Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Nguyễn Trãi
ba bảy mươi 𠀧𬙞󰁰
đc. <Nho> ba phần, bảy phần, mười phần. Kinh Thi bài Phiếu hữu mai có đoạn “mai rụng kìa, quả còn bảy phần. Chàng nào tìm em, hãy chọn ngày lành. Mai rụng kìa, quả còn ba phần. Chàng nào cần em, chọn ngày nay đi” (摽有梅、其實七兮。求我庶士、迨其吉兮。摽有梅、其實三兮。求我庶士、迨其今兮). Ý nói cây mai có mười phần quả, cứ rụng dần mất đi. quả mai ba bảy đương vừa, đào non sớm liệu xe tơ kịp thời (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Vì thu cho nhẫn nên đầu bạc, chưa dễ ai đà ba bảy mươi. (Tích cảnh thi 203.4, 204.1). Với điển này, đây rõ ràng là loạt bài nói về chuyện tình yêu đôi lứa. [xem thêm NH Vĩ. 2009. Nguyễn Trãi và sex].
biện 辨
đgt. phân biệt, biện biệt. Trường văn nằm ngả mấy thu dư, uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư”. (Mạn thuật 12.2)
bậc 匐
◎ Ss đối ứng: bắc (Tày) [HTA 2003: 32].
dt. <từ cổ> cấp độ. Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang. (Tự thuật 117.7).
chi phấn 脂粉
dt. <từ cổ> son phấn. chi: mỡ, phấn: bột. chi phấn: đồ trang điểm của phụ nữ, sau trỏ những thứ đẹp đẽ. Hoa chăng thay rụng, bày chi phấn, thông sá bù trì, mộng cột rường. (Tức sự 125.5).
chuột 𤝞
◎ Ss đối ứng cuət (7 thổ ngữ Mường), hre, he, re (21 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 198].
dt. loài gặm nhấm. Khó miễn sang chăng nỡ phụ, nhân chưng chận chuột phải nuôi mày. (Miêu 251.8).
chác cầu 卓求
AHV: trác cầu. Phiên khác: chuốc cầu (TVG).
đgt. <từ cổ> chác: mua, cầu 求: tìm; tìm mua. “chác 卓: n. mua, chịu lấy… mua chác: mua. Bán chác: bán. Đổi chác: đổi. Chác lấy: mang lấy, lãnh lấy, chịu lấy. Kiếm chác: kiếm tìm” [Paulus của 1895 t1: 113]. Giang san mắt thấy nên quen thuộc, danh lợi lòng nào ước chác cầu. (Trần tình 41.6). x. chuốc.
chúng 󰕛
dt. <từ cổ> mọi người, trong quần chúng. Đạo đức hiền lành được mọi phương, tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.2).
dt. <từ cổ> từ trỏ số nhiều. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.4)‖ Chúng ngươi. (Tự thuật 120.8)‖ (Bảo kính 138.1). Tiếng Việt hiện chỉ còn bảo lưu “chúng mày”.
cánh cánh 更更
đgt. <từ cổ> âm cổ của canh cánh,. Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, tình phụ cơm trời áo cha. (Ngôn chí 8.7).
cửa thi thư 𬮌詩書
dt. trỏ cửa Khổng. Ba thân hương hoả nhờ ơn chúa, một cửa thi thư dõi nghiệp nhà. (Bảo kính 168.6).
dầu lòng 油𢚸
đgt. <từ cổ> tuỳ lòng, tuỳ ý [Rhodes 1651 tb1994: 73], “mặc ý, mặc thích” [Paulus của 1895: 227]. (Thuật hứng 64.2)‖ Chàu những của tự nhiên ấy, khỏng khảnh dầu lòng ở đất nghiêu. (Tự thán 105.8).
giặc 賊
dt. giặc cướp Sắc là giặc, đam làm chi, khuở trọng còn phòng có khuở suy. (Giới sắc 190.1)
giới sắc 戒色
dt. tên bài số 190 trong QATT. Giới sắc nghĩa là răn dè chuyện thanh sắc, chuyện nữ giới. Ông quan niệm, “sắc là giặc”, là cái đã làm từng làm cho triều đại của vua trụ, vua ngô sụp đổ, là cái làm cho “bại tan gia thất”, làm cho con người “tổn hai tinh thần”. Quan trọng là phải giữ được đạo vợ chồng, vì đó là đầu mối “tạo đoan” trong luân thường đạo lý.
góc 角
◎ Nôm: 谷 AHV: giác, lưu tích trong tam giác, tứ giác. Âm HTC: *krok (Baxter), *kruk (Lý Phương Quế), lưu tích thuỷ âm kép còn trong từ song tiết hoá: 角落 (Giác lạc). AHV: giác.
dt. HVVD mé rìa (của một không gian). Góc thành nam, lều một căn, no nước uống, thiếu cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.1, 1.8). Tiếng Hán chỉ dùng góc cửa (門角), góc tường (墙角).
gẩm 錦
◎ “Bahnar: găm, noir (ris) noir, moisi.” [Schneider 1987: 424]. Mô hình ghi âm của chữ Nôm: c(h). cẩm là âm Hán Việt, như trong từ thập cẩm, lại có âm Hán Việt Việt hoá là gấm. Dựa vào cứ liệu này, Gaston tái lập là k’həm, diễn biến: k’həm> hẩm [1967: 37]. Dựa vào đối ứng găm (đen) trong tiếng Bahnar, Schneider đọc là gẩm [1987: 425]. hẩm (nghĩa: cơm gạo vì để lâu quá nên bị mục ải, mất chất và có màu đen), có lẽ đồng nguyên với từ cẩm (đen) trong gạo cẩm, nếp cẩm. Rhodes ghi “hẩm, gạo hẩm: gạo đen mốc mốc. gạo hởm: cùng một nghĩa” [1994: 112]. Kiểu tái lập: *kʰham³> gẩm/ hẩm.
tt. (cơm gạo) bị mục ải, mất chất vì để lâu quá. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.4).
Hy Dịch 羲易
dt. tức Chu Dịch, vì Phục Hy viết ra bát quái trong sách này nên gọi vậy. Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc phong. (Bảo kính 178.3).
hè 夏
◎ Đọc âm THV. AHV: hạ. Ss đối ứng ha, hɛ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 226].
dt. mùa nóng. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa , kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Trần tình 45.6)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.2)‖ (Hoè 244.3).
hòng 烘
◎ Phiên khác: nung: cái hẹn đã nung nấu trong lòng (TVG), hồng: ngọn lửa bốc cháy, ý nói hạn của mình đang thời cao điểm, chắc bài thơ này làm lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Côn Sơn (BVN), hồng: nung nấu (MQL, PL). Hòng: đã từng mong thực hiện được ước hẹn từ xưa như ngày nay. Hòng nghĩa là mong được, như nói: đừng có hòng! nay theo ĐDA.
đgt. <từ cổ> định, muốn, mong. Bẻ cái trúc hòng phân suối, quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3).
đgt. <từ cổ> “sắp tới…mệt hòng chết”. [Paulus của 1895: 445; Béhaine 1773]. Làm quan thơ dại, tài chẳng đủ, về ở thanh nhàn, hẹn đã hòng. (Thuật hứng 61.6)‖ Đổi thay nhạn cá đã hòng đầy niên kiều, nghĩa là “từ ngày thiếp về làm vợ chàng đến nay đã gần trọn một năm” [An Chi 2006 t5: 326].
hóc 曲
AHV: khúc. Tương ứng h- kh: hang (hốc) ~ khanh 坑 (hang), (hắt) hủi ~ (trừ) khử 去, hiếm (hoi) ~ khiếm 欠 (= thiếu), hổng ~ khổng 孔 (= lỗ hổng). Tương ứng ơi ~ i, dời ~ di 移, lơi / rời ~ ly 離, (thổ-) ngơi ~ nghi 宜, gởi ~ 寄, (ca-) ngợi ~ nghị 議 [Huệ Thiên 2006].
tt. <từ cổ> gập ghềnh, không suôn sẻ; lưu tích còn trong hiểm hóc (hiểm trở và khúc khuỷu). Chí cũ ta liều nhiều sự hóc, người xưa sử chép thảy ai còn. (Thuật hứng 49.3). x. hiểm hóc.
hầu 侯
đgt. <từ cổ> toan, định, muốn. Dịch từ dục 欲. Mặt trời đà hầu gác về chưng núi đoài ← 夕陽欲墮于西山 (Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 9a) ‖ Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ, quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư. (Mạn thuật 34.6)‖ Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân Các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.2).
p. <từ cổ> sắp, gần. Dịch từ tương 將 (sắp). nước chảy đà hầu xuống đến chưng bể Đông < 逝水將傾于東海 (Tuệ Tĩnh- thiền tông 9a)‖ Rắp tới, đã chăng hay chốn tới; hầu đi, lại chửa biết đường đi. (Tự thán 100.6)‖ Hầu nên khôn lại, tiếc khuâng khuâng, thu đến đêm qua cảm vả mừng. (Tích cảnh thi 199.1).
③ h. <từ cổ> đệm giữa câu. Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, hòn đất hầu lầm, mất cái chim. (Bảo kính 150.6).
p. <từ cổ> mới, mới là. Trí qua mười mới khá rằng nên, ỷ lấy nho, hầu đấng hiền. (Bảo kính 183.2).
k. <từ cổ> ngõ hầu. Nước kiến phong quang hầu mấy kiếp, rừng Nho nấn ná miễn qua ngày. (Tự thuật 112.3)‖ Kia thẳng nọ dùi nào có đứt, người hơn ta thiệt, mới hầu cam. (Bảo kính 174.8)
khoa mục 科目
dt. danh mục phân khoa tuyển sĩ, bắt đầu có từ đời Đường, trỏ khoa trường nói chung. Một thân lẩn quất đường khoa mục, hai chữ mơ màng việc quốc gia. (Ngôn chí 8.3).
kỳ mài 其埋
đgt. <từ cổ> (đen) mài mực, (bóng) trỏ việc tiêu hao thời gian. Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.4)
loạt loạt 律律
AHV: luật luật. Phiên khác: lọt đọt (TVG), lọt lọt: rõ ràng mông một (ĐDA, MQL), rọt rọt: suivre, poursuivre (theo, theo đuổi, đeo đẳng), rebattre les oreilles (đập vào tai, nói mãi nghe đến chán tai) (Schneider, VVK), rọt rọt: rõ ràng, rành rọt (NTN). Bản B chép 𥾽𥾽 TVG: bền bện. BVN: biện biệt.
dt. HVVT <từ cổ> nhất loạt, từ chữ nhất luật 一律. luật là nguyên từ của loạt, tiếng Việt hiện tồn cả hai từ nhất luậtnhất loạt. Cho nên, ở câu thơ này, chữ luật luậtloạt loạt. Kiểu láy toàn phần như thảy thảy, nơi nơi, chốn chốn... Án tuyết mười thu uổng đọc thư, kẻo còn loạt loạt chữ Tương Như. (Mạn thuật 36.2). Có thể diễn xuôi như sau: mười năm uổng phí khổ luyện học sách nho, xong rồi, cái còn lại chỉ là miên man những chữ nghĩa từ quan quy ẩn của Tư Mã Tương Như, cả nước non này cũng chỉ là hư huyễn, sự nghiệp của ta rút cuộc là khoe chữ “nhàn” trong bài phú Tử Hư. [tham khảo thêm NH Vĩ 2010]. x. Tương Như.
ly tao 離騷
dt. tên tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Khuất Nguyên. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8).
lòng 腸
◎ Nôm: 𢚸 AHV: tràng, trường (ruột, lõi, nhân bên trong). tròng = lòng, lòng trắng, tròng mắt, áp tròng. “tlão tlứng: lòng trắng trứng” [Rhodes 1651 tb1994: 231]. Xem thêm [Huệ Thiên: 415]. *tlaòng >rụng tiền tố [t-] >lòng, *tlaòng > hoà đúc > tròng. tlaòng là âm HHVH của giai đoạn xvii trở về trước. lòng được ghi bằng 車󱗲, kiểu tái lập *klaòng, ngữ cảnh: lòng nết chăng hay tối mò chăng lo áng nạ có ơn đức cả < 心行昆蒙不思爺娘有大恩德 (Phật Thuyết 17a). Trong khi đó, 腸 có âm HTC đọc *drjang (Lý Phương Quế), *l’ang (Trịnh Trương Thượng Phương), *g-ljaŋ (Baxter). Kiểu tái lập: *klɔŋ². [TT Dương 2012c].
dt. tâm. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6)‖ (Ngôn chí 7.6, 8.7, 10.3, 11.1, 11.7, 12.1, 19.7, 22.8)‖ (Mạn thuật 23.4, 26.8, 30.6, 32.5, 34.4, 34.6)‖ (Trần tình 39.8, 43.3, 49.5)‖ (Thuật hứng 50.7, 58.6, 59.2, 60.3, 63.5, 64.2, 68.7, 69.7, 70.5)‖ (Tự thán 74.5, 77.2, 79.4, 83.1, 86.3, 93.7, 96.5, 97.7, 100.7, 105.8, 106.3, 108.4, 109.5, lòng thắm: dịch chữ đan tâm‖ 110.8, 111.2)‖ (Tự thuật 112.5, 114.6, 115.6, 117.6, 118.4, 121.6)‖ (Tức sự 123.5, 125.7) lòng thường: dịch chữ hằng tâm‖ (Tự giới 127.2)‖ (Bảo kính 128.6, 135.5, 137.5, 138.1, 138.7, 140.5, 141.6, 143.1, 144.4, 145.8), lòng tây: dịch chữ tư tâm‖ (Bảo kính 146.3, 147.5, 156.5, 161.7, 165.3, 167.6, 169.8, 173.8, 178.2, 179.8)‖ Quân tử, thánh hiền lòng tựa nước, càng già càng ngẫm của bùi ngon. (Bảo kính 182.7) dịch câu đạm nhược thuỷ‖ (Bảo kính 184.6, 187.5, 187.7, 188.5)‖ (Vãn xuân 195.6)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4)‖ (Tích cảnh thi 201.2, 206.3, 208.4, 209.2, 210.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ (hoa mẫu 233.3)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Thái cầu 253.2, 253.4, 253.6)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.3).
dt. đáy, phần phía dưới. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3).
lưới trần 䋥塵
dt. dịch chữ trần võng 塵網, ý nói con người sống trên đời luôn bị nhiều trói buộc, giống như con cá bị mắc vào lưới, cho nên những hệ luỵ cuộc đời được gọi là lưới trần. Đông Phương Sóc trong bài Dữ hữu nhân thư có câu: “Chớ để cho lưới trần giàm danh trói gò, sung sướng cười hoài, du chơi khắp thập châu tam đảo.” (不可使塵罔名韁拘鎖,怡然長笑,脱去十洲三島 bất khả sử trần võng danh cương câu toả, di nhiên trường tiếu, thoát khứ thập châu tam đảo). Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “Rơi nhầm vào lưới trần, thoắt cái ba mươi năm.” (誤落塵網中, 一去三十年 ngộ lạc trần võng trung, nhất khứ tam thập niên). Ngại ở nhân gian lưới trần, thì nằm thôn dã miễn yên thân. (Thuật hứng 60.1)‖ Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.2).
lấy … làm 𥙩…𬈋
đgt. dịch cấu trúc …vi 為 (đem…làm). Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả, qua ngày qua tháng được an nhàn. (Bảo kính 133.7, 142.4, 184.3, 149.5).
mẹ cha 媽㸙
◎ Nôm: 媄吒
dt. song thân. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.6). đng sở sinh, cha mẹ, song thân.
mộc hoa 木花
dt. hoa mộc, tên bài thơ số 241. Mộc hoa là các gọi tắt từ mộc tê hoa 木樨花, là loại cây nhỏ, hoa thơm, có thể dùng ướp trà, ngâm rượu, hay làm nước gội đầu, nước hoa.
nghi ngút 𪟽𩂁
◎ Phiên khác: ngây ngất: cao vời vợi (Schneider). Nay theo TVG.
tt. vẻ mây khói bay kín trời, “mù mịt” [Paulus của 1895]. Trời nghi ngút nước minh mông, hai ấy cùng xem một thức cùng. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.1).
nhọn 悅 / 銳
tt. trái với cùn, đụt. Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh (Bảo kính 136.3)‖ (Trư 252.1).
nẻo khuở 裊課
dt. <từ cổ> khi. Trời phú tính, uốn nên hình, ắt đã trừng trừng nẻo khuở sinh. (Tự thán 96.2).
phong quang 風光
dt. tt. nguyên nghĩa là cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ sinh động trong gió được phản chiếu xuống mặt nước, cảnh đẹp, cảnh tượng huy hoàng. Nguyên Chân đời Đường có câu: “lời thơ điệu hát ai cũng có, cảnh quang tươi đẹp mỗi ta hay” (詩篇調態人皆有,細膩風光我獨知 thi thiên điệu thái nhân giai hữu, tế nị phong quang ngã độc tri)‖ Hoa nẩy cây nên, khuở đốc sương, chẳng tàn chẳng cỗi, hãy phong quang. (Lão mai 215.2).
tt. cảnh tượng phồn hoa. Lý Hàm Dụng đời Đường có câu: “lục đại phồn hoa nơi đâu tá? bao nhiêu mây khói cũng mang sầu” (六代風光無問處,九條烟水但凝愁 lục đại phong quang vô vấn xứ, cửu điều yên thuỷ đãn ngưng sầu). Nước kiến phong quang hầu mấy kiếp, Rừng Nho nấn ná miễn qua ngày. (Tự thuật 112.3).
quanh 縈
◎ Nôm: 觥 Tập Vận, vận hội: “quyên doanh thiết, âm quanh” (娟營切,𠀤音褮). AHV: oanh. 縈 nghĩa gốc là “quấn quanh, vòng quanh, trói”. Đồng nguyên tự: quành (đgt. quay lại; dt. khúc quanh). Ss đối ứng: cuột quạnh (thái) [HT Nghịch 1990: 78].
tt. HVVD trái với trực (thẳng). Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh. (Bảo kính 136.4).
ruột 𦛌
◎ Pọng: *hl-, kiểu tái lập: *‖-r [NT Cẩn 1997: 128]. Ss với các đối ứng trong phương ngữ: rwoât (Ai Thương, Mường), ruot (cao trai, Mường), rót (Lâm La, Mường), rọt (Đà Nang), rot (Thái Lai), kê rôât (Canh Nan), kê rwoêt (Ban Đào), bơ ruêch (Sách), prươc (chàm), krut (Mon), Gaston tái lập là *kruột [1967: 173]. Kiểu tái lập: *hruot⁵> ruột [TT Dương 2013b]. Âm PVM: *ruəc [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. lòng. Co que thay bấy ruột ốc, khúc khuỷu làm chi trái hoè. (Trần tình 44.3).
dt. lòng, đáy. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5).
rây 籂
AHV: si.
