Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Phạm Đình Hổ
bích đào 碧桃
dt. loại đào thắm, cánh dày. Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8) câu này dịch ý từ câu thơ: “chẳng biết lưu lang khi đi khỏi, hoa đào đã mấy độ đâm cành mới” (不識劉郎歸去後桃花已發幾新枝 bất thức lưu lang quy khứ hậu, đào hoa dĩ phát kỷ tân chi?).
chái 債
◎ Phiên khác: trải: giải ra (TVG, ĐDA, BVN), trách: chọn (Schneider), trách/ trái: mong có được (PL). Theo VVK, NH Vĩ.
đgt. <từ cổ> dùng tre củi dựng nơi ở xuềnh xoàng (nơi ấy gọi là cái chái). Chạnh yên hà, chái một căn đình, quét đất thiêu hương giảng ngũ canh. (Tức sự 123.1, 124.3). “thô sơ nhất chữ chái là danh từ chỉ những vật dụng được tạo ra bằng các que mảnh, một đầu cắm xuống đất, nghiêng nghiêng gác một đầu lên một phía có cấu tạo vững hơn để làm giá leo cho hoa màu giây leo như bầu, bí, su su, hoa lí….tiếp đến, những kiến trúc thô sơ để che mưa nắng có một mái nghiêng, một phía phải gác lên một kết cấu chắc chắn hơn cũng gọi là chái như chái bếp, chái chuồng lợn, chái chuồng gà… tiếp đến, những công trình sơ sài một mái nghiêng cũng gọi là chái. Hành động làm ra tất cả những vật dụng như vậy là động từ chái. Ví dụ : chái cho cha cái chái bầu; hôm nay ta chái cái bếp ; chái thêm một chỗ làm cái quán. Còn đất sao chẳng chái ra một gian… không thể phủ nhận tính chất động từ của các ngữ dụng có tiếng chái trên. Việc nhập vào nhau của danh từ và động từ là thường thấy như cày, bừa, đục ,bào, cuốc, cào, cưa, đột, khoan,đầm, rây, xỉa, sàng, giần, quạt, sảo v.v. Nhưng một căn đình cơ mà, tại sao lại gọi là chái được, có phải là lều đâu? có lẽ vì ngại chữ đình (to lớn vững chãi) này mà các cụ né phiên chái (tuềnh toàng tạm bợ) chăng? thứ nhất, ta xem căn đình của Nguyễn Trãi như thế nào khi đọc cả bài thơ: chạnh yên hà chái một căn đình, quét đất thiêu hương giảng ngũ canh. Chim đỗ tổ dìn còn biết mặt, hoa nen rừng thấy hoạ hay danh. Đai lân bùa hổ lòng chăng ước, bến trúc đường thông cảnh cực thanh. Có khuở giang lâu ngày đã tối, thuyền hoà còn dỏi tiếng tranh tranh. Đình gì mà phải quét đất, có nghĩa là không lát gì cả. Đình gì mà trống hoác như vậy, không có cả bốn vách đến nỗi chim đỗ trong tổ mà nhìn còn biết mặt, hoa chen chúc trong rừng mà thấy còn đọc ra tên. Đình gì dùng để dạy học mà có khi còn nghe rõ cả tiếng thuyền chài gõ cá dưới bến kia. Đình gì mà một phía chái vào khói ráng vậy. Đó chỉ là một ngôi lều rộng tuềnh toàng một mái thôi dùng để dạy láng giềng mấy sĩ nho, thầy dạy là một ẩn sĩ, không ước đai lân bùa hổ gì. Té ra chữ đình thời Nguyễn Trãi khác chúng ta tưởng tượng theo bây giờ lắm, nó có thể chỉ một chỗ rộng chung cho mọi người có thể trú chân, tạm bợ, sơ sài. Học trò học cũng tạm bợ sơ sài như vậy. Thứ hai, đọc tài liệu ghi chép qua hoàng xuân hãn trong luận văn cuộc tiếp sứ thanh năm 1663 thì ta cũng ngạc nhiên cho đình trạm ngoại giao quan trọng cuối thế kỉ xvii, từ lạng sơn về hết bắc giang, đình trạm tiếp khách chủ yếu là tranh tre nứa lá sơ sài. Cũng cuối thế kỉ đó, liêm quận công Nguyễn Quí Đức về hưu trí trong danh vọng và giàu sang làm một ngôi đình tiếp bè bạn là văn nhân được chính ông mô tả như sau trong bài thơ nôm đề lạc thọ đình ghi: chạnh mái thiền lâm chặm một đình, trong nhàn dành họp bạn kỳ anh. Chiếu hiềm che gió cài xô lệch, vách ngại ngăn trăng để chống chênh. Vui mặt uống say nằm thét lác, dang tay hóng mát đứng hềnh hênh. Cái đình tư nhân của các cụ là như vậy đấy, chặm một đình được thì chắc là chái một căn đình cũng được. Vậy chữ đình này không ảnh hưởng đến việc chúng ta phiên chữ chái kia. ở bài sau bởi vậy, cũng phải phiên chái thì mới đúng: chốn ở chái căn lều lá, mùa qua chằm bức áo sen.”[NH Vĩ 2010: ].
