Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Phiên khác
biên 鬢
◎ Nôm: 边 / 邉 / 邊 biên là âm HHV của mấn (Ss ABK: bin). Âm THV đọc là mai, lưu tích trong từ tóc mai. Thuyết Văn giải tự: “mấn: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Thuyết Văn: “mai: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Bạch Cư Dị trong bài Mãi thán ông có câu: “đôi tóc mai bàng bạc mà mười ngón tay lại đen” (两鬢蒼蒼十指黑 lưỡng mấn thương thương thập chỉ hắc). AHV: mấn/ tấn, ABK: bīn. Tương ứng chung âm -j > -n như: mai > mấn, tươi > tiên, lãn > lười.
dt. <từ cổ> tóc mai. Phong sương đã bén biên thi khách, tang tử còn thương tích cố gia. (Quy Côn Sơn 189.5)‖ Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc, đầu bạc xưa nay có khuở xanh. (Tích cảnh thi 202.3, 203.1)‖ (Thuật hứng 50.3, 62.4)‖ (Tự thán 82.6, 87.3)‖ (Tự thuật 113.4).
bè 筏
◎ Nôm: 𤿤 Tày: phè, vè [HTA 2003: 408]. Nguyên từ là phiệt 筏 (ABK: fá). Kiểu tái lập: *pie.
dt. mảng ghép đơn sơ bằng tre nứa, dùng để vượt sông. Đài Tử Lăng cao, thu mát, Trương Khiên nhẹ, khách sang. (Ngôn chí 9.4).
dt. HVVD mảng ghép đơn sơ bằng tre nứa, dùng để thuỷ canh hay làm chà cho cá. Ao quan thả gưởi hai muống, đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.5)‖ Thuỷ hành rau muống lênh đênh một . (CNNA 70).
bảy 𬙞
dt. số đếm. (Ngôn chí 22.3)‖ Làm chi pháo phúc lòng nhau bấy, rốt nhân sinh bảy tám mươi. (Bảo kính 138.8)‖ (Trần tình 45.1)‖ (Tự thán 76.8)‖ (Tích cảnh thi 203.4, 204.1).
bậc 匐
◎ Ss đối ứng: bắc (Tày) [HTA 2003: 32].
dt. <từ cổ> cấp độ. Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang. (Tự thuật 117.7).
bể triều quan 𣷭朝官
dt. dịch chữ hoạn hải 宦海 (bể hoạn), trỏ chốn quan trường nhiều chông gai bất trắc không lường trước được cũng giống như sóng gió trên biển, nên còn gọi là hoạn hải ba đào. Lục Du trong bài Tạ tiền tham chính khải có câu: “trường danh lặn lội, bao người tóc trắng ấy công toi; bể hoạn phiêu lưu, ngắm kẻ áo xanh mà cười mỉm” (名塲蹭蹬,幾白首以無成;宦海漂流,顧青衫而自笑 danh tràng tăng đắng, kỷ bạch đầu dĩ vô thành; hoạn hải phiêu lưu, cố thanh sam nhi tự tiếu). Thấy bể triều quan đà ngại vượt, trong dòng phẳng có phong ba. (Bảo kính 168.7).
bốn dân 𦊚民
dt. bốn loại cư dân theo quan niệm thời xưa, dịch chữ tứ dân 四民, gồm: sĩ 士, nông 農, công 工, thương 商 (cổ 賈). Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng. (Tức sự 126.7).
bởi vì 摆為
k. Như bởi ①. Động người hoa kháo tỏ tinh thần, ắt bởi vì hoa ắt bởi xuân. (Đào hoa thi 228.2). x. vì bởi.
bụi 蓓
◎ Ss đối ứng pul, buj, bun, pun (21 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 181].
dt. thường dịch các chữ trần 塵, cấu 垢. Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, giơ tay áo đến tùng lâm. (Ngôn chí 5.1). loài người hãy nhớ mày là bụi, thì mày lại trở ra bụi mà chớ [Morrone 1838: 200].
chiền 禪
AHV: thiền. Đọc theo âm THV. Đối ứng c- ~ tʰ- như thị ~ chợ, … [NĐC Việt 2011]. x. chua, x. chùa chiền.
dt. <từ cổ> chùa, nói tắt của chùa chiền < thiền tự. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng (Tự thuật 117.6). chuông dộng coong coong mái nọ chiền (Hồng Đức 29a).
chuộng 重
◎ Đọc âm THV [NĐC Việt 2011]. AHV: trọng.
đgt. đọc theo âm THV, trong sùng chuộng. sùng chuộng. Ở ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng, quá chua liền ủng có ai màng (Bảo kính 147.3, 161.3).
chày 椎
◎ Nôm: 持 AHV: truỳ, ABK: zhuī, chuí. Âm đầu ch- < tr- , do xoá nhãn. Đối ứng vần -uy -ây: khuy khuây, duy dây. Ss đối ứng kʼăj (21 thổ ngữ Mường), hra (1 thổ ngữ), ʂăj (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 190].
dt. trái với cối, dùng để giã. Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt, khoan khoan những lệ ác tan vầng. (Tích cảnh thi 199.3). thạch truỳ: chày đá đâm nghiền nhỏ thay (CNNA 40b).
chác 卓 / 斫
đgt. <từ cổ> đổi, lưu tích còn trong đổi chác [Taberd 1838: 52]. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.4). Phiên khác: chước (TVG, Schneider, PL), chác: chuốc (BVN), chuốc (VVK). Nay theo ĐDA, MQL. Khi tóc đã bạc thì không thể đổi lại thành xanh như thời trẻ được, ý nói thời gian không thể quay lại, đời người chỉ có một lần.
đgt. <từ cổ> mua, [Rhodes 1651 tb1994: 55], lưu tích còn trong bán chác, mua chác. “chac. mua chac: emere. ban chac: vendere” [Morrone 1838: 214]. (Tự thán 76.4)‖ Danh chăng chác, lộc chăng cầu, được ắt chẳng mừng, trật chẳng âu. (Tự thuật 121.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.3). mặc ai chác lợi mua danh, miễn ta học đặng đạo lành thì thôi. cd [Taberd 1838: 52].
chác cầu 卓求
AHV: trác cầu. Phiên khác: chuốc cầu (TVG).
đgt. <từ cổ> chác: mua, cầu 求: tìm; tìm mua. “chác 卓: n. mua, chịu lấy… mua chác: mua. Bán chác: bán. Đổi chác: đổi. Chác lấy: mang lấy, lãnh lấy, chịu lấy. Kiếm chác: kiếm tìm” [Paulus của 1895 t1: 113]. Giang san mắt thấy nên quen thuộc, danh lợi lòng nào ước chác cầu. (Trần tình 41.6). x. chuốc.
cháu 𡥙
◎ Ss các đối ứng tʼon, (13 thổ ngữ Mường), son, sun (13 thổ ngữ Mường), caw (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 190]. Cho thấy, tʼon, son, sun (< 孫, AHV: tôn, ABK: sun) là các từ Hán Mường, caw là từ Việt-Mường.
dt. x. con cháu. (Ngôn chí 10.7)‖ (Bảo kính 130.2).
chông gai 蔠荄
dt. việc khó khăn, thử thách. Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình. (Tự thán 80.3, 91.4).
chẳng chẳng 拯拯
đgt. <từ cổ> bất cần, xua tay từ chối hết, không thiết đến cái gì, trái với quyền quyền. Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.1).
chỉn 只
◎ Nôm: 㐱 / 軫 AHV: chỉ. Vận hội tiểu bổ do Phương Nhật Thăng nhà Minh ghi: “只: chương nhẫn thiết, âm chẩn” (只章忍切,音軫).
p. <từ cổ> chỉ có. Say rượu, no cơm cùng ấm áo, trên đời chỉn ấy khách là tiên. (Bảo kính 186.8)‖ (Đào hoa thi 230.3).
p. HVVD <từ cổ> vẫn, chỉ một mực. Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ, có lòng bằng trúc mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.3).
p. HVVD <từ cổ> nên. Dịch chữ tu 須, thiết 切 (nên). vốn không tướng nam nữ, nào chỉn ra chấp tướng < 本無女何須著相 [Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 25b3], ấy đều lấy những sự đã nghiệm mà nghĩ xem chưng nhân nào, trong mình ta chỉn mựa ra chưng lòng tuyết bỏ < 此皆以驗而因由,切莫自生於退屈 [Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 24b5]. Chỉn sá lui mà thủ phận, lại tu thân khác, mặc “thi thư”. (Mạn thuật 34.7)‖ (Tự thán 100.1)‖ (Tự thuật 115.3).
chốc 矚
◎ Nôm: 祝 AHV: chúc. Thẩm Liêu đời Tống trong linh lăng tiên hiền tán có câu: “Có mồ cao cao, có ao sâu sâu, chẳng tìm thấy người, chỉ ta khói mây.” (有冢嶙嶙,有池淵淵,不矚其人,唯余蒼烟). Phiên khác: chuốc (TVG, VVK, MQL), chuốc lối: tìm lối (ĐDA).
đgt. <từ cổ> tìm. Dỉ sứ chim xanh đừng chốc lối, bù trì đã có khí hồng quân. (Đào hoa thi 228.3). chóc. x. chốc mòng.
chốn chốn 准准
dt. <từ cổ> nơi nơi. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.6).
chứa 貯
AHV: trữ. Âm THV (Early Sino Vietnamese) PJ Duong 2013: 143].
đgt. đựng. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.5)‖ Bẻ chứa mây. (Mạn thuật 28.4)‖ (Tự thán 72.8).
con cháu 昆𡥙 / 昆𫲤/ 𡥵𡥙
dt. con và cháu. Con cháu chớ hiềm song viết ngặt, “Thi thư” thực ấy báu nghìn đời. (Ngôn chí 10.7, 13.7)‖ (Thuật hứng 68.2)‖ (Bảo kính 130.2).
con cái 昆丐
dt. con nói chung. Lều không, con cái hằng tình phụ, Bếp lạnh, anh tam biếng hỏi han. (Bảo kính 139.5). x. cái con.
cương 剛
AHV: cang.
tt. cứng nhắc, nguyên từ của căng, găng. Lòng làm lành đổi lòng làm dữ, tính ở nhu hơn tính ở cương. (Bảo kính 147.6).
cội 檜
dt. gốc. (Thuật hứng 54.1)‖ Tựa cội cây ngồi hóng mát, leo heo ta hãy một leo heo. (Thuật hứng 67.7)‖
② (bóng) trỏ nguồn gốc. Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.2, 151.2).
cửu giang 九江
dt. chín con sông, nguyệt cửu giang: trăng in trên chín con sông, dù ở sông nào thì cái bản thể của nó vẫn không thay đổi. Nước đào giếng, cơm cày ruộng, thảy thảy dường bằng nguyệt cửu giang. (Bảo kính 129.8).
danh phận 名分
dt. danh tiếng và địa vị trong xã hội (có ý thấp kém). Tội ai cho nấy cam danh phận, chớ có thân sơ mới trượng phu. (Bảo kính 152.7).