đgt. (ánh sáng) chiếu qua các khe hở. Nguyễn Trãi trong bài Chu trung ngẫu thành có câu: “nửa rừng nắng rây cây sương khói” (半林殘照篩煙樹 bán lâm tàn chiếu si yên thụ). Trị dân sơ lập lòng cho chính, có nước thường in nguyệt khá rây. (Bảo kính 137.6).
rụng rời 𬈭浰
◎ Phiên khác: rụng rơi (ĐDA). Xét, “rụng rơi” và “rụng rời” đều là các đồng nguyên tự. Nhưng ở đây, đang thuộc khuôn vần -ời (dấu huyền) nên phiên như vậy.
đgt. <từ cổ> ý mạnh hơn rụng, đến thế kỷ XIX thấy đã có nghĩa dẫn thân “hãi kinh, sợ sệt” [Paulus của 1895: 884]. Thân nhàn đến chốn dầu tự tại, xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời. (Thuật hứng 59.6).
sơn dã 山野
dt. đồng nội, rừng núi. Của nhiều, sơn dã đam nhau đến, khó ở, kinh thành thiếu kẻ han. (Bảo kính 133.5).
sầm 󱪌 / 󱽐
◎ (cự 巨+ lẫm 凜 viết lược bộ thủ thành 禀). Phb. tự dạng tương tự, nhưng khác về thanh phù trong mục bấm. Kiểu tái lập: *krâm > sầm > thầm. [TT Dương 2012a].
tt. thầm. Sầm xem mai, hay tuyết đến, say thưởng nguyệt, lệ thu qua. (Bảo kính 168.3)‖Bóng sưa ánh nước động người vay, sầm đưa hương một nguyệt hay. (Mai thi 226.2), chữ sầm dịch chữ ám trong câu 暗香浮動月黄昏 (ám hương phù động nguyệt hoàng hôn) của Lâm Bô‖ Sầm xem mai, hay tuyết đến, say thưởng nguyệt, lệ thu qua. (Bảo kính 168.3). sầm (𡗋) gióng mây tóc đà mai trắng < 暗催新髪白 (Tuệ Tĩnh- thiền tông).
thung thăng 㫪升
đgt. đi lại tự do thoải mái. Ngày tháng kê khoai những sản hằng, tường đào ngõ mận ngại thung thăng. (Mạn thuật 23.2).
thư phòng 書房
dt. phòng đọc sách. Gió nhặt đưa qua trúc ổ, mây tuôn phủ rợp thư phòng. (Thuật hứng 51.6).
thờ ơ 蜍於
tt. “vô ý, xuất kỳ bất ý” [Paulus của 1895: 1019], ”thờ ơ: inopinatò” [Taberd 1838: 500]. Ta ắt muốn nhàn quan muốn lạnh, lo thay vì luỵ phải thờ ơ. (Tự thán 108.8).
Thừa chỉ 承旨
dt. tên một chức quan, chức này bắt đầu có từ đời Đường, tên đầy đủ là Hàn Lâm học sĩ Thừa chỉ thuộc Hàn Lâm viện, là quan đứng đầu các học sĩ, phàm các việc chính sự trọng yếu như cáo lệnh, phế truất, cắt đặt đều được một mình ứng đối. “qua bức thư Nguyễn Trãi thay mặt lê lợi soạn thảo sớm nhất còn lại là Thỉnh hàng thư (Thư xin hàng) viết vào tháng 5 năm quý mão (1423), có thể đoán Nguyễn Trãi được phong chức đó từ những năm đầu tham gia khởi nghĩa lam sơn. Dưới triều Lê Thái Tổ, với chức vụ Thừa chỉ, Nguyễn Trãi chuyên thay mặt vua soạn thảo chiếu, chế, biểu… ghi chép hoạt động của Nguyễn Trãi khoảng 1433 - 1437, Đại Việt sử ký toàn thư vẫn gọi ông với chức danh Thừa chỉ. Tháng 6 năm đinh tị (1437), nhân bất đồng với quy chế nhã nhạc do Lương Đăng soạn thảo, nhưng vua Lê Thái Tông lại tán thành, ông xin về Côn Sơn dựng nhà, thỉnh thoảng mới về thăng long chầu vua. Bài thơ có lẽ được làm ở Côn Sơn vào thời kỳ này, khi Nguyễn Trãi vẫn đương chức Thừa chỉ” [PL 2012: 131]. Thừa chỉ ai rằng thì khó ngặt, Túi thơ chứa hết mọi giang san. (Tự thán 72.7).
