Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Mạnh Tử
bích đào 碧桃
dt. loại đào thắm, cánh dày. Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8) câu này dịch ý từ câu thơ: “chẳng biết lưu lang khi đi khỏi, hoa đào đã mấy độ đâm cành mới” (不識劉郎歸去後桃花已發幾新枝 bất thức lưu lang quy khứ hậu, đào hoa dĩ phát kỷ tân chi?).
bất 不
p. phủ định từ. Kham hạ hiền xưa toan lẩn được, ngâm câu: “danh lợi bất như nhàn (Bảo kính 160.8).
bất nghĩa 不義
dt. tt. (việc) trái với đạo nghĩa, (việc) không nên làm. Cầu hiền chí cũ mong cho được, bất nghĩa lòