chức khu mật phó sứ, rồi mất vào năm sau, thuỵ hiệu là hiếu túc 孝肅. Bao Chửng làm quan đoán ngục rất sáng suốt, lại thêm tính cương trực, được coi là biểu tượng của hiền thần chính nghĩa. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.5).
bút 筆
◎ Ss đối ứng but (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 182].
dt. bút lông, một loại đồ trong văn phòng tứ bảo. Bến liễu mới dời, thuyền chở nguyệt, gác vân còn chử, bút đeo hương. (Bảo kính 157.4).
dt. Như văn bút, bút lực, trỏ khả năng sáng tác, viết lách. Bút thiêng. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.5)‖ (Cam đường 245.3)‖ (Ngôn chí 12.6).
chong đèn chực tuổi 終畑直嵗
đgt. Thng dịch cụm nhiên đăng thủ tuế 燃燈守歲 (thắp đèn chực tuổi), hay vi lô thủ tuế 圍爐守歲 (quây lò chực tuổi), hay thủ canh đãi tuế 守更待歲 (cầm canh đợi tuổi). Dân gian có chuyện, vào thời hồng hoang, có một con thú dữ cứ đến đêm ba mươi tháng chạp, lại từ dưới biển mò lên đất liền làm hại người, phá hoại ruộng vườn. Phải qua đến ngày hôm sau, mọi người mới có thể gặp mặt và chúc mừng không bị thú dữ ăn thịt. Đến một năm, quái thú đến một làng nọ, dân làng đều bị nó ăn thịt. Duy chỉ có mỗi một nhà mới cưới có treo đèn lồng đỏ, thì không sao cả. Lại có thêm một em bé mải đốt bộc trúc cả đêm cũng bình an vô sự. Nhân dân quanh vùng vì thế mới phát hiện ra rằng, con quái thú ấy sợ màu đỏ và sợ pháo trúc. Từ đó về sau, hễ cứ đến đêm ba mươi, nhà nhà đều treo đèn lồng đỏ. Ai cũng thức khuya, đốt pháo, khua chiêng đánh trống để đuổi ác thú, như thế thì gọi là “thủ tuế”. Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khua na đắng lỗ tai. (Trừ tịch 194.5).
chín 𫡦 / 𠃩
◎ Ss đối ứng cin (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 194].
dt. số đếm. Bề sáu mươi dư tám chín thu, Lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.1)‖ (Bảo kính 130.8, 154.3)‖ (Vãn xuân 195.2)‖ (Tích cảnh 209.1)‖ (Lão hạc 248.6). x. chín khúc.
chốn chốn 准准
dt. <từ cổ> nơi nơi. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.6).
còn 群
◎ Ss đối ứng kɔn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 200].
p. vẫn, vẫn cứ. Lại mừng nguyên khí vừa thịnh, còn cậy vì hay một chữ “đinh”. (Ngôn chí 7.8, 12.8, 14.7)‖ (Mạn thuật 25.2, 26.5, 30.8, 31.6, 36.8)‖ (Trần tình 38.7, 43.3, 51.7, 53.3, 54.8, 57.8, 62.3, 63.7)‖ (Tự thán 77.1, 78.8, 98.5, 107.7, 108.4, 111.1)‖ (Tự thuật 112.2, 118.4)‖ (Tức sự 123.3, 123.8, 124.5)‖ (Tự giới 127.5)‖ (Bảo kính 145.7, 154.7, 157.4, 162.3, 166.7, 167.3, 170.3, 175.2, 177.3, 177.6, 178.7, 181.7)‖ (Quy Côn Sơn 189.6)‖ (Giới sắc 190.2)‖ (Tích cảnh thi 200.1)‖ (Cúc 216.4)‖ (Cúc 217.5)‖ (Tùng 220.4)‖ (Ba tiêu 236.3)‖ (Lão dung 239.4)‖ (Cam đường 245.3).