thửa 所
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003b: 178]. AHV: sở.
dt. <từ cổ> chốn. yến thửa: bữa tiệc, như trị sở (thửa): nơi xử lý các việc công. Yến thửa Dao Trì đà có hẹn, chớ cho Phương Sóc đến lân la. (Đào hoa 231.3).
HVVD mảnh ruộng. Ruộng nhiều quê tổ năm ba thửa, tạc tỉnh canh điền tự tại nhèn. (Bảo kính 140.7).
ht. <từ cổ> có chức năng danh hoá từ đứng sau nó. Thửa cầu. (Bảo kính 162.2). Thửa cầu: cái đang tìm kiếm‖ (Thuật hứng 58.7), thửa trách: sự trách cứ‖ (Tự thán 74.8). thửa nguyền: cái mong ước‖ (Tự thán 106.1), thửa nuôi: sự nuôi nấng‖ Thửa tranh. (Tự thuật 113.8)‖ (Bảo kính 164.7), thửa được: cái được‖ (Bảo kính 177.5), thửa làm: việc mà mình đã thực hiện‖ Thửa việc điều canh bội mấy phần. (mai 214.8)‖ Thửa dùng. (Trư 252.2).
đt. <từ cổ> đại từ sở hữu, của mình. (Tự thuật 119.7), thửa phận : phận mình ‖ Làm người thì chử đạo Trung Dung, khắn khắn răn dỗ thửa lòng. (Tự giới 127.2), thửa lòng: lòng mình‖ (Bảo kính 175.2)‖ (Mộc hoa 241.3)‖ Thửa danh. (Liên hoa 243.2).
truyền bảo 傳報
đgt. HVVT Nói từ người này qua người khác. “Chẳng nhàn” xưa chép lời truyền bảo, Khiến chử cho qua một đạo thường. (Bảo kính 128.7). x. bảo.
trừ tịch 除夕
dt. đêm trừ tịch, đêm ba mươi, tên bài số 194. Trừ tịch: đêm cuối cùng của một năm theo âm lịch, còn gọi là “tuế trừ”. Theo Lã Thị Xuân Thu: đêm trừ tịch người ta thường thức chong đèn để đợi năm mới (thủ tuế), đến thời điểm giao thừa thì khua chiêng chống, đốt pháo, để xua đuổi (trừ) bệnh tật, ma quỷ (tịch). x. đốt trúc, x. chong đèn chực tuổi.
tuần 旬
dt. mười ngày. Sách Thuyết Văn ghi: “Mười ngày là một tuần” (十日為旬). Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai mà no chín tuần. (Vãn xuân 195.2).
tuổi 歲
AHV: tuế. Ss đối ứng t’uəl (15 thổ ngữ Mường), suəl (13) [NV Tài 2005: 284].
dt. <từ cổ> năm. Cây lục vờn vờn bóng lục in, xuân nhiều tuổi đã kể dư nghìn. (Thiên tuế thụ 235.2)‖ (Trừ tịch 194.5)‖ x. chong đèn chực tuổi.
dt. tuổi tác. Chân chăng lọt đến cửa vương hầu, ấy tuổi nào thay đã bạc đầu. (Mạn thuật 30.2)‖ (Trần tình 38.8, 40.7)‖ (Thuật hứng 54.6)‖ (Tự thán 72.6, 75.7, 99.5)‖ (Tự thuật 113.3, 120.2)‖ (Bảo kính 134.7, 143.5)‖ (Vãn xuân 195.3).
từ 辭 / 辝
◎ Tục tự: 辝
đgt. chối, từ chối. (Mạn thuật 36.6)‖ (Bảo kính 153.7)‖ Bạn tác dể duôi đà phải chịu, anh em trách lóc ấy khôn từ. (Bảo kính 180.6)‖ (Bảo kính 185.4).
vinh 榮
dt. trái với nhục. Lã Thị Xuân Thu có câu: “Vả lại, kẻ nhục cũng có lúc vinh” (且辱者也而荣 thả nhục giả dã nhi vinh). Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.8). x. bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh, xét.