Dao Trì 瑤池
dt. <Đạo> nơi ở của Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn. Sử Ký phần Đại uyển liệt truyện luận có đoạn: “Côn Lôn cao hơn hai ngàn năm trăm dặm, nơi nhật nguyệt cùng ngơi nghỉ mà giấu sáng. Trên đó có lễ tuyền và Dao Trì.” (崑崙其高二千五百餘里,日月所相避隱為光明也。其上有醴泉、瑶池). mục thiên tử truyện có đoạn: “Năm ất sửu, thiên tử dâng rượu cho Tây Vương Mẫu ở trên Dao Trì.” (乙丑,天子觴西王母於瑶池之上). Yến thửa Dao Trì đà có hẹn, chớ cho Phương Sóc đến lân la. (Đào hoa thi 231.3).
diện 面
đgt. <từ cổ> đối diện với, hướng mặt về, xây mặt về, như trong câu nam diện nhi thiên hạ trị (hoàng đế xây mặt về nam mà thiên hạ trị). Hơn chó được ngồi khi diện bếp, tiếc hùm chẳng bảo chước leo cây. (Miêu 251.3).
dáng 樣 / 羕
AHV: dạng.
dt. vẻ, kiểu. Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, Xấu tốt đều thì rập khuôn. (Bảo kính 148.1). Tng. ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
dâng 𤼸
đgt. đưa lên, tiến hiến. An lạc một lều dầu địch, thái bình mười chước ngại dâng. (Bảo kính 161.6).
dòng 𣳔
dt. khối nước chảy đi. (Tự thán 72.2)‖ (Tự thán 90.4, 97.6)‖ Thấy bể triều quan đà ngại vượt, trong dòng phẳng có phong ba. (Bảo kính 168.8)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.8).
dt. loại, nguồn. Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.6).
dưỡng 養
đgt. trồng, chăm bón. Muốn ăn trái, dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy. (Bảo kính 137.1)‖ (Hoàng tinh 234.1).
đgt. chăm chút. (Ngôn chí 4.5)‖ Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân, trúc rợp hiên mai quét tục trần. (Ngôn chí 12.1).
đgt. nuôi, chăn. Dài hàm nhọn mũi cứng lông, được dưỡng vì chưng có thửa dùng. (Trư 252.2).
đgt. cho ăn lộc. Đất thiên tử dưỡng tôi thiên tử, đời thái bình ca khúc thái bình. (Thuật hứng 65.3).
đgt. tu dưỡng, sửa mình. Dụt xông biếng tới áng can qua, địch lều ta dưỡng tính ta. (Ngôn chí 18.2)‖ (Mạn thuật 29.4)‖ (Thuật hứng 46.4, 59.1)‖ (Tự thán 74.2, 78.7, 99.2)‖ (Bảo kính 146.6).
đgt. trau dồi, luyện. Khoẻ cày ruộng thánh, đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.6).
dạm 淡
đgt. <từ cổ> vẽ. Giang san dạm được đồ hai bức, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 19.5) ‖ Mấy người dạm được hình dung ấy (HĐQA, b. 27).
dầu lòng 油𢚸
đgt. <từ cổ> tuỳ lòng, tuỳ ý [Rhodes 1651 tb1994: 73], “mặc ý, mặc thích” [Paulus của 1895: 227]. (Thuật hứng 64.2)‖ Chàu những của tự nhiên ấy, khỏng khảnh dầu lòng ở đất nghiêu. (Tự thán 105.8).
dắng dắng 𠱆𠱆
tt. <từ cổ> hát mãi không thôi, “dắng: cất tiếng, lên giọng cao” [Paulus của 1895: 222]. Trong khi hứng động bề đêm tuyết, ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.8).
dặm mây xanh 琰𩄲撑
dt. x. dặm thanh vân. (Bảo kính 158.1)
dỉ 𠯇
◎ Thanh phù .
đgt. <từ cổ> nói nhỏ cho biết. “dỉ. nói dỉ. nói di dỉ: nói điều bí mật gần tai” [Rhodes 1651 tb1994: 75]. Nay thường đọc và viết là “rỉ tai”. Dỉ bảo. (Tích cảnh thi 209.3)‖ Dỉ sứ chim xanh đừng chốc lối, bù trì đã có khí hồng quân. (Đào hoa thi 228.3). rỉ.
dừng ngăn 停垠
◎ Nôm: 亭垠
đgt. HVVT <từ cổ> ngăn cách. Vườn quạnh dầu chim kêu hót, cõi trần có trúc dừng ngăn. (Tự thán 110.6).
giãi 豸
◎ (trãi, trĩ). Ngữ tố này đều xuất hiện trong câu thơ sáu chữ. Kiểu tái lập: *?jaj⁴ (*a- giãi). Xét “giãi” (với *?j-) chuẩn đối với “treo” (với *kl-) và “trầm” (*tr-). Về *?j-, xin tham khảo HT Ngọ (1999: 58, 61, 111, 114, 115) và Shimizu Masaaki (2002: 768).
đgt. <từ cổ> phơi ra, trải ra. Tuyết sóc treo, cây điểm phấn, quỹ đông giãi nguyệt in câu. (Ngôn chí 14.4, 21.3)‖ Hang thỏ trầm tăm Hải Nhược, nhà giao giãi bóng thiềm cung. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.4).
gái 丐
dt. x. cái.
gẫm 吟 / 𡄎
◎ Nghiệm 騐 / 驗, niệm 念, nẫm 稔, nhẫm 恁 đều là các đồng nguyên tự, với nghĩa “suy nghĩ, ngẫm nghĩ”. [Vương Lực 1982: 609; Schuessler 2007: 400]. Mối quan hệ ngữ âm k - ng - n - g còn thấy trong thanh phù niệm 念, mà niệm lại có thanh phù gốc là câm 今. Lưu tích thấy qua mối tương ứng trong tiếng Việt: ngẫm - gẫmngẫm ngọt. ”những song thức có ng - g: ngáy - gáy, ngắt - gắt, con nghẹ - con ghẹ, nghiện - ghiền, ngẫm - gẫm, nghé mắt - ghé mắt”. [NT Cẩn 1997: 32], ghếch (mắt) - nghếch mắt, ghiền (thuốc) - nghiện, gước (mắt) -ngước, gang - ngang (nói) [NN San 2003b: 197].
đgt. gẫm. Sách Thuyết Văn ghi: “Niệm là luôn nghĩ vậy” (念,常思也). Văn này gẫm thấy mới thon von, thương hải hay khao, thiết thạch mòn. (Thuật hứng 49.1)‖ (Tự thán 87.1)‖ (Bảo kính 147.7, 182.4, 182.8)‖ (Trúc thi 223.4)‖ (Lão hạc 248.1).
hoá 化
đgt. đổi thay, biến hoá. Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá, âu còn nợ chúa cùng cha. (Thuật hứng 54.7).
đgt. biến thành một vật. Từ khuở hoá rồng càng lạ nữa, chúa xuân gẫm càng huyễn thay. (Trúc thi 223.3). Sách Thần tiên truyện ghi: Phí Trường Phòng tu tiên, cưỡi gậy trúc về rồi vứt đi, gậy biến thành rồng xanh. [NTN 2008: 270]
dt. trong tạo hoá. Trẻ dầu chơi con tạo hoá, già lọ phục thuốc trường sinh (Tự thán 78.5).
Hy Dịch 羲易
dt. tức Chu Dịch, vì Phục Hy viết ra bát quái trong sách này nên gọi vậy. Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc phong. (Bảo kính 178.3).
hái 𦷫
◎ Ss đối ứng hải (Tày) [HTA 2003: 196].
đgt. ngắt. (Mạn thuật 31.6)‖ Hái cúc ương lan, hương bén áo. Tìm mai đạp nguyệt, tuyết xâm khăn (Thuật hứng 60.5, 54.5)‖ (Tự thán 95.3).
hân 欣
tt. <từ cổ> mừng, cười vui. Thuyết Văn: “Hân: cười vui.” (欣,笑喜也). Nhĩ Nhã: “hân: vui” (欣,樂也). Kinh Thi: “Rượu ngon vui vẻ.” (旨酒欣欣). hân hân được Việt hoá thành hớn hớn, hơn hớn. Mọi việc dừng, hân hết mọi âu, điền viên lánh mặc ta dầu (Bảo kính 159.1).
hè 夏
◎ Đọc âm THV. AHV: hạ. Ss đối ứng ha, hɛ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 226].
dt. mùa nóng. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa , kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Trần tình 45.6)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.2)‖ (Hoè 244.3).
im 隂 / 庵 / 阴
tt. lặng, không có tiếng động. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Thuật hứng 56.5)‖ (Tự thán 81.6).
tt. không lay động. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.2)‖ (Bảo kính 150.1).
kho 庫
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003b: 179]. AHV: khố.
dt. dịch chữ thiên phủ 天府 (kho nẫm thiên nhiên, sản vật phong nhiêu). Tam Quốc Chí phần Gia Cát Lượng truyện có câu: “Đất của kho trời.” (天府之土 thiên phủ chi thổ). Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5) ‖ (Tự thán 78.4)‖ kho vô tịn dịch chữ “vô tận tàng” (Bảo kính 146.7). Tô Đông Pha trong tiền xích bích phú có đoạn: “Gió mát bên sông, trăng thanh trên núi, tai nghe nên tiếng, mắt thấy nên màu, lấy không ai ngăn, dùng không hết xuể, đó là kho lẫm tạo hoá vậy.” (惟江上之清風,與山間之明月,耳得之而為聲,目遇之而成色, 取之無禁,用之不竭,是造物者之無盡藏也 duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tàng dã).
khoa mục 科目
dt. danh mục phân khoa tuyển sĩ, bắt đầu có từ đời Đường, trỏ khoa trường nói chung. Một thân lẩn quất đường khoa mục, hai chữ mơ màng việc quốc gia. (Ngôn chí 8.3).
khuất 屈
tt. chắn tầm nhìn, trong ẩn khuất 隱屈 (chen lấp khó thấy được, nghĩa dẫn thân là kín đáo). Chăng cài cửa, tiếc non che khuất, sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ. (Tự thán 108.5).
khó 苦
◎ Nôm: 庫 AHV: khổ. Ss đối ứng khỏ (Tày) [HTA 2003: 249], kʼɔ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 231]. Đây là từ hán Việt-Mường, Hán Việt tày.
tt. vất vả, lao khổ. (Ngôn chí 8.2)‖ (Thuật hứng 66.2, 68.2)‖ Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2).
tt. <từ cổ> nghèo. Sách Quảng Nhã ghi: “khổ: bần cùng vậy.” (苦,窮也 khổ, cùng dã). (Ngôn chí 10.1)‖ Sự có cầu người nên rẻ mặt, phận tuy rằng khó miễn yên lòng. (Thuật hứng 56.4): dịch chữ bần nhi anKhó miễn vui. (Thuật hứng 58.7): dịch chữ bần nhi lạc‖ (Tự thán 77.1)‖ (Bảo kính 133.6, 143.3, 144.5, 172.7, 174.5, 176.7)‖ (Miêu 251.7). x. nghèo.
khúc 曲
dt. đoạn (được xác định bằng một đoạn uốn cong). Dương tràng đường hiểm khúc co que, quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe. (Tự thán 73.1)‖ (Tự thuật 117.1)‖ (Bảo kính 154.3).
dt. đoạn nhạc, đoạn thơ. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8, 65.4)‖ (Tự thán 96.6).
khắc 刻
dt. vết khắc vạch trên gỗ biểu thị một quãng thời gian đã qua, sau mỗi vạch là một đơn vị thời gian trong đồng hồ nước (cát), một khắc tương đương 14,4 phút theo giờ hiện đại, 100 khắc thì trọn một ngày một đêm. Sau khắc được dùng trỏ thời gian ngắn nói chung. thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng (Thuật hứng 55.8).
kinh 經
dt. <Nho> sách vở, kinh điển của nho gia. Chớ người đục đục, chớ ta thanh, lấy phải thì trung, đạo ở kinh. (Bảo kính 156.2, 166.1, 166.7). canh [Rhodes 1651]
kình 鯨 / 䲔
dt. chày hình con cá kình, dùng để gióng chuông. Truyền thuyết rằng con bồ lao (một trong chín con của rồng) rất sợ cá kình, khi gặp thì cất tiếng kêu rất lớn [Phạm Đình Hổ 1997]. Trên chuông thường đúc đôi bồ lao làm quai treo, nên chuông còn được gọi là bồ lao. Bồ lao khi đánh bằng chày kình thì sẽ kêu tiếng lớn. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.3).
lai 來
đgt. đến, lại, tới. Ngày ngày đã có tiên làm bạn, đưa thuốc tiên lai chẳng phải xin. (Thiên tuế thụ 235.4).
Lan Đình 蘭亭
dt. tên đình ở tây nam huyện thiệu hưng tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, nơi thư Pháp Gia nổi tiếng đời Tấn là Vương Hi Chi thường họp bạn khách bút mực văn chương để uống rượu ngâm thơ. Chính ở đây ông viết Lan Đình tập tự- tập thư thiếp nổi tiếng bậc nhất thời xưa, là khuôn mẫu cho thư pháp muôn đời. Lan Đình tiệc họp, mây ảo, Kim Cốc vườn hoang dế cày. (Trần tình 45.3).
lang 朗
◎ Chuỗi đồng nguyên tự: lang - loang - khoang.
dt. loang, các màu xen lẫn nhau thành vệt lớn. Lỗi hoà đàn, tinh Bắc Đẩu, lang một điểm, thuỵ Liêu Đông. (Trư 252.4).
lao xao 牢敲
tt. tiếng ồn ào từ xa vọng lại. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. (Bảo kính 170.5).
lo toan 慮算
◎ Nôm: 󱳮算
đgt. HVVT lo lường, lo toan là âm HHV của lự toán. Cắp nắp làm chi hỡi thế gian, có thì ăn mặc chớ lo toan. (Bảo kính 134.2).
lòng thế 𢚸世
dt. HVVT <từ cổ> tâm địa người đời. Lòng thế bạc đen dầu nó biến, ta thìn nhân nghĩa chớ loàn đan. (Bảo kính 139.7, 186.3).
lúc nhúc 六辱
tt. vẻ chen chúc. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.5).
lưng 𦝄
◎ Ss đối ứng lɣŋ (4 thổ ngữ), lɯŋ (18 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 236].
dt. cái lưng. (Ngôn chí 15.2)‖ Con mắt hoà xanh đầu dễ bạc; lưng khôn uốn lộc nên từ. (Mạn thuật 36.6), lấy ý từ câu nói của Đào Tiềm, bất vị ngũ đẩu mễ nhi chiết yêu (chẳng vì năm đấu gạo mà khom lưng đi làm quan). Đào Tiềm trong bài Cảm sĩ bất ngộ phú viết: “Thà cố cùng để giữ chí, chớ khom lưng mà luỵ thân.” (寧固窮以濟意,不委曲而累己 ninh cố cùng dĩ tế ý, bất ủy khúc nhi luỵ kỷ). Mạc Đĩnh Chi trong bài Quá bành trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư có câu: “Đấu gạo khá khom lưng? cởi ấn thà bỏ lộc.” (斗米肯折腰, 解印寧辭祿 Đẩu mễ khẳng chiết yêu, Giải ấn ninh từ lộc).
lương thần 良辰
dt. buổi đẹp trời. Nguyễn Tịch đời Tam Quốc trong bài Vịnh hoài có câu: “Hôm nao là buổi đẹp trời, áo khăn ta đọng sương trời chan chan.” (良辰在何許,凝霜霑衣襟 lương thần tại hà hứa, ngưng sương chiêm y khâm). Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai mà no chín tuần. (Vãn xuân 195.1).
lạnh 冷
AHV: lãnh. Ss đối ứng ca (23 thổ ngữ Mường), ʑεt (3), năc (3) [NV Tài 2005: 262]. Như vậy, lạnh - rét gốc Hán, Giá gốc Việt-Mường.
tt. trái với nóng. Chim đến cây cao chim nghĩ đỗ, quạt hay thu lạnh quạt sơ thâu (Trần tình 40.6)‖ (Thuật hứng 46.6, 66.5, 115.4, 120.4)‖ (Bảo kính 139.6, 167.5)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
tt. <Nho>, <từ cổ> trong trẻo một cách cô đơn và lạnh lẽo, nói tắt của thanh lãnh 清冷. Vừa hàm nghĩa là “nhàn quan” vừa hàm nghĩa là vị quan thanh liêm. Ta ắt muốn nhàn quan muốn lạnh, lo thay vì luỵ phải thờ ơ. (Tự thán 108.7). Dịch chữ lãnh hoạn 冷宦. Lô Kỳ 卢琦 trong tống ngô nguyên chẩn có câu: “Quan lạnh chớ than quê nhà thẳm, cố nhân toàn ở sảnh đài cao.” (冷宦莫嗟鄉國遠,故人今在省臺多 lãnh hoạn mạc ta hương quốc viễn, cố nhân kim tại sảnh đài đa). Đỗ Phủ có câu: “các ngài tấp nập thăng đài sảnh, mỗi bác quảng văn chức lãnh quan” (諸公衮衮登台省,廣文先生官獨冷 chư công cổn cổn đăng đài sảnh, quảng văn tiên sinh quan độc lãnh). Cốt lạnh hồn thanh. (Thuật hứng 54.7), ý nói cốt cách thanh tao, tâm hồn trong sáng luôn nghĩ đến việc đạo nghĩa “âu còn nợ chúa cùng cha”.
lạnh lùng 冷滝
tt. <từ cổ> lạnh, còn có biến âm lạnh rùng. Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng, đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. (Tích cảnh thi 208.2).
lấy chi 𥙩之
đgt. khng. làm chi. Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc, ấy còn bìu rịn lấy chi vay! (Tự thán 75.8)
lấy làm 𥙩𬈋
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (để làm). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân Các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.1).
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (coi là, cho là). Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.4).
lẩn 吝
đgt. ẩn, nấp, trốn, lưu tích còn trong lẩn quẩn/ luẩn quẩn, lẩn = trốn. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 21.7)‖ (Tự thán 95.7)‖ (Bảo kính 160.7).
lặn mọc 吝木
đgt. lên xuống (mặt trời, mặt trăng,…). Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc, cuốc cày là thú những xung xăng. (Trần tình 38.5).
đgt. dịch chữ xuất một 出沒 (nổi chìm, thăng trầm). Ban đầu trỏ nghĩa mặt trời mặt trăng đắp đổi, ví dụ: Hôm mai lặn mọc (Huyền Quang - Vịnh Hoa Yên 19). Sang cùng khó bởi chưng trời, lặn mọc làm chi cho nhọc hơi. (Ngôn chí 10.2). sông yêu lặn mọc biết mấy khuở cho thôi, nhà lửa nấu nướng biết ngày nào cho rồi < 愛河出沒幾時休,火宅憂煎何日了 [Tuệ Tĩnh - thiền tông 22a]. Phiên khác: lăn lóc [TVG,1953].
lợi danh 利名
AHV: lị danh.
dt. danh và lợi nói chung. Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, có thân chớ phải lợi danh vây. (Ngôn chí 11.2).
lục 綠
tt. xanh lá cây, xanh quan lục. Mấy kẻ công danh nhàn lững đững, mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu. (Tự thuật 121.8)‖ (Bảo kính 170.2)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.3)‖ (Thiên tuế thụ 235.1)‖ (Hoè 244.3).
tt. màu xanh nói chung. Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực, dòng nước Liêm Khê lục nữa tràm. (Tự thán 97.6).
lừ cừ 𪪏居
◎ (lư cư). x. lù cù. Phiên khác: lừ khừ (ĐDA, MQL), lờ khờ (VVK). Nay theo TVG.
tt. <từ cổ> âm cổ của lừ khừ.lừ cừ: bộ chậm lụt, cử rử” [Paulus của 1895: 592], “lừ cừ: bộ chậm chạp ăn nói không thông” [Paulus của 1895: 196], “lu cu et lu cu: morosus ex infirmitate” [Morrone 1838: 212]. Thế những cười ta rằng đứa thơ, dại hoà vụng nết lừ cừ. (Tự thán 90.2)‖ (Bảo kính 180.2).
lừa 驢
◎ Đọc âm THV. AHV: lư.
dt. con lừa. Lừa tìm ngàn Bá nhờ mai bảo, thuyền nổi dòng thu có nguyệt đưa. (Tự thán 90.3). x. ngàn Bá.
lựa 路
AHV: lộ. Phiên khác: lọ (ĐDA), nay theo TVG, MQL, PL.
đgt. chọn. “lựa 路: eligere. Chọn lựa 撰路: id.” [Taberd 1838: 280]. Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.6).
miễn là 免羅
q. chỉ cần. Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu, miễn là phỏng dạng đạo tiên nho. (Ngôn chí 3.2)‖ (Mạn thuật 24.7)‖ (huấn nam 192.5).
mà 麻
lt. biểu thị mục đích, lưu tích trong để mà. (Trần tình 44.1)‖ Chỉn sá lui thủ phận, lại tu thân khác, mặc “thi thư”. (Mạn thuật 34.7)‖ (Bảo kính 152.2, 162.2).
lt. Như nếu, lưu tích trong nếu mà. Lòng chẳng mắc tham là của báu, người hết luỵ ấy thân tiên (Tự thán 74.6).
lt. Nhưng, trái lại. Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai no chín tuần. (Vãn xuân 195.2). Họ phùng thì chuộng thông họ từ thì giữ lễ. (TKML i 15).
màng 望
◎ Nôm: 恾 / 忙 Đọc theo âm THV. AHV: vọng. x. mường tượng, mong, chốc mòng.
đgt. mong, muốn. Những màng lẩn quất vườn lan cúc, ắt ngại lanh tranh áng mận đào. (Thuật hứng 52.5)‖ (Tự thán 84.5)‖ (Bảo kính 178.4, 186.4).