đgt. tiếp tục tồn tại. Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.6, 12.5)‖ (Mạn thuật 24.5, 31.3, 32.4, 33.5, 34.3, 35.5, 36.2)‖ (Thuật hứng 49.4, 60.8, 64.8, 68.7)‖ (Tự thán 82.4, 87.2, 89.7)‖ (Tự thuật 117.1, 121.4)‖ (Bảo kính 130.7, 142.6, 149.1, 156.7, 165.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.7)‖ (Huấn Nam Tử 192.4)‖ (Tảo xuân 193.1)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 208.3, 211.3)‖ (Đào hoa thi 230.3)‖ (Hoa mẫu đơn 233.4).
p. còn … nghi vấn từ…cảm thán từ (dùng trong câu hỏi cảm thán). Câu hỏi phản vấn biểu thị thái độ cần chấm dứt một hành vi nào đó vẫn đang tiếp diễn tại thời điểm phát ngôn. Ấy còn lãng đãng làm chi nữa, sá tiếc mình chơi áng thuỷ vân. (Mạn thuật 29.7)‖ (Trần tình 45.7)‖ Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc, ấy còn bìu rịn lấy chi vay! (Tự thán 75.8).
cõi 𡎝
◎ âm THV, AHV: giới.
dt. <từ cổ> không gian rất rộng lớn thuộc tự nhiên. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.2)
dt. không gian sinh sống. (Thuật hứng 54.4), cõi tục dịch chữ tục giới‖ (Tự thán 110.6), cõi trần dịch chữ trần giới. Cũng như cõi đời dịch chữ thế giới. Trái với cõi tiên dịch chữ tiên giới, cõi trên dịch chữ thượng giới, cõi âm dịch chữ âm giới.
hòng 烘
◎ Phiên khác: nung: cái hẹn đã nung nấu trong lòng (TVG), hồng: ngọn lửa bốc cháy, ý nói hạn của mình đang thời cao điểm, chắc bài thơ này làm lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Côn Sơn (BVN), hồng: nung nấu (MQL, PL). Hòng: đã từng mong thực hiện được ước hẹn từ xưa như ngày nay. Hòng nghĩa là mong được, như nói: đừng có hòng! nay theo ĐDA.
đgt. <từ cổ> định, muốn, mong. Bẻ cái trúc hòng phân suối, quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3).
đgt. <từ cổ> “sắp tới…mệt hòng chết”. [Paulus của 1895: 445; Béhaine 1773]. Làm quan thơ dại, tài chẳng đủ, về ở thanh nhàn, hẹn đã hòng. (Thuật hứng 61.6)‖ Đổi thay nhạn cá đã hòng đầy niên kiều, nghĩa là “từ ngày thiếp về làm vợ chàng đến nay đã gần trọn một năm” [An Chi 2006 t5: 326].
hạ 夏
dt. mùa hè. Đông hiềm giá lạnh chằm mền kép, hạ lệ mồ hôi kết áo đơn. (Bảo kính 134.4)‖ Xuân qua còn bảo con đòi cuốc, hạ đến đà cho kẻ khác cày. (Bảo kính 177.4).