con nước 昆渃
dt. lần dâng lên hay rút đi của thuỷ triều. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3).
khinh bạc 輕薄
◎ Nôm: 輕泊
tt. <từ cổ> bạc bẽo, phóng đãng. Cành có tinh thần, ong chửa thấy, tính quen khinh bạc, điệp chăng thìn. (Tảo xuân 193.6)‖ (Bảo kính 178.4).
kiến cành hoè 蜆梗槐
dt. đc. tổ kiến trên cành hoè, khi mơ vu phần thấy đó là cả một đất nước giàu có còn mình thì được làm tướng của nước ấy, còn gọi là nước kiến. Phú quý treo sương ngọn cỏ, Công danh gưởi kiến cành hoè (Tự thán 73.4, 84.8). x. Nam Kha, chước, Hoè An, nước kiến.
kén 揀
◎ Nôm: 見 AHV: giản. Đối ứng e (THV) a (AHV), x. keo.
đgt. chọn, lựa, chữ kén chọn dịch từ chữ giản tuyển 揀選. Áo mặc miễn là cho cật ấm, cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon. (Huấn Nam Tử 192.6).
kính 敬
đgt. cung kính. Sách Lễ Ký thiên Thiếu nghi ghi: “Tân khách cốt cung, chủ tế cốt kính” (賓客主恭,祭祀主敬). Hết kính hết thìn bề tiến thoái, mựa tham mựa dại nết anh hùng. (Tự giới 127.3).
la đá 羅𥒥
dt. âm cổ của đá khi tiếng Việt vẫn còn tồn tại từ cận song tiết lata, lưu tích của âm này hiện còn trong một số tiếng dân tộc ở Việt Nam: lata² (Mày- Rục), ate² (Arem), tata² (Mã Liềng), tata² (Sách) [NV Tài 1976: 64]. Trần xuân ngọc lan căn cứ vào những cứ liệu trên và cứ liệu tiếng Mường (la tá, hay lá tá) để phiên âm [1978: 41-42]. la đá, theo An Chi, là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ 石 mà âm Hán Việt hiện đại là thạch (= đá). la là một hình thái âm tiết hoá của yếu tố đầu tiên trong một tổ hợp phụ âm đầu cổ xưa, có thể là *r của chữ 石. Âm tiết này đã rụng đi vì sự tồn tại của tiền âm tiết không phù hợp với xu hướng đơn tiết hoá điển hình của tiếng Việt [An Chi 2006 t4: 296]. Tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVII trở về trước vẫn còn từ này, như đã nêu. Lưu tích âm lata còn tồn tại trong tên vị thần đá là Lộ Đố Lộ Đá hiện đang được thờ ở một số địa phương như Tòng Củ (Hưng Yên) [ĐTB Tuyển 2001: 539-547], đây là biểu hiện của việc tín ngưỡng thờ đá đã bị hoà trộn với tín ngưỡng thờ các anh hùng và nhân vật lịch sử. Dấu người đi la đá mòn, đường hoa vướng vất trúc lòn. (Ngôn chí 21.1)‖ (Thuật hứng 54.1)‖ Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc, la đá hay mòn nghĩa chẳng mòn. (Tự thán 87.6). La đá tầng thang, đúc một hòn vẻn vẹn một hòn (Vịnh Hoa Yên tự )‖ Ơn nặng bằng núi đất, núi la đá. (Phật Thuyết 41b)‖ Vũ bạc thực mưa la đá (Tuệ Tĩnh- nam dược) ‖ Hoặc là nâng chưng dưới hòn la đá trong nơi chốn dưới núi ôc-tiêu (Tuệ Tĩnh- thiền tông 22b). x. đá.
lạ 邏
tt. trái với quen. Khách lạ đến ngàn hoa chửa rụng, câu mầu ngâm dạ nguyệt càng cao. (Thuật hứng 52.3)‖ Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi hẩm lẫn khê. (Bảo kính 141.3).