đgt. HVVT quan tâm. Chàu mấy kiếp, tham lam bấy, sống bao lâu, đáo để màng. (Thuật hứng 55.4, 66.1)‖ (Bảo kính 129.2, 147.4).
mát 沫
◎ Ss đối ứng mat, mac (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 238]. “mát” là từ gốc Việt-Mường, “lạnh” là từ gốc Hán. x. giá.
tt. trái với nóng. (Ngôn chí 9.3, 21.5)‖ Tựa cội cây ngồi hóng mát, leo heo ta hãy một leo heo. (Thuật hứng 67.7).
môn đồ 門徒
dt. <Nho> học trò, môn sinh, đệ tử. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
mùa 務
◎ Đọc âm THV. Ss đối ứng muə (29 thổ ngữ ) [NV Tài 2005: 243].
dt. quãng thời gian được chia theo từng kỳ nhỏ trong một năm có thể ứng với một vụ cày cấy gieo trồng, mùa: đọc theo âm THV. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Tự thán 81.2)‖ (Tức sự 124.4)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.3)‖ (Mai 214.1)‖ (Trường an hoa 246.4).
mơ 眉
◎ Ss đối ứng mɯ (27 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 242].
đgt. mộng, trái với tỉnh. Phồn hoa một đoạn tỉnh , mẽ chuông tàn cảnh sất sơ. (Tự thán 108.1).
mặn chát 曼札
tt. rất mặn, (bóng) trỏ sự vất vả, long đong. Mùi thế đắng cay cùng mặn chát, ít nhiều đã vấy một hai phen. (Thuật hứng 46.7).
mếch 覔
◎ Kiểu tái lập: *mlếch. *mlếch > mếch (trong chếch mếch), *mlếch > lệch, *mlếch > nhếch (nhếch mép: cười lệch một bên mép).
tt. <từ cổ> lệch, lưu tích còn trong từ chếch mếch , “thiên trọng, trọng riêng” [ĐDA]. Taberd, Génibrel 1898 , “faveur paticulière” (biệt đãi) [Schneilder 1987]. Tiên Bô kết đã bấy thu chầy, ngẫm ngọt dường bằng mếch trọng thay. (Mai thi 225.2), mếch trọng dịch chữ thiên ái 偏愛.
nay 尼
dt. hiện giờ, tại thời điểm nói. Đã mấy thu nay để lệ nhà,duyên nào đeo đẳng khó chăng tha. (Ngôn chí 8.1, 20.7)‖ (Mạn thuật 26.6)‖ (Thuật hứng 59.8)‖ (Tự thuật 120.2)‖ (Bảo kính 132.7, 151.3, 180.4, 183.8)‖ (Tích cảnh thi 202.4).
ngâm nga 吟哦
đgt. đọc văn vần một cách nhịp nhàng theo hơi thơ, nhạc thơ. Phong nguyệt dầu ta ai kẻ đoán, được ngâm nga ắt sá ngâm nga. (Tự thuật 114.8).
ngó 午
◎ Phiên khác: ngủ.
đgt. nhìn ra. Tác ngâm song có mai và điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.4). x. xem.
ngư tiều 漁樵
dt. ngư phủ và tiều phu, thuộc ngư tiều canh mục. Gưởi tính ngư tiều hai đứa lẫn, của ai non nước khiến ta bàn. (Tự thán 95.7, 102.4).
ngọt 兀
◎ Ss đối ứng của nghĩ: ŋɔc, ŋɔt (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 250].
tt. trái với đắng. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5).
tt. (bóng) ngon ngọt, xử thế khéo léo dễ chịu. ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng, quá chua liền ủng có ai màng. (Bảo kính 147.3).
ngỏ 午
đgt. để mở, không đóng. Ngỏ cửa Nho chờ khách đến, trồng cây đức để con ăn. (Mạn thuật 27.5).
nhẫn dầu 忍油
k. <từ cổ> cho dù. Đạo quân thân nhẫn dầu ai lỗi, hổ xanh xanh ở trốc đầu. (Bảo kính 159.7).
nhắn bảo 忍保 / 𠴍保
đgt. gửi lời khuyên cho người khác. Này lời nhắn bảo khách bàng quan, khôn phải lo lường, dại được an. (Bảo kính 185.1)‖ Nhắn bảo phô bay đạo cái con, nghe lượm lấy, lọ chi đòn. (Huấn Nam Tử 192.1).
nhọc thân 辱身
tt. mệt thân. Mấy phen lần bước dặm thanh vân, đeo lợi làm chi luống nhọc thân. (Bảo kính 165.2)‖ (Tích cảnh thi 204.1).
nhủ 乳
đgt. tự thầm nói với mình.Yên phận cũ chăng bằng phận khác, cả lòng đi mặc nhủ lòng về. (Bảo kính 141.6). x. nhắn nhủ.
nào 󰅹
◎ Ss đối ứng nɔ (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 245].
đt. đâu, đâu có. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.2, 22.8)‖ (Mạn thuật 35.1, 41.6)‖ (Thuật hứng 47.6, 70.8)‖ (Tự thán 73.8, 92.3, 105.3)‖ (Tự thuật 114.3, 116.3)‖ (Bảo kính 137.4, 141.3, 164.7, 171.4, 174.7, 181.3, 184.8)‖ (Giới nộ 191.2)‖ (Lão mai 215.5)‖ (Cúc 216.5).
đt. từ nghi vấn phiếm chỉ. Đã mấy thu nay để lệ nhà, duyên nào đeo đẳng khó chăng tha. (Ngôn chí 8.2)‖ (Mạn thuật 30.2)‖ (Trần tình 37.8)‖ (Thuật hứng 47.2)‖ (Tự thán 106.3)‖ (Bảo kính 144.4, 171.8)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ (Cúc 217.8)‖ (Tùng 218.1)‖ (Mai thi 224.1)‖ (Cúc 240.1)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Miêu 251.5).
đt. từ đứng trước đại từ khác (trỏ nơi chốn), ví dụ: nào đâu: đâu đâu. Thường có cấu trúc nào…là chẳng với ý “đâu đâu…cũng”. Ngẫm ngọt sơn lâm miễn thị triều, nào đâu là chẳng đất Đường Nghiêu. (Mạn thuật 24.2)‖ (Ngôn chí 17.8)‖ (Tích cảnh thi 211.2).
đt. từ đứng trước đại từ khác (trỏ người hay vật). Ví dụ: nào ai : ai ai, người người. Thường có cấu trúc nào ai…chẳng: “ai ai… cũng”. (Mạn thuật 25.4)‖ Lộng lộng trời, tây chút đâu, nào ai chẳng đội ở trên đầu? (Trần tình 40.2)‖ (Thuật hứng 59.6).
đt. gì, chi. Song viết lại toan nào của tích, bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 49.7)‖ (Tự thán 86.7, 94.7, 99.7, 100.4)‖ (Bảo kính 135.7, 182.1).
⑥ tr khng. (đầu hoặc cuối câu), từ biểu thị ý nhấn mạnh. (Tự thán 89.8)‖ (Bảo kính 167.2)‖ Đâu đâu cũng chịu lệnh đông quân, nào chốn nào chẳng gió xuân. (Tích cảnh 211.2).
p. từ đệm giữa câu, vô nghĩa. Ba bảy mươi nào luống nhọc thân, được thua đã biết sự vân vân. (Tích cảnh thi 204.1).
này 尼
đt. từ trỏ gần (về không thời gian). (Ngôn chí 11.8)‖ (Mạn thuật 28.8)‖ (Thuật hứng 49.1), văn này dịch chữ tư văn 斯文‖ (Tự thán 92.8, 93.3, 107.5)‖ (Bảo kính 186.6)‖ (Quy Côn Sơn 189.2)‖ (Tùng 220.4)‖ (Đào hoa 229.2)‖ Khí dương hoà há có tây ai, nừng một hoa này nhẫn mọi loài. (Đào hoa 230.2).
p. khng. phát ngữ từ, để gây sự chú ý của người nghe. Này lời nhắn bảo khách bàng quan, khôn phải lo lường, dại được an. (Bảo kính 185.1)‖ (Vãn xuân 195.7)
náu 耨
đgt. ẩn đi, nấp đi, tránh đi. Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.1)‖ (Thuật hứng 70.1). đng lánh.
nóc 耨
◎ Đối ứng nóc đốc. Ss nôm đôm [TXN Lan 1988], êm đềm êm nềm [NQ Hồng 1988], nọc độc, nệm đệm, nác đác (nước), nẫy đẫy (béo), nỗi đỗi [NN San 2003b: 186], nắm đấm, no đủ, nút đútSs đối ứng tɔk³ (Mường), kadɔk³ (Rục), kadɔk (Sách) [VĐ Nghiệu 2011: 62], nɔk (19 thổ ngữ Mường), dɔk (7 thổ ngữ), tɔk (1), rɔk (2) [NV Tài 2005: 254]. Kiểu tái lập cho proto Việt-Mường: *drɔp
dt. mái. nóc - đốc hiện còn lưu tích trong từ bít đốc (bịt nóc). Ngói bít đốc: ngói dùng để lợp bờ nóc, bờ dải trong kiến trúc cổ. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5).
nấu 𤒛
đgt. đun cho chín. Than lửa hoài chưng thương vật nấu, [củi] thiêu tiếng khóc cảm thần linh. (Bảo kính 151.5), bài này nhắc đến điển Tào Thực (192-232) làm thơ ngăn anh trai Tào Phi (Nguỵ Văn Đế) định giết hại mình. Vì như thế là làm việc “Nấu đậu bằng cành đậu, đậu khóc than trong nồi: ‘vốn sinh cùng một cội, nấu nhau nhanh quá đỗi’.” (煮豆燃豆箕, 豆在釜中泣。 本是同根生, 相煎何太急 chử đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp: ‘bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp’), sau trỏ việc anh em giết hại nhau. Cho nên bài thơ mở đầu bằng câu: “ai trách hiềm cây lại trách mình”.
nịnh 佞
đgt. khéo mồm hay đi bợ người khác. Phiêu bạc cùng nhau còn được cậy, mựa nghe sàm nịnh có lòng tây. (Bảo kính 145.8).
nộp 納
◎ Đọc âm PHV. AHV: nạp. nop < *nup [Baxter 1992: 558].
đgt. gửi trả. Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở, tìm tiên để nộp ấn phong hầu. (Bảo kính 162.8).
nỡ 女
đgt. hạ lòng, dám (làm việc gì đó). Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7)‖ (Thuật hứng 55.1)‖ (Tự thán 87.7, 107.5)‖ (Tự thuật 117.2)‖ (Bảo kính 129.6, 144.4, 151.8, 166.3, 178.2, 184.6, 188.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.8)‖ (Tích cảnh thi 202.3)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.7)‖ (Mộc hoa 241.4)‖ (Miêu 251.7)‖ (Thái cầu 253.8).
nừng 能
◎ Tày: nứng, nâng, nấng (số một). [HTA 203: 388]. Phiên khác: năng, hay.
p. <từ cổ> ít, chỉ, chỉ có. “僅 cận: nừng, ít, chỉ có thế” [Thiều Chửu 1999: 30]. “僅 cận: nầng” [Nguyễn Bỉnh 1909: 33a; ngũ thiên tự 1932: 92; vũ văn kính 2003: 97; cứ liệu và ý kiến của lê hữu mục chuyển dẫn trần uyên thi 2010]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8)‖ Tranh giăng vách nài chi bức, đình thưởng sen nừng có căn. (Tự thán 110.4)‖ Khí dương hoà há có tây ai, nừng một hoa này nhẫn mọi loài. (Đào hoa thi 230.2)‖ Nừng có mỗ Bụt hay trừ ← (duy Phật năng trừ 惟佛能除) (Phật Thuyết, 43a) ‖ Biết đào hồng hay liễu lục, thiên hạ nừng mỗ chủ tri âm (Trần Nhân Tông- Cư Trần Lạc Đạo Phú, đệ nhất hội).
phai 派
đgt. bợt màu. (Bảo kính 147.7)‖ Toan kể chỉn còn ba tháng nữa, gặp xuân mựa để má đào phai. (Đào hoa thi 230.4, 231.1).
phong vương 蜂王
dt. ong chúa. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). Bướm có thói quen hay vào hút mật của ong. Những khi ấy, ong thợ tập trung số lượng lớn ngoài cửa tổ, chĩa nọc ra phía bướm và vỗ cánh xua đuổi khiến bướm sợ mà không dám vào nữa. Chữ “khóc rân” là trỏ sự bất lực của bướm trước bầy ong.[xem thêm TVG, 1956: 176]. x. trêu tức.
phúc hoạ 福禍
dt. phúc và hoạ. Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2).
Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác 歸崑山重九偶作
dt. tên bài số 189, nghĩa là ngẫu nhiên ứng tác bài thơ khi về Côn Sơn vào ngày tết trùng dương mùng 9 tháng 9. Côn Sơn là một không gian địa lý đặc biệt với Nguyễn Trãi. Nơi đây là trang ấp của Trần Nguyên Đán- ông ngoại của nhà thơ. Từ bé Nguyễn Trãi đã sống với ông ngoại, và sau 1428, đây cũng là nơi chốn đi về của Nguyễn Trãi. Côn Sơn không chỉ là miền ẩn cư mà là chốn quê nhà, cao hơn Côn Sơn là một biểu tượng tinh thần trong tâm tưởng của nhà thơ, là nơi chốn an lành để ông về khi mỗi lần vấp ngã trên chốn quan trường, là bến đỗ cuối cùng của một tâm hồn luôn bị giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực.
quên 涓
◎ Ss đối ứng k’weɲ, k’weŋ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 260].
đgt. trái với nhớ. Bạn cũ thiếu: ham đèn miễn sách, tính quên chăng: kiếm trúc cùng mai. (Ngôn chí 13.4)‖ (Tự thán 82.7, 110.8)‖ (Bảo kính 129.5, 178.2)‖ (Giới nộ 191.3).
quý giá 貴價
tt. HVVT đáng được trọng và có giá trị. Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.3).
quạt chè 橘茶
◎ Phiên khác: quất chè (TVG), quất chè: cái que tre to và bẹt như chiếc đũa cả, dùng để quất vào cái túi nhỏ đựng vỏ chè mai hoặc lá chè tươi, cho chè dập nát trước khi bỏ cả túi vào ấm to mà om (BVN 1994: 83). Quých chè: chim tiêu liêu trong sách Trang Tử chỉ an phận làm tổ trên một cành cây nhỏ, chứ không quan tâm đến cả rừng cây, trỏ việc Hứa Do từ chối nhập thế (Schneider, PL 2012: 138). Thuyết này gán ”chích choè” thành “quých choè”. Hiện chưa thấy đâu ghi nhận âm này.
dt. <từ cổ> bộ dụng cụ để nấu và hãm chè. “quạt chè 橛茶: theum coquere” [Taberd 1838: 409]. Tỏ tường phiến sách con Chu Dịch, bàn bạc lòng nhàn cái quạt chè. (Tự thán 79.4).
quỳ 葵
dt. <Nho> loài thảo mộc, nhành cao, nở hoa vàng khá lớn, hạt có thể ăn, hoặc ép lấy dầu. Hoa quỳ thường hướng theo mặt trời nên còn gọi là hướng nhật quỳ 向日葵. Dân gian thường gọi là hoa hướng dương, khi mọc dại thì cây thấp hơn và nhỏ hơn, được gọi là dã quỳ . Vì hướng mặt trời, nên hoa quỳ được coi là biểu tượng cho lòng trung thành của bề tôi, nên có chữ quỳ tâm 葵心. Người hiềm rằng cúc qua trùng cửu, kẻ hãy bằng quỳ hướng thái dương. (Tự thán 71.4).
rây 籂
AHV: si.
đgt. (ánh sáng) chiếu qua các khe hở. Nguyễn Trãi trong bài Chu trung ngẫu thành có câu: “nửa rừng nắng rây cây sương khói” (半林殘照篩煙樹 bán lâm tàn chiếu si yên thụ). Trị dân sơ lập lòng cho chính, có nước thường in nguyệt khá rây. (Bảo kính 137.6).
răn dỗ 𡂰𠴗
đgt. <từ cổ> răn dè và nhắn nhủ, dỗ 誘: đọc theo âm PHV, lưu tích trong dụ dỗ. Làm người thì chử đạo Trung Dung, khắn khắn răn dỗ thửa lòng. (Tự giới 127.2).
rước 綽
◎ (sước).
đgt. đón. (Tự thán 88.4)‖ Ngày xem hoa rụng chăng cài cửa, tối rước chim về mựa lạc ngàn. (Tự thán 95.6).
rập 立
◎ Nôm: 立
đgt. HVVD giúp, lưu tích trong giúp rập. Thờ cha lấy thảo làm phép, rập chúa hằng ngay miễn cần. (Bảo kính 184.4). Rập đời nên đấng anh hào, bắc chống họ tào, tây chống họ lưu. (Thiên Nam c. 1965).
rồi 耒
tt. <từ cổ> rỗi, rảnh, nhàn nhã, không bận việc. Thương Chu kiện cũ các chưa đôi, sá lánh thân nhàn, khuở việc rồi. (Ngôn chí 2.2)‖ (Bảo kính 170.1).
đgt. <từ cổ> xong. Rồi việc mới hay khuôn được thú, khỏi quyền đã kẻo luỵ chưng danh. (Bảo kính 156.3).
rồng 龍
◎ Nôm: 𧍰 Đọc theo âm THV. AHV: long. Kiểu tái lập: OCM *roŋ, Ss Khmer: roŋ - rôŋ, Mường: hông - ròn [Schuessler 2007: 363]. rồng là tên gọi xưa nhất, vay vào khoảng đời Tây Hán- đông hán nên cả phụ âm, cả vần, cả thanh đều rất cổ. thuồng luồng vay vào khoảng từ sơ đường đến trung đường nên thanh cổ nhưng phụ âm, vần đều đã mới. long là tên gọi Hán Việt vay vào cuối đời Đường. [NT Cẩn 2001: 26]. Thế kỷ XVII, Rhodes ghi nhận ròũlaõ [1651: 195]. Kiểu tái lập: *kroŋ¹ [TT Dương 2012c].
dt. long, thuồng luồng. Thuyết Văn ghi: “Rồng đứng đầu các loài có vẩy, có thể ẩn hiện, có thể biến hoá nhỏ hoặc lớn, dài hoặc ngắn; tiết xuân phân thì bay lên trời, tiết thu phân thì lặn sâu đáy vực.” (鱗蟲之長, 能幽能明, 能細能巨, 能短能長, 春分而登天, 秋分而潛淵). Bằng rồng nọ ai phen kịp, mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6)‖ (Trúc thi 223.3), hoá rồng, do chữ long tôn 龍孫 trỏ măng, ý nói khi măng già thì hoá trúc. x. cháu rồng.‖ (Trư 252.7).
rụng rời 𬈭浰
◎ Phiên khác: rụng rơi (ĐDA). Xét, “rụng rơi” và “rụng rời” đều là các đồng nguyên tự. Nhưng ở đây, đang thuộc khuôn vần -ời (dấu huyền) nên phiên như vậy.
đgt. <từ cổ> ý mạnh hơn rụng, đến thế kỷ XIX thấy đã có nghĩa dẫn thân “hãi kinh, sợ sệt” [Paulus của 1895: 884]. Thân nhàn đến chốn dầu tự tại, xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời. (Thuật hứng 59.6).
rừng thiền 棱禅
dt. dịch chữ thiền lâm. Rừng thiền ắt thấy, nên đầm ấm. Đường thế nào nề, chẳng thấp cao. (Thuật hứng 47.5).
sinh thành 生成
đgt. đẻ ra, tạo ra. Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.2).
suy nhường 推讓
đgt. suy tôn và kính nhường. Đạo đức hiền lành được mọi phương, tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.2).
Sào Hứa 巢許
dt. <Nho> Sào Phủ 巢父 và Hứa Do 許由. Hai nhân vật này sống đời vua Nghiêu. đc. Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai. Khi đó, sào phủ mới dắt trâu tới suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao. Hứa Do trả lời: “ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua.” sào phủ bèn dắt trâu bỏ lên trên giòng nước cho uống. Hứa Do hỏi tại sao, sào phủ đáp: “anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhầm.” sào phủ lại nói: “anh đi đâu cho người ta biết vua mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi.” huỳnh tịnh của phê rằng, “nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe.” (huỳnh tịnh của - chuyện giải buồn). Tích sào phủ Hứa Do trở thành một điển cố về lòng trong sạch và tính ẩn dật. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu. (Ngôn chí 15.3).
sưa 疏
AHV: sơ. Âm HTC shū < srjo < *srja [Baxter 1992: 206]. Ss đối ứng ʂɯə, t’ɯə (2 thổ ngữ Mường), hɤl (10), hɤn (4) [NV Tài 2005: 278].
tt. sơ, trái với dày, đặc. Nguyễn Trãi trong bài Mạn thành: “Trước cửa không xe ngựa, bạn cũ thưa.” (門無車馬故人疏 môn vô xa mã cố nhân sơ). Lại có một cành ngoài ấy lẻ, bóng sưa ánh nước động người vay. (Mai thi 225.4)‖ Bóng sưa ánh nước động người vay, sầm đưa hương một nguyệt hay. (Mai thi 226.1).
sưa sưa 疏疏
AHV: sơ sơ.
tt. HVVT hơi thưa. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.1)‖ Tráu sưa sưa hai cụm trúc, chường tấp tấp một nồi hương. (Tức sự 126.1). Từ thế kỷ XVII về sau đọc là thưa thưa.
sầm 󱪌 / 󱽐
◎ (cự 巨+ lẫm 凜 viết lược bộ thủ thành 禀). Phb. tự dạng tương tự, nhưng khác về thanh phù trong mục bấm. Kiểu tái lập: *krâm > sầm > thầm. [TT Dương 2012a].
tt. thầm. Sầm xem mai, hay tuyết đến, say thưởng nguyệt, lệ thu qua. (Bảo kính 168.3)‖Bóng sưa ánh nước động người vay, sầm đưa hương một nguyệt hay. (Mai thi 226.2), chữ sầm dịch chữ ám trong câu 暗香浮動月黄昏 (ám hương phù động nguyệt hoàng hôn) của Lâm Bô‖ Sầm xem mai, hay tuyết đến, say thưởng nguyệt, lệ thu qua. (Bảo kính 168.3). sầm (𡗋) gióng mây tóc đà mai trắng < 暗催新髪白 (Tuệ Tĩnh- thiền tông).
thanh phong 清風
dt. gió mát. Say minh nguyệt chè ba chén, địch thanh phong lều một căn. (Mạn thuật 27.4).
thiền định 禪定
đgt. an định, lối tu của nhà Phật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.3).
thân thích 親戚
dt. người thân. Sách Lã Thị Xuân Thu ghi: “Lục thích là những ai? cha, mẹ, anh, em, vợ, con.” (何謂六戚?父母兄弟妻子) (Thuật hứng 57.3)‖ Yêu chuộng người dưng là của cải, thương vì thân thích nghĩa chân tay. (Bảo kính 145.4).
thúng 𥴗
dt. đồ đựng cỡ to, hình tròn, đan bằng tre nứa. Tiền sen tích để bao nhiêu thúng, vàng cúc đam cho biết mấy bình. (Tự thán 83.3).
toan 算 / 筭
AHV: toán. toan: lường (ngũ thiên tự), đếm, tính bằng thẻ tre, tính thời gian bằng cách bấm đốt ngón tay. toán.