la đá 羅𥒥
dt. âm cổ của đá khi tiếng Việt vẫn còn tồn tại từ cận song tiết lata, lưu tích của âm này hiện còn trong một số tiếng dân tộc ở Việt Nam: lata² (Mày- Rục), ate² (Arem), tata² (Mã Liềng), tata² (Sách) [NV Tài 1976: 64]. Trần xuân ngọc lan căn cứ vào những cứ liệu trên và cứ liệu tiếng Mường (la tá, hay lá tá) để phiên âm [1978: 41-42]. la đá, theo An Chi, là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ 石 mà âm Hán Việt hiện đại là thạch (= đá). la là một hình thái âm tiết hoá của yếu tố đầu tiên trong một tổ hợp phụ âm đầu cổ xưa, có thể là *r của chữ 石. Âm tiết này đã rụng đi vì sự tồn tại của tiền âm tiết không phù hợp với xu hướng đơn tiết hoá điển hình của tiếng Việt [An Chi 2006 t4: 296]. Tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVII trở về trước vẫn còn từ này, như đã nêu. Lưu tích âm lata còn tồn tại trong tên vị thần đá là Lộ Đố Lộ Đá hiện đang được thờ ở một số địa phương như Tòng Củ (Hưng Yên) [ĐTB Tuyển 2001: 539-547], đây là biểu hiện của việc tín ngưỡng thờ đá đã bị hoà trộn với tín ngưỡng thờ các anh hùng và nhân vật lịch sử. Dấu người đi la đá mòn, đường hoa vướng vất trúc lòn. (Ngôn chí 21.1)‖ (Thuật hứng 54.1)‖ Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc, la đá hay mòn nghĩa chẳng mòn. (Tự thán 87.6). La đá tầng thang, đúc một hòn vẻn vẹn một hòn (Vịnh Hoa Yên tự )‖ Ơn nặng bằng núi đất, núi la đá. (Phật Thuyết 41b)‖ Vũ bạc thực mưa la đá (Tuệ Tĩnh- nam dược) ‖ Hoặc là nâng chưng dưới hòn la đá trong nơi chốn dưới núi ôc-tiêu (Tuệ Tĩnh- thiền tông 22b). x. đá.
Liêm Khê 濂溪
dt. Chu Liêm Khê 周濂溪 (1017-1073) nổi tiếng về việc đưa tư tưởng Đạo giáo vào đạo học. Tống Sử chép: “Chu Đôn Di 周敦頤, tự là Mậu Thúc 茂叔, người ở Doanh Đạo 營道, thuộc Đạo Châu 道州 (nay là huyện đạo 道, thuộc Hồ Nam 湖南). Tên ban đầu là Đôn Thực 敦實, nhưng để tránh tên huý cũ của vua anh tông nên đổi là di 頤. Nhờ người chú tên Trịnh Hướng 鄭向, là học sĩ ở Long Đồ Các 龍圖閣 nên Chu Đôn Di làm chức chủ bạ ở huyện Phân Ninh 分寧 (nay là huyện tu thuỷ 修水, giang tây)… do bệnh tật, ông xin về an trí ở nam khang quân 南康軍, nhân đó làm nhà bên chân núi liên hoa trong rặng lư sơn. Phía trước nhà có dòng suối chảy vào sông bồn, nên ông dựa theo nơi cư ngụ ở doanh đạo mà lấy tên là Liêm Khê 濂溪… khi mất, thọ 57 tuổi. Hoàng Đình Kiên 黃庭堅 khen: “nhân phẩm đôn di rất cao, lòng thênh thang như gió trong trăng tỏ… ông viết thái cực đồ thuyết để làm rõ gốc gác của thiên lý và nghiên cứu đầu đuôi của vạn vật.” Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực, dòng nước Liêm Khê lục nữa tràm. (Tự thán 97.6).
mừng thương 明傷
đgt. tt. vui buồn. Sự thế sá phòng khi được trật, lòng người tua đoán khuở mừng thương. (Bảo kính 128.6).
ngây 𬏝 / 疑
AHV : si. Về Từ Nguyên có hai khả năng. (1). “ngây” là một từ gốc Hán, nhưng bị đọc nhầm theo thanh phù “nghi”. (2) “ngây” là gốc Việt, nhưng ngẫu nhiên trùng hình với chữ Hán “si” 癡, với tự dạng như Paulus của 1895 ghi. Nay tạm theo thuyết sau.
đgt. <từ cổ> ngốc, dại, si dại, “cuồng trí, khùng,. Ngây ngây: cuồng tâm, lảng trí, mất trí” [Paulus của 1895 t2: 82]. Quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính 137.4), Ss Trình Minh Đạo trong gia huấn có câu: 官不在愚 quan bất tại ngu [TVG, 1956: 122]‖ (173.1)‖ Tử tái đường nghèo lòng mựa ngây. (Nhạn trận 249.8).
nhuộm chăng đen 染庄顛
đgt. <Nho> vốn dịch từ câu Niết nhi bất tri (Luận Ngữ). Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8). x. mài chăng khuyết.