vui 盃 / 𬐩
◎ {司 tư + 盃 bôi}. Kiểu tái lập : *tbui. so sánh với đối ứng pui (Mẫn Đức, Mỹ Sơn, Làng Um, Suối Sàng, Thạch Bi) trong tiếng Mường, nhẫn Gaston tái lập là *kbui [1967: 131]. Shimizu Masaaki dẫn đối ứng tapuj¹ trong tiếng Rục [2002: 769; x. TT Dương 2012a]. Có thuyết khác cho vui là âm THV của dự 豫. Xét, đối ứng d- (AHV) v- (THV), như 役 dịch / việc. x. việc. Mặt khác, dự còn có nghĩa gốc là con voi, mà voi là một từ THV của vi (theo tự hình giáp cốt văn là vẽ hình con voi). Tồn nghi.
tt. trái với buồn. Vui xưa chẳng quản đeo âu (Ngôn chí 19.8), dịch câu tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc (lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ) của văn chính Phạm Trọng Yêm đời Tống‖ Khó miễn vui. (Thuật hứng 58.7), dịch câu an bần nhi lạc‖ (Tự thán 99.8), Nguyễn Trãi trong bài Ngẫu thành có câu “Tu thân mới biết làm điều thiện là vui.” (修己但知為善樂 tu kỷ đãn tri vi thiện lạc).
đgt. mừng. (Tự thán 103.7)‖ Đổi lần đã mấy áng phồn hoa, dầu ngặt, ta vui đạo ta. (Bảo kính 168.2), dịch câu an bần lạc đạo.
Vương Chất 王質
dt. người đời Tấn. Truyện kể, một hôm Vương Chất đi kiếm củi trên núi thạch thất, thấy hai vị đang đánh cờ bên bờ suối, bèn buông rìu đững xem. Đứng một hồi, thì một vị ngẩng lên bảo chất về nhà; chất đứng dậy toan cầm rìu quay về thì thấy cán rìu đã mục, lưỡi rìu đã hoen rỉ hết cả. Đến khi về đến nhà, mới phát hiện ra là mọi thứ đã thay đổi. Không ai nhận ra ông; lần hỏi mãi mới biết là đã trải qua mấy trăm năm rồi. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.7).
xáo 操
đgt. cày xới, “xáo lên: bối lên, làm cho bề dưới trở lên trên, (thường nói về sự trở đất)” [Paulus của 1895 t2: 575]. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.3).
yến 宴
dt. tiệc. Yến thửa Dao Trì đà có hẹn, chớ cho Phương Sóc đến lân la. (Đào hoa thi 231.3).
đuốc 燭
◎ Nôm: 𤒘 Đọc theo âm THV. Âm HTC: tjuk (Lý Phương Quế). AHV: chúc. Ss đối ứng tiəm, diəm (23 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 217]. Chứng tỏ, “đuốc” gốc Hán (âm THV), “diêm” gốc Hán Việt-Mường (焰火 AHV: diệm hoả), tiếng Việt chỉ còn bảo lưu “diêm” ở nghĩa “đồ đánh lửa” (diêm sinh, diêm tiêu) [LN Trụ 1959: 132].
dt. bó củi dùng để đốt sáng. Bốn bể nhẫn còn mong đuốc đốt, dầu về dầu ở mặc ta dầu. (Bảo kính 154.7). Sách Nhĩ Nhã chú sớ có câu: “Bốn mùa hoà thuận là đuốc ngọc, chua rằng: đạo chiếu như ánh sáng, khiến xuân vì thế nảy nở, hè vì thế lớn đầy, thu vì thế thâu tàng, đông vì thế an ổn.” (四時和謂之玉燭注道光照春為發生夏為長贏秋為收成冬為安寧). Sách Từ Nguyên giải thích rằng đức của vua như ngọc mà sáng như đuốc, có thể gây điềm lành khiến cho khí hậu thuận hoà. Đông Phương Sóc truyện có đoạn: “lấy rồng ngậm đuốc để chiếu cửa trời, đời trị thì lửa sáng, đời loạn thì lửa tối”. [ĐDA: 798]. Phiên khác: đúc chuốt: “xây đắp, sửa sang cho đẹp” (TVG, Schneider, PL)‖ Cầm đuốc chơi đêm. (Vãn xuân 195.7)‖ (Tích cảnh thi 204.4, 205.1). x. cầm đốc chơi đêm, bỉnh chúc dạ du.
đã 已
◎ Nôm: 㐌 / 它 AHV: dĩ
đgt. khỏi, đỡ, qua đi. (Bảo kính 174.3, 175.1, 183.3, 188.2)‖ Túi đã không tiền, khôn chác rượu, vườn tuy có cúc, chửa đâm hoa. (quy côn 189.3, 189.5)‖ (Tảo xuân 193.2)‖ (Tích cảnh 200.2, 204.2)‖ (Tùng 219.4, 220.1)‖ (Trúc thi 221.3)‖ (Mai thi 224.3, 225.1)‖ (Đào hoa 228.4, 232.1)‖ (Hoàng tinh 234.4)‖ (Thiên tuế thụ 235.2, 235.3)‖ (Cúc 240.3)‖ (Cam đường 245.3)‖ (Trường an 246.3)‖ (Lão hạc 248.3)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.1).
