Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Phật giáo
bụi bụi 倍倍 / 配配 / 蓓蓓
◎ Phiên khác: phơi phới (TVG, ĐDA), bủi bủi: rời không dính nhau (Schneider, PL). Có thể phiên bụi bụi và có nghĩa là bụi (phủibụi trong tiếng Việt có quan hệ về trường nghĩa và cả mối liên hệ về âm). Âm bph vẫn thấy quan hệ trong tiếng Việt hiện nay, như ăn mặc bụi bặmmặc phủi. “… ngôn từ dân gian cho thấy trong tiếng Việt cổ có những danh từ chỉ sự vật lặp lại hai lần để chỉ phạm trù số nhiều không xác định. Đặc biệt với những loài nhỏ, thường tập hợp nhiều cá thể thành đám, ví dụ như mẳn mẳn, rặt rặt, sẻ sẻ, sao sáo, châu chấu, cào cào, đòng đong, cấn cấn, liu điu…” [NH Vĩ 2010].
dt. <từ cổ> nhiều bụi. Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm, bén phải Đông Hoa bụi bụi xâm. (Tự thuật 119.2).
đgt. <từ cổ> hoá thành cát bụi. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.8). Mượn ý từ bài Tái đáo Thiên Thai của Tào Đường có câu: “Lại đến Thiên Thai hỏi ngọc chân, rêu xanh đá trắng hoá bụi trần.” (再到天台訪玉真,蒼苔白石已成塵 tái đáo Thiên Thai phỏng ngọc chân, thương đài Bạch Thạch dĩ thành trần).
hòng 烘
◎ Phiên khác: nung: cái hẹn đã nung nấu trong lòng (TVG), hồng: ngọn lửa bốc cháy, ý nói hạn của mình đang thời cao điểm, chắc bài thơ này làm lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Côn Sơn (BVN), hồng: nung nấu (MQL, PL). Hòng: đã từng mong thực hiện được ước hẹn từ xưa như ngày nay. Hòng nghĩa là mong được, như nói: đừng có hòng! nay theo ĐDA.
đgt. <từ cổ> định, muốn, mong. Bẻ cái trúc hòng phân suối, quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3).
đgt. <từ cổ> “sắp tới…mệt hòng chết”. [Paulus của 1895: 445; Béhaine 1773]. Làm quan thơ dại, tài chẳng đủ, về ở thanh nhàn, hẹn đã hòng. (Thuật hứng 61.6)‖ Đổi thay nhạn cá đã hòng đầy niên kiều, nghĩa là “từ ngày thiếp về làm vợ chàng đến nay đã gần trọn một năm” [An Chi 2006 t5: 326].
lửa 焒
Phng. Bình Trị Thiên đọc là lả [VX Trang 1997: 248], hoặc (trong thắp lá) [NN Ý 2001: 273]. ở thế kỷ XV, ngữ tố trên tồn tại song thức ngữ âm là *a-lảlả. Kiểu tái lập: *hla³ [TT Dương 2013b]. x. rỡ.
dt. trái với nước. Ngọc lành nào có tơ vện, vàng thật âu chi lửa thiêu (Tự thuật 116.4)‖ (Bảo kính 151.5).
sảy 耻
◎ (sỉ). Phiên khác: xỉ [MQL: 669], nẻ [VVK, TVG, xể [Schneider]. Chữ Nôm “sỉ” không thể đọc thành “nẻ” (mặc dù khá lọn nghĩa). Nhóm MQL phiên là “lưng cày da xẻ” vì cho có gốc từ câu Thng. “lưng thợ cày, da thợ xẻ”, nhưng xét câu này vốn là “lưng thợ cày, tay thợ xẻ”, trỏ sự vất vả của hai nghề trên. Nay cải chính theo NH Vĩ.
tt. mụn mẩn nhỏ, “Sảy mềnh: nổi sảy trên thân mình.” [Rhodes 1651 tb1994: 200], “sảy: những mụt tăn măn mà đỏ, hay nổi trên da người ta trong lúc trời nóng nực” [Paulus của 1895: 895]. Bề sáu mươi dư tám chín thu, lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.2).
Vương Chất 王質
dt. người đời Tấn. Truyện kể, một hôm Vương Chất đi kiếm củi trên núi thạch thất, thấy hai vị đang đánh cờ bên bờ suối, bèn buông rìu đững xem. Đứng một hồi, thì một vị ngẩng lên bảo chất về nhà; chất đứng dậy toan cầm rìu quay về thì thấy cán rìu đã mục, lưỡi rìu đã hoen rỉ hết cả. Đến khi về đến nhà, mới phát hiện ra là mọi thứ đã thay đổi. Không ai nhận ra ông; lần hỏi mãi mới biết là đã trải qua mấy trăm năm rồi. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.7).
ưa 於
đgt. thích, mến. Đến trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.2)‖ Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc. (Tự thán 86.3)‖ Chép hết bao nhiêu sự thế ưa. (Bảo kính 179.1)‖ (Trúc thi 221.2)‖ (Mai thi 224.2). đng mến, yêu, dấu, thương.