đgt. <từ cổ> đo, lường, đo lường, tính số lượng bằng đấu, kiểm lại. Thiên hạ dõi truyền: lăng có thước, thế gian bảo rặng: thóc toan thưng. (Bảo kính 181.6)‖ Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai mà no chín tuần. (Vãn xuân 195.1).
đgt. tính toán, lo toan. Song viết lại toan nào của tích, bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 49.7, 58.3)‖ (Bảo kính 144.4, 152.5, 160.7, 176.4, 180.3)‖ (Vãn xuân 195.1).
đgt. định. Còn nhiều sá họp toan ăn uống, tám chín mươi thì vạn sự không. (Bảo kính 130.7).
đgt. sắp. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3).
đgt. <từ cổ> đặt yên. Ấy còn cậy cục làm chi nữa, nẻo mộng chưa nồng, chẩm chửa toan. (Thuật hứng 63.8).
trung hưng 中興
đgt. (quốc gia) lại được phục hưng. Khong khảy thái bình đời thịnh trị, nghiệp khai sáng tựa nghiệp trung hưng. (Bảo kính 188.7).
truyền bảo 傳報
đgt. HVVT Nói từ người này qua người khác. “Chẳng nhàn” xưa chép lời truyền bảo, Khiến chử cho qua một đạo thường. (Bảo kính 128.7). x. bảo.
Trương Lương 張良
(? - 188 tcn)
dt. tự là tử phòng 子房, là văn thần có công giúp Lưu Bang đánh đổ nhà tần và thắng hạng vũ trong chiến tranh Hán Sở sáng lập ra nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Trong khi các công thần nhà Hán như Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố lần lượt bị Lưu Bang trừ khử để phong đất cho các hoàng tử họ lưu, riêng Trương Lương bỏ đi ở ẩn. Trương Lương nói với Lưu Bang: ‘gia đình tôi đời đời làm tướng quốc nước hàn. Đến khi hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng vàng, đối phó với nước tần mạnh, để báo thù cho nước hàn, làm cho thiên hạ đều rung động. Nay tôi lấy ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư hầu, kẻ áo vải được thế là tột bậc, đối với lương thế là đủ rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du với Xích Tùng Tử mà thôi’. Ông bèn học cách nhịn cơm, học lối đạo dẫn cho nhẹ mình. Năm 195 tcn, Lưu Bang chết, lưu doanh lên thay, tức là hán huệ đế. Năm 188 tcn, Trương Lương qua đời, được đặt tên thuỵ là văn thành hầu. Con ông là trương bất nghi thay cha làm tước hầu. Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở, tìm tiên để nộp ấn phong hầu. (Bảo kính 162.7).
trước 𨎠/ 𫏾
◎ Kiểu tái lập: *klước. Gaston tái lập *klước khi so sánh với An Nam dịch ngữ và các đối ứng klước (Thạch Bi), tlước (Mẫn Đức) [1967: 43; x. TT Dương 2012a].
dt. (quãng thời gian) đã qua tính ở thời điểm phát ngôn. (Thuật hứng 66.7)‖ Chớ cười hiền trước rằng dại, cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân. (Tích cảnh 204.3).
Trường Canh 長庚
dt. tên tự của Lý Bạch. Lý dương băng trong thảo đường tập tự gọi Lý Bạch là thái bạch kim tinh. Ông giải thích rằng, khi sinh Lý Bạch đúng vào lúc “Sao Trường Canh vào mộng,… cho nên lấy bạch làm tên , lấy thái bạch làm tự.” (長庚入梦故生而名白以太白字之). Trường Canh hỏi nguyệt, tay dừng chén, Pha lão chơi thu, khách nổi thuyền. (Tự thán 74.3).
trại 豸
Phật Thuyết ghi 賴 lại tại vị trí dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, *tlại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác< 被人誘引逃竄他鄉違背爺娘離家別慣 (19a9), kiểu tái lập: *tlai [xem thêm TT Dương 2013b]. Phiên khác: trễ: chểnh mảng, trễ nải (TVG, ĐDA). Nay theo Schneider.
đgt. <từ cổ> không làm theo, làm trái. Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7)‖ Trung cần há nỡ trại cân xưng. (Bảo kính 188.1). Dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, trại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác. (Phật Thuyết 19a).
trắng 󰺛
◎ So sánh với đối ứng như plăŋ³, tlăŋ³, klăŋ³ (Mường) [NV Tài 2005: 282], chúng ta có thể nhận định, thanh phù lãng dùng để ghi thuỷ âm kép có -l-. Rhodes ghi “tláng, tláng tŏát, tláng như cò” [1994: 231]. Các kiểu tái lập: *tlaŋ⁵/ *klaŋ⁵ / *plaŋ⁵> (trái với đen).
dt. màu bạc. Nhật nguyệt dễ qua biên trắng, cương thường khôn biến tấc son. (Tự thán 87.3).
trẻ tạo hoá 𥙩造化
dt. dịch chữ hoá nhi 化兒. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6) ‖, thủ pháp bẻ từ đã được sử dụng ở đây để tạo nên các thế đối lập giữa chủ thể và khách thể, vừa u mua lại vừa trớ trêu và nghiệt ngã. Phạm Thành Đại 範成大 đời Tống trong bài Lập xuân đại tuyết 立春大雪 có câu: 化兒任惡劇,歡伯有奇懷 hoá nhi nhiệm ác kịch, hoan bá hữu kỳ hoài (hoá nhi ác bày tấn kịch, hoan bá riêng ôm cõi lòng). cn con tạo.
trị 治
đgt. bình trị, trái với loạn. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5)‖ (Tự thán 72.5, 98.8, 100.1)‖ (Bảo kính 137.5).
trốn 遁
trốn là một từ gốc Hán, có AHVđộn (遁), âm HTC là *dun? (Baxter). Thế kỷ XVII, Rhodes ghi tlốn [1651, tb1994: 232], “blon lanh: perfecte” [Morrone 1838: 201]. Đối ứng tlôn (Thái Lai), klun (Ban Ken), klôn (Thạch Bi) trong tiếng Mường, Gaston tái lập thuỷ âm kép *kl- hoặc *tl- [1967: 56]. Quá trình Việt hoá được biểu diễn như sau: độn > tlốn > trốnđộn > tlộn > trộn / lộn. “blon… blon len: grandescere. Noi choi blon tieng: loquere altâ voce” [Morrone 1838: 201]. Kiểu tái lập: *tlon⁵ [TT Dương 2012c].
đgt. lánh đi mất. Con đòi trốn, dường ai quyến, bà ngựa gày, thiếu kẻ chăn. (Thủ vĩ ngâm 1.3).
trỗi 磊
◎ Kiểu tái lập: *blỗi. tắt nghỉ lăn trong đất, thì hét mãi mới trỗi < (Phật Thuyết 22b7). trỗi ghi bằng 󰝌 {bả 把+ lỗi 磊}, dịch chữ 甦 (sống dậy, sống lại). blỗi : trỗi, vượt. blỗi hơn, biét hơn: vượt trỗi hơn những người khác trong sự hiểu biết” [Rhodes 1651 tb1994: 40]. tử trúc: trúc tía trỗi chân cháu rồng (CNNA 66b), trỗi ghi bằng 耒. gõ đá vang lừng trỗi nhạc tiên (trịnh sâm- bia 1770), trỗi ghi bằng 㩡. lỗi còn có thể hiểu là lỗi lạc, nổi trội…và hiểu là : giữa mùa đông xám xịt mà riêng hoa mai trỗi dậy một vẻ xuân [MQL 2001: 1116]. Chuỗi đồng nguyên tự: lỗi (trong lỗi lạc), trỗi (- dậy), trội (trong vượt trội, ưu trội). Kiểu tái lập: *ploi⁴. [TT Dương 2012c]. Phiên khác: lỗi: không đúng (TVG, ĐDA), trổi (PL). Nay theo Schneider, BVN.
đgt. <từ cổ> bật lên, nổi bật lên, lưu tích còn trong nổi trội hay trỗi dậy. Giữa mùa đông trỗi thức xuân, nam chi nở cực thanh tân. (mai 214.1).
tuổi 歲
AHV: tuế. Ss đối ứng t’uəl (15 thổ ngữ Mường), suəl (13) [NV Tài 2005: 284].
dt. <từ cổ> năm. Cây lục vờn vờn bóng lục in, xuân nhiều tuổi đã kể dư nghìn. (Thiên tuế thụ 235.2)‖ (Trừ tịch 194.5)‖ x. chong đèn chực tuổi.
dt. tuổi tác. Chân chăng lọt đến cửa vương hầu, ấy tuổi nào thay đã bạc đầu. (Mạn thuật 30.2)‖ (Trần tình 38.8, 40.7)‖ (Thuật hứng 54.6)‖ (Tự thán 72.6, 75.7, 99.5)‖ (Tự thuật 113.3, 120.2)‖ (Bảo kính 134.7, 143.5)‖ (Vãn xuân 195.3).
tàn 殘
đgt. hết, kết thúc. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.6).
đgt. lụi. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Mạn thuật 32.3)‖ (Thuật hứng 63.4)‖ (Tự thán 105.5, 108.2)‖ (Tự thuật 119.6)‖ (Bảo kính 160.4)‖ (Lão mai 215.2).
đgt. (tuổi) già yếu, đã sang cuối dốc bên kia. Những vì thánh chúa, âu đời trị, khá kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn. (Tự thán 72.6)‖ (Tự thuật 113.3).
tám 糁
◎ Ss đối ứng sam (15 thổ ngữ Mường), t’am (15) [NV Tài 2005: 272].
dt. số đếm. (Ngôn chí 15.1)‖ (Trần tình 45.1)‖ (Bảo kính 130.8)‖ Làm chi pháo phúc lòng nhau bấy, rốt nhân sinh bảy tám mươi. (Bảo kính 138.8)‖ (Thái cầu 253.4).