đgt. hơn. (Tự thán 99.8)‖Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật, trăm kháo nào qua chước kháo đầy. (Bảo kính 171.3, 172.8).
p. từ trỏ thời quá khứ. Sự thế dữ lành ai hỏi đến, bảo rằng ông đã điếc hai tai. (Ngôn chí 6.8, 8.1, 20.5, 22.1)‖ (Mạn thuật 25.5, 25.8, 28.2, 28.8, 30.2, 34.6, 36.7)‖ (Trần tình 40.8, 45.6)‖ (Thuật hứng 46.8, 50.3, 51.2, 53.1, 53.4, 61.6, 62.4, 69.1)‖ (Tự thán 74.1, 75.2, 75.7, 79.6, 90.8, 96.2, 96.7, 98.1, 100.5, 102.8, 103.2, 104.7, 109.6, 111.8)‖ (Tự thuật 113.3, 118.8, 120.2)‖ (Tức sự 123.7)‖ (Bảo kính 141.8, 146.7, 147.8, 155.7, 156.4, 161.1, 165.4, 168.1, 170.4, 171.3).
đói 対
◎ Ss ton³ (nguồn), tol³ (Mường bi) [NV Tài 1993: 236].
đgt. trái với no. Ngủ thì nằm đói lại ăn, việc vàn ai hỏi áo bô cằn. (Tự thán 110.1)‖ Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.4).
đôi co 堆姑
đgt. giành nhau, tranh nhau, cãi nhau, đôi gốc Hán, co gốc Việt. “Nói đi nói lại, chống báng, không nhịn, không vì.” [Paulus của 1895: 313]. Ngỡ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.8)‖ (Bảo kính 176.1)‖ Thế sự đôi co dầu thế sự. (HĐQA b.1), Làm chi cho có sự đôi co. (Bạch Vân Am b.72).
đạm bạc 淡薄
◎ Nôm: 淡泊
tt. đạm: nhạt, bạc: mỏng; đạm bạc: “lợt lạt, sơ sài” [Paulus của 1895: 262], (bóng) lãnh đạm, không thèm quan tâm đến. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.5)‖ (Tức sự 125.8). ở đây dùng nghĩa bóng.
đọc 讀
AHV: độc. Ss đối ứng dɔk, tɔk (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 214]. Đây là từ Hán Việt-Mường.
đgt. đọc sách. Am quạnh thiêu hương đọc “ngũ canh”, linh đài sạch một dường thanh. (Mạn thuật 31.1, 36.1)‖ (Tự thán 76.7, 97.1, 103.6)‖ (Bảo kính 166.1, 184.5).
sao 牢
◎ Thanh phù này được dùng nhất quán từ thế kỷ XII đến thế kỷ XX. Từ thế kỷXII đến XV, có khả năng vẫn đọc với thủy âm kép, thêm nữa ngữ tố nảy chỉ xuất hiện 1 lần ở câu thơ bảy chữ và 3 lần ở các câu thơ sáu chữ. Kiểu tái lập: *krao¹ > sao (hư từ). [TT Dương 2013b].
đt. thế nào. Có thân thì cốc khá làm sao, Lảng bảng công hư, tuổi tác nào. (Thuật hứng 47.1)
p. cảm thán từ. Con lều mọn mọn đẹp sao, Trần thế chẳng cho bén mỗ hào. (Thuật hứng 52.1)‖ (Bảo kính 167.1).
cờ 碁 / 棊 / 棋
◎ đọc theo âm THV, AHV: kỳ.
dt. trò chơi phỏng theo trận chiến, có các con tướng, sĩ, tốt... đánh theo luật trên bàn chia ô. (Ngôn chí 2.6, 13.2)‖ Lòng người tựa mặt ai ai khác, Sự thế bằng cờ, bước bước nghèo. (Mạn thuật 32.6), Đỗ Phủ có câu: “nghe nói Trường An tựa đánh cờ, trăm năm thế sự buồn ngất ngơ.” (聞道長安似弈棋,百年世事不勝悲 văn đạo Trường An tự dịch kỳ, bách niên thế sự bất thăng bi)‖ (Trần tình 41.1)‖ bàn cờ tốt đuổi xe. (Trần tình 44.8)‖ (Tự thán 89.5, 90.6)‖ (Bảo kính 154.5).