tt. <từ cổ> đẹp, dịch chữ kỳ 奇 trong sơn kỳ thuỷ tú 山奇水秀 (nước non đẹp đẽ). Chữ lạ là một sản phẩm của quá trình dịch đối âm tiết. Bởi chữ kỳ vốn có nghĩa cơ bản nhất là “lạ” (khác lạ), lưu tích còn thấy trong từ kỳ lạ. Người xưa hay quen dùng âm “lạ” này để dịch cho nghĩa “đẹp” của chữ kỳ rồi sau nữa, do dùng nhiều thành quen, chữ “lạ” còn được dùng để dịch cho chữ mỹ, hảo. thơ nôm Nguyễn Trãi phần lớn chữ “lạ” dùng với nghĩa “đẹp” (khi đề cập đến người và cảnh sắc) và “tươi tốt” (khi tả cây cối, x. nghĩa③), chỉ có hai lần dùng với nghĩa “khác lạ”. Cảnh lạ đêm thanh. (Ngôn chí 19.2)‖ (Trần tình 42.2)‖ Non lạ nước thanh. (Thuật hứng 54.3)‖ Thương cảnh vì nhân cảnh hữu tình, huống chi người lạ cảnh hoà thanh. (Tích cảnh thi 207.2), người lạ dịch chữ mỹ nhân 美人. “chữ lạ trong thơ Nguyễn Trãi và thơ ca đương thời rất thường dùng với nghĩa khác ngày nay, chỉ sự tươi đẹp về hình thức. Nó là kỳ chứ không là dị trong hán tự. Còn hữu tình thì bao giờ cũng đa nghĩa. Hà cớ chi nàng điểm bích trong thiền uyển tập anh khi đổ cho nhà sư Huyền Quang gạ gẫm cái chuyện ấy lại viết rất phúng dụ: người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ, mầu thích ca nào thủa hữu tình. Cũng là lạ với hữu tình ấy cả thôi làm cho Nguyễn Trãi thật rối lòng.” [NH Vĩ 2009].
tt. tươi tốt, dẫn thân từ nghĩa② . (Cúc 216.2)‖ (Trúc thi 223.3)‖ Từ bén hơi xuân tốt lại thêm, đầy buồng lạ màu thâu đêm. (Ba tiêu 236.2)‖ (Mộc cận 237.4). x. tốt lạ.
treo 󱏪
◎ (cự + liêu). Kiểu tái lập: *krεw. *kreo > treo. Đối ứng kl- (Mường) và tr- (Việt) như sau: klai- trái, klại-trại, klao-trao, klăng- trắng, klận- trận, klật- trật, kle- tre, kliều- triều, kliện- truyện, klình- trình, klỏ- trỏ, klói- trói, klót- trót, klốk- trốc, klôi- trôi, klốn- trốn, klở- trở, klu- trâu [Gaston 1967: 45].
đgt. đeo. (Ngôn chí 14.3)‖ Phú quý treo sương ngọn cỏ, công danh gưởi kiến cành hoè. (Tự thán 73.3).
đấng 等
◎ Tiếng Hán nghĩa là: các vị, những người được nhắc đến ở trên (từ chỉ số nhiều), ví dụ lão ấu thượng hạ đẳng. đớng [Rhodes 1651].
dt. HVVD <từ cổ> cái, vật. Ở thế đấng nào là của trọng, vui chẳng đã đạo làm lành. (Tự thán 99.7).
dt. <từ cổ> loại. Sinh đấng trung đà phúc đức thay, chẳng cao, chẳng thấp miễn qua ngày. (Bảo kính 146.1), đấng trung: bậc tầm tầm ở giữa, không cao cũng không thấp.
dt. HVVD <từ cổ> loại từ chỉ người (dùng chung cho cả sang hèn, khinh trọng). Trí qua mười mới khá rằng nên, ỷ lấy nho, hầu đấng hiền. (Bảo kính 183.2)‖ Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.2)‖ hoặc có bậc sinh ra làm đấng thánh cùng đấng hiền với đấng ngu cùng đấng trí chưng trong tam giới (Tuệ Tĩnh - Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục: 6a)
sao 牢
◎ Thanh phù này được dùng nhất quán từ thế kỷ XII đến thế kỷ XX. Từ thế kỷXII đến XV, có khả năng vẫn đọc với thủy âm kép, thêm nữa ngữ tố nảy chỉ xuất hiện 1 lần ở câu thơ bảy chữ và 3 lần ở các câu thơ sáu chữ. Kiểu tái lập: *krao¹ > sao (hư từ). [TT Dương 2013b].
đt. thế nào. Có thân thì cốc khá làm sao, Lảng bảng công hư, tuổi tác nào. (Thuật hứng 47.1)
p. cảm thán từ. Con lều mọn mọn đẹp sao, Trần thế chẳng cho bén mỗ hào. (Thuật hứng 52.1)‖ (Bảo kính 167.1).