Tây Thi 西施
dt. mỹ nữ nước Việt thời Xuân Thu, còn gọi là Tiên Thi 先施, Di Quang 夷光, Tây Tử 西子. Họ Thi, người Trữ la nước Việt (phía nam huyện Gia Ký tỉnh Triết Giang ngày nay) cuối thời Xuân Thu. Khi Việt vương Câu Tiễn thua ở Cối Kê, Phạm Lãi 範蠡 đem Tây Thi dâng cho Ngô vương Phù Sai, khiến Ngô vương say đắm nàng mà quên chính sự. Việt vì thế đánh bại Ngô. Về sau, Tây Thi về với Phạm Lãi, cùng ngao du ở Ngũ Hồ. Việc được chép trong Ngô Việt Xuân Thu- Câu Tiễn âm mưu ngoại truyện. Có thuyết nói rằng, sau khi nước Ngô mất, vua Việt dìm Tây Thi xuống sông. Quản Tử phần Tiểu xưng có câu: “Mao Tường, Tây Thi là mỹ nhân trong thiên hạ vậy” (毛嬙,西施 ,天下之美人也). Trụ trật quốc gia vì Đát Kỷ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi. (Giới sắc 190.4)‖ (Trường an hoa 246.1).
Tạ Phó 謝傅
dt. tức Tạ An 謝安 (320 – 385),tự là An Thạch 安石, hiệu Đông Sơn 東山, người đời Đông Tấn, trải các chức Ngô Hưng Thái thú. Thị trung kiêm Lại bộ Thượng thư kiêm Trung hộ quân, Thượng thư Bộc xạ kiêm Lĩnh Lại bộ Gia hậu tướng quân, Dương Châu thứ sử, kiêm Trung thư giám, kiêm Lục thương thư sự, Đô đốc ngũ châu… Sau khi chết được truy phong làm Thái phó kiêm Lư Lăng Quận công. Đời sau gọi là Tạ Thái Phó, Tạ An Thạch, Tạ Tướng, Tạ Công. Trước khi ra làm quan, thời trẻ, Tạ An từng đi ở ẩn ở Cối Kê và Đông Sơn. Ông kết giao với nhiều danh sĩ đương thời bấy giờ như Chi Đạo Lâm 支道林 , Vương Hy Chi 王羲之, Tôn Xước 孫綽, Lý Sung 李充,…nhiều lần bàn luận thơ văn, sướng đàm lẽ huyền diệu hay ngao du sơn thuỷ. Đây chính là nhóm tác gia hay tụ họp tại Lan Đình. Bài Lan Đình Tự 蘭亭序 nổi tiếng của Vương Hy Chi cũng làm trong giai đoạn xướng hoạ bất tận này. Bói ở lần tìm non Tạ Phó, xin về xưa cổi ấn Ngu Khanh. (Bảo kính 169.3).
tạc 鑿
đgt. đào. Dưới tạc nên ao chín khúc, trong nuôi được cá nghìn đầu. (Bảo kính 154.3). đng đào.
tấp 㙮
AHV: đáp. Phiên khác:, khép (TVG, BVN), không đúng mặt chữ Nôm; đắp (ĐDA, MQL, PL). Nay đề xuất.
đgt. rấp cành gỗ mà đóng cửa, “tấp: rào rấp. lấy vật mà tấp: lấy vật mà ngăn rấp. tấp gai: lấy gai gốc mà rấp chỗ nào. Tấp cửa ngõ: rấp cửa ngõ” [Paulus của 1895 t2: 346], do ngày xưa cửa cũng khá xuềnh xoàng, cửa của ẩn sĩ, nho sinh thường là cửa sài (柴門). Đào Uyên Minh có câu: “đóng cửa gai hát ngạo, ta là dân ruộng cầy” (長吟掩柴門,聊為隴畝民 trường ngâm yểm sài môn, liêu vi lũng mẫu dân). Buồng văn tấp cửa lọn ngày thu, đèn sách nhàn làm song viết nho. (Thuật hứng 58.1). rấp, dấp. Cửa nhà nàng dấp chín lần gai, anh vô chẳng được anh đứng ngoài trời mưa. cd
tầng 層
◎ Đọc âm THV. AHV: tằng.
dt. lớp. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.1).
tịch 夕
◎ Phiên khác: tỉnh (TVG), hết (Schneider), tịch: hết giận (ĐDA), tịch: lặng ngắt, chết (BVN), tịch: cảnh già (MQL). Nay theo ĐDA.
dt. hết. Đến khi tịch, mới ăn năn lại, dịn song thì mọi sự qua. (Giới nộ 191.7).
vàng bạc 黄泊
dt. trỏ tiền tài nói chung. Vàng bạc nhà chăng có mỗ phân, lành thay cơm cám được no ăn. (Trần tình 38.1).
vướng vất 咏勿 / 詠勿
tt. <từ cổ> vướng vít, không trôi chảy. Dấu người đi la đá mòn, đường hoa vướng vất trúc luồn. (Ngôn chí 21.2)‖ (Mạn thuật 25.2). Con lều mọn mọn cách hồng trần, vướng vất tư mùa những bạn thân. (Tự thán 81.2).
vườn 園
AHV: viên. đng viện. Ss đối ứng vɯən (4 thổ ngữ Mường), βɯən (4), ɤɯən (5), ca (11) [NV Tài 2005: 290].
dt. đất có rào để trồng hoa màu. (Mạn thuật 33.5)‖ Khách đến, vườn còn hoa lác, thơ nên, cửa thấy nguyệt vào. (Mạn thuật 35.5)‖ (Trần tình 43.7, 45.4, 45.4)‖ (Tự thán 110.5)‖ (Bảo kính 154.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.4)‖ (Tảo xuân 193.4)‖ (Vãn xuân 195.5)‖ (Tích cảnh thi 211.3)‖ (Hoàng tinh 234.4).
đgt. (bóng) vch. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.3). x. viện.
vượn đam trái 猿冘𣡚
đc. <Phật> hình tượng thường gặp trong kinh điển Phật giáo. Tống Nhân Tông có bài phú rằng: “làm đệ tử Như Lai; làm tông thân tiên thánh. Vào ra ở dưới cửa vàng; hành tàng ngay trong điện báu. Hươu trắng ngậm hoa, vượn xanh hiến quả. Xuân nghe oanh hót líu lo, vui với cơ trời; hè nghe ve kêu khản tiếng, nào biết nắng nôi!” (作如來之弟子,為先聖之宗親,出入於金門之下,行藏寶殿之中,白鹿啣花,青猿獻菓,春聽鶯啼鳥語,妙樂天機;夏聞蟬噪高林,豈知炎熱 tác Như Lai chi đệ tử; vi tiên thánh chi tông thân. Xuất nhập ư kim môn chi hạ, hành tàng bảo điện chi trung. Bạch lộc hàm hoa, thanh viên hiến quả. Xuân tính oanh đề điểu ngữ, diệu lạc thiên cơ; hạ văn thiền táo cao lâm, khỉ tri viêm nhiệt). Diêu Miễn 姚勉 đời Tống trong tuyết pha văn tập có câu: “Gà vàng gắp thóc ở bếp hương tích; vượn ngọc dâng trái trong toà pháp vương.” (金雞銜粟於香積之厨玉猿獻果於法王之座 kim kê hàm túc ư hương tích chi trù; ngọc viên hiến quả ư pháp vương chi toạ). Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.4), ý nói hoa trái là thức ăn chay theo mùa (thì trai), vượn cứ thế mà hái dâng. Bài thơ có thể được viết khi Nguyễn Trãi giữ chức quan coi chùa Côn Sơn. Thời lành cả mở hội lành, reo đưa gió Phật, quét thanh bụi tà. Vầy đoàn yến múa, oanh ca, vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh (Tư Dung ). Mỗi khi đến thời tiết tam nguyên và Phật đản thì có con hạc đen đến chầu, con vượn xanh dâng cúng quả, lưu luyến bồi hồi như có ý muốn tham thiền thính pháp; đáng gọi là nơi tịnh độ tiêu dao vậy (gia định thành thông chí).
với 貝
đgt. <từ cổ> dùng chung. Toan cùng người với, thì chẳng đủ, xử một ta nay ắt có dư. (Bảo kính 180.3).
k. từ biểu thị người sắp nêu ra là đối tượng cùng có chung hành động, trạng thái vừa nói đến. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3)‖ (Bảo kính 148.6).
xe 車
AHV: xa.
dt. phương tiện giao thông. Ngựa ngựa xe xe la ỷ tốt, dập dìu là ấy chiêm bao. (Thuật hứng 52.7)‖ (Tự thán 73.2). x. đẩy xe.
dt. con xe. Làm người mựa cậy khi quyền thế, có khuở bàn cờ tốt đuổi xe. (Trần tình 44.8).
xua 樞 / 驅
đgt. đuổi đi. x. khua.
xuân xanh 春青
◎ Nôm: 春撑
dt. tức chữ thanh xuân 青春, trỏ tuổi trẻ. Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. (Tích cảnh thi 201.3).
xã tắc 社稷
dt. sách Tuân Tử thiên Lễ luận viết: “xã: thần đất. Tắc: thần ngũ cốc. Thần xã và thần tắc là hai vị thần hàng đầu trong quốc tế xưa, đích thân hoàng đế làm chủ tế”. Sau xã tắc được dùng để trỏ đất nước nói chung. xã tắc hai phen chồn ngựa đá, non sông nghìn thuở vững âu vàng (社稷兩回勞石馬,山河千古奠金甌) (Trần Nhân Tông). Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.5).
xưa 初
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003b: 179], Ss: 疏 > sưa (thưa), 所 sở > thửa . AHV: sơ.
tt. ban đầu. Liêm, cần tiết cả tua hằng nắm, trung, hiếu niềm xưa mựa nỡ dời. (Ngôn chí 10.6, 12.3, 19.8).
tt. từ trước. Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện, đông hè trải đã xưa hay. (Trần tình 45.6).
tt. trước, trái với nay. Chí cũ ta liều nhiều sự hóc, người xưa sử chép thảy ai còn. (Thuật hứng 49.4, 53.3, 63.6)‖ (Tự thán 82.7, 103.8)‖ (Bảo kính 128.7, 138.3, 151.2, 160.7, 166.7, 169.4, 179.6, 183.8, 188.2)‖ (Huấn Nam Tử 192.7)‖ (Tích cảnh thi 202.4).
Y Doãn 伊尹
dt. Đại thần thời đầu nhà Thương. Tên là Chí 摯, cũng gọi là Y Chí 伊摯. Doãn 尹 là chức quan. Trong giáp cốt văn Ân Khư, có lúc gọi tắt là Y. Đầu nhà Thương, vua Thang dùng ông làm Tiểu thần, sau giao làm quốc chính. Phụ tá thang phạt Kiệt diệt Hạ, dựng nên nhà Thương, giữ chức a hành hoặc Bảo hành. Sau khi Thang chết năm 1761 tcn, con là Thái Đinh chưa lập đã chết, ông lần lượt phò tá hai vua Bốc Bính tức là Ngoại Bính và Trọng Nhâm. Sau khi Trọng Nhâm chết, ông lại phụ lập Thái Giáp con của Thái Đinh. Y Doãn là nguyên lão phụ chính 4 triều vua dạy dỗ các vị vua trẻ rất cẩn thận. Ông nói với Thái Giáp: Bậc đế vương phải yêu dân, càng phải chăm chỉ học tập tinh thần trị nước của tổ phụ thang. ông còn lấy bài học của Hạ Kiệt mất nước để khuyên răn Thái Giáp. tuy nhiên, Thái Giáp từ nhỏ sống trong cảnh quyền quý, chỉ hưởng lạc mà không làm việc. Thái Giáp không nghe những lời dạy của Y Doãn, vẫn chơi bời phóng túng. Thấy Thái Giáp như vậy, Y Doãn đày vua đến cung đồng 桐 gần lăng miếu của thành thang và tự mình nắm quyền chính. Ông còn sai người đến giám sát Thái Giáp để vua suy nghĩ và tỉnh ngộ. Sau 3 năm, Thái Giáp hiểu ra sai lầm của mình, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Khi thấy Thái Giáp biết tu tỉnh, Y Doãn đích thân đến đón rước vua về kinh đô và trao lại quyền hành cho Thái Giáp. Thái Giáp trở thành một vị vua giỏi của nhà Thương. Tương truyền Y Doãn sống hơn 100 tuổi mới mất. Công lao khai quốc và dìu dắt vua nhỏ đã khiến ông trở thành môt biểu tượng cho hiền thần trong quan niệm của nho sĩ đời sau: “thánh chi nhậm giả” (Mạnh Tử- vạn chương hạ). Đời Thương thánh biết cầu Y Doãn, nhà Hán ai ngờ được Tử Khanh. (Bảo kính 131.3).
áo 襖
◎ Thuyết Văn: (从衣奥聲). Ss đối ứng: aw³, aw⁵ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 171].
dt. đồ mặc che thân trên. (Ngôn chí 4.4, 5.2, 8.8)‖ (Trần tình 39.4)‖ (Thuật hứng 60.5, 65.5, 67.6)‖ (Tự thán 90.7)‖ Ngòi cạn ước ở làm cấn cấn; cửa quyền biếng mặc áo thê thê. (Tự thán 109.4)‖ áo bô: áo vải thô (Tự thán 110.2)‖ (Tức sự 126.6)‖ Áo khách. (Tự thuật 119.1) Ss tổ vịnh có thơ: “áo khách nay đà mỏng, khí lạnh bỗng về nhiều” (客衣今正薄,寒氣乍來饒 khách y kim chính bạc, hàn khí sạ lai nhiêu)‖ Áo sen. (Tức sự 124.4), dịch chữ hà y 荷衣 (áo sen- áo của người ẩn sĩ). Khuất Nguyên trong ly tao có câu: “chằm lá súng lá sen để làm áo chừ, rấp phù dung để làm xiêm” (制芰荷以為衣兮, 集芙蓉以為裳 chế kỹ hà dĩ vi y hề, tập anh dung dĩ vi thường)‖ Áo đơn. (Bảo kính 134.4, 140.4, 186.7)‖ Áo mặc. (Huấn Nam Tử 192.5)‖ Áo lẻ. (Tích cảnh thi 208.3)‖ Áo tía. (Giá 238.2).
đao binh 刀兵
dt. <từ cổ> chiến tranh loạn lạc. Nẻo từ nước có đao binh, nấn ná am quê cảnh cực thanh. (Tự thán 107.1).
điệu khiếp 悼怯
đgt. HVVT điệu: buồn; khiếp: thương. Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.7).
đà 已
◎ Nôm: 它 / 㐌 AHV: dĩ. nghĩa gốc là “dừng, thôi” (đgt.); Kinh Thi có câu: “gà gáy không ngừng” (雞鳴不已), Quảng Nhã ghi: “Dĩ: hoàn thành” (已成也). Sau mới hư hoá thành phó từ thời gian. Lý Bạch có câu: “đôi bờ tiếng vượn kêu không dứt, thuyền con đà vượt mấy trùng non” (兩岸猿聲啼不盡,輕舟已過萬重山) [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 984].
p. đà là âm Việt hoá của đã. Việc gả đà đã ← 嫁事已訖 (Phật Thuyết 22a1). Thân đà hết luỵ, thân nên nhẹ, Bụt ấy là lòng, Bụt khá cầu. (Mạn thuật 30.5, 34.3)‖ (Thuật hứng 60.4, 62.6)‖ (Tự thán 74.8, 77.2, 81.7, 85.7, 97.7, 107.7)‖ (Tự thuật 112.7)‖ (Bảo kính 146.1, 162.4, 168.7, 177.4, 179.2, 180.5)‖ (huấn nam 192.7)‖ (Trừ tịch 194.3)‖ (Thu nguyệt 198.1)‖ (Tích cảnh thi 203.4)‖ (Lão mai 215.7)‖ (Đào hoa thi 231.3)‖ (Lão dung 239.3)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.5). x. đã.
đắm 酖
◎ Nôm: 󱸽 âm HHV. AHV: đam.
đgt. mê, say. Chẳng say, chẳng đắm là quân tử, người hiểm lòng thay, hãy xá ngờ! (Bảo kính 179.7), Ss câu “phàm lòng người gian hiểm hơn núi khe, còn khó hơn cả nhận thức trời” (凡人心險於山川,難於知天) trong sách Trang Tử thiên Liệt ngự khấu. x. đam.
đến chốn 典准
dt. <từ cổ> mọi nơi, dịch chữ đáo xứ (到處). Thân nhàn đến chốn dầu tự tại, xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời. (Thuật hứng 59.6). “đến chốn” (mọi nơi) chuẩn đối với “nào hoa” (tất cả các loài hoa).
đỗ 住
◎ Nôm: 杜 đỗ âm THV, “(djuc) LH doC, …to stop”, ngoài ra còn có 躅 (trú: dừng chân) và 逗 (đậu: đỗ) là các đồng nguyên tự. [Schuessler 2007: 625]. Zhù < drjuh < drjos [Baxter 1992: 195]. trú còn cho âm Việt hoá nữa là trọ (ở nhờ, ở thuê), trụ (giữ lại, như trụ hạng). AHV: trú.
đgt. dừng lại. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.7)‖ (Trần tình 42.5)‖ (Tự thán 83.5)‖ (Điệp trận 250.8).
đgt. <từ cổ> đậu lại mà làm tổ. Chim đến cây cao chim nghĩ đỗ, quạt hay thu lạnh quạt sơ thâu. (Trần tình 40.5)‖ (Tức sự 123.3)‖ (Nhạn trận 249.5). đỗ làm tổ đến chốn non cao < 巢棲到高山 (TKML ii 31a - sơn điểu).
đgt. <từ cổ> trú, lưu lại. Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ, đường cùng Nguyễn Tịch khóc làm chi. (Thuật hứng 57.5)‖ (quy côn 189.2).
đgt. trái với Trượt, như trụ hạng. Mấy người ngày nọ thi đỗ, lá ngô đồng khuở mạt thu. (Ngôn chí 3.7).
đội 戴
◎ Nôm: 隊 AHV: đái. Ss đối ứng toj, doj, tɤj, dɤj (13 thổ ngữ Mường), puəŋ, buəŋ (10 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 216]. Như vậy, “đội” là gốc Hán, “mang” (< bang) [NV Khang 2001: 31] là gốc Việt-Mường. Một số nơi hiện vẫn nói mang mũ, mang áo.
đgt. mang (mũ áo) ở phía trên. Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.5).
đgt. (bóng) mang ở trên. Lộng lộng trời, tây chút đâu, nào ai chẳng đội ở trên đầu? (Trần tình 40.2).
đgt. chịu, mang (bị động). Dịch chữ đái ân 戴恩 (chịu ơn, đội ơn). (Ngôn chí 15.6)‖ Trong mắt những mừng ơn bậu bạn, trên đầu luống đội đức triều đình. (Tự thán 99.4, 100.3).
đới tục 帶俗
đgt. mang tục. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, chủ vô tâm ỷ khách vô tâm. (Ngôn chí 5.5). Tiền Vịnh trong bài bút ký Lý viên tùng thoại có câu: “nghèo hèn gần nhã, phú quý gần tục, trong nhã mà mang tục có thể đủ sống; trong tục mà mang nhã có thể xử thế.” (貧賤近雅,富貴近俗,雅中帶俗,可以資生,俗中帶雅,可以處世).
đục 濁
◎ Nôm: 瀆 / 濁 Thích Danh chú âm 瀆 độc. [Vương Lực: 360]. Zhuó < drổwk [Baxter 1992: 195]. AHV: trọc. Đối ứng duk⁵ (Mường), tùk² (Rục), tuk (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60].
tt. không trong, có vẩn cặn. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5).
tt. ô trọc. Gió gấp hay là cỏ cứng, đục nhiều dễ biết đường quang. (Tự thán 93.6).
đức 德 / 󰆙
dt. đạo đức. Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.1, 15.6)‖ (Mạn thuật 27.6)‖ (Trần tình 39.6)‖ (Tự thán 91.7, 92.6, 99.4)‖ (Bảo kính 137.8, 184.1, 187.2).
ốc 沃
◎ Ss đối ứng hok (Mường) [Vương Lộc 2001: 127].
đgt. <từ cổ> gọi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.4). Chim ốc bạn cắn hoa nâng cúng (Huyền Quang - Vịnh Hoa ). kinh này danh ốc là gì? (Phật Thuyết 39a). Kinh này ốc là kinh nhân duyên. (Phật Thuyết 39a). Mị châu tên ốc đương thì thiếu đôi. (TNNL c. 779).
đgt. <từ cổ> rằng. Ngõ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.7) ngõ ốc: hiểu rằng.
ỷ 倚
đgt. dựa vào, nương nhờ. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm, (Ngôn chí 5.6)‖ Trí qua mười mới khá rằng nên, lấy Nho, hầu đấng hiền. (Bảo kính 183.2).
khôn 困
◎ Nôm: 坤 AHV: khốn, âm phiên thiết: “khổ côn thiết, âm khôn” (苦昆切,音坤). [Khang Hy tự điển: 217] Trong Hán văn, “khôn” / “khốn” trỏ việc “khốn khó”, “nghèo khốn”, “nguy khốn”, “nguy nan”. Vào tiếng Việt, ngữ tố này đã được hư hoá.
tt. HVVD. <từ cổ> khó, “khôn cùng: khó cùng, không cùng, không hết. Không kể: khó kể, không kể được. Khôn xiết: khó xiết, không hết, không kể cho cùng. Khôn ví: không lẽ sánh, khó sánh” [Paulus Của 1895: 499]. Kỳ, ký, nô, thai đà có đấy, Kẻ dìn cho biết lại khôn thay. (Tự thuật 112.8).
đgt. <từ cổ> khó có thể. (Thủ vĩ ngâm 1.5)‖ (Ngôn chí 6.6)‖ Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.4)‖ (Mạn thuật 36.6)‖ (Trần tình 37.3)‖ (Thuật hứng 49.6, 65.5 68.4)‖ (Tự thán 87.4)‖ (Tự thuật 113.4, 118.2)‖ (Bảo kính 137.3, 142.5, 150.4, 156.6, 180.6)‖ (Quy Côn Sơn 189.3)‖ (Tích cảnh thi 199.1, 201.2)‖ (Thủy thiên nhất sắc 213.5)
p. <từ cổ> không [Paulus Của 1895: 499]. Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2).