phô bay 鋪悲
đt. <từ cổ> các ngươi, chúng mày. Phô: các. “phô ông. Phô ngươi. Phô gã. Phô đoàn ấy: illi, (vox contemptus). Phô loài ấy: illa animalia” [Taberd 1838: 396]. Nhắn bảo phô bay đạo cái con, nghe lượm lấy, lọ chi đòn. (Huấn Nam Tử 192.1). Phô bay xét nghe. (Phật Thuyết 11b).
phượng 鳳
dt. điểu vương trong truyền thuyết cổ, chim đực là phượng, chim mái là hoàng. Phượng những tiếc cao. (Tự thuật 120.5)‖ Năm thức phơi phơi đuôi phượng mở, tám lòng ỉm ỉm chữ nhàn phong. (Thái cầu 253.3). x. diều.
quanh 縈
◎ Nôm: 觥 Tập Vận, vận hội: “quyên doanh thiết, âm quanh” (娟營切,𠀤音褮). AHV: oanh. 縈 nghĩa gốc là “quấn quanh, vòng quanh, trói”. Đồng nguyên tự: quành (đgt. quay lại; dt. khúc quanh). Ss đối ứng: cuột quạnh (thái) [HT Nghịch 1990: 78].
tt. HVVD trái với trực (thẳng). Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh. (Bảo kính 136.4).
quân thân 君親
dt. <Nho> vua và cha. Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, tình phụ cơm trời áo cha. (Ngôn chí 8.7, 12.7)‖ (Mạn thuật 30.7)‖ (Tự thán 106.8)‖ (Bảo kính 159.7).
quần đỏ 裙堵
dt. đồ mặc ở thân dưới của phụ nữ, dịch chữ hồng quần, sau trỏ chung mỹ nữ. Hàn Dũ trong bài Tuý tặng trương mật thư có câu: “Chăng giải cuộc say chữ nghĩa, chỉ riêng say đám hồng quần.” (不解文字飲,惟能醉紅裙 bất giải văn tự ẩm, duy năng tuý hồng quần). Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ. Rỡ tư mùa một thức xuân (Trường an 246.3).
tóc 𩯀 / 𬨻
◎ {cá + tốc}. Kiểu tái lập cho tiếng Việt tiền cổ: *ksok [TT Dương 2012a]. Âm PVM: *usŭk [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. tóc trên đầu. Lòng một tấc đan còn nhớ chúa, tóc hai phần bạc bởi thương thu. (Trần tình 43.4)‖ (Thuật hứng 46.5)‖ tóc. (Tự thán 80.1)‖ Biên tóc. (Tự thán 82.6, 99.5)‖ (Tự thuật 112.5, 113.4)‖ (Bảo kính 165.4).
tướng khanh 相卿
dt. dịch đảo từ chữ khanh tướng. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
xạ 麝
dt. mùi thơm tiết ra từ rốn con hươu xạ, nên còn gọi là xạ hương 麝香. Lành người đến, dữ người dang, yêu xạ vì nhân mùi có hương. (Bảo kính 147.2)‖ xạ, tự nhiên mùi ngát bay, lọ là đứng gió xang tay. (Bảo kính 172.1), dịch câu hữu xạ tự nhiên hương 有麝自然香,何必當風立 (有麝自然香,何須迎風揚)(有麝自然香,何必人前誇)‖ Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.1).
phải 沛
tt. đúng. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2)‖ (Bảo kính 132.4, 149.2, 156.2, 165.7, 172.5, 173.7, 184.7).
đgt. <từ cổ> đúng là. Khó bền, mới phải người quân tử, Mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
đgt. cần, ở trong điều kiện không thể không làm, không thể khác. Cho về cho ở đều ơn chúa, Lọ phải xung xăng đến cửa quyền. (Thuật hứng 53.8, 57.2, 68.4)‖ (Bảo kính 131.8, 144.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4).
pha 坡
đgt. chế nước hãm đồ uống. Cổi tục, chè thường pha nước tuyết, Tìm thanh, khăn tịn nhặt chà mai. (Ngôn chí 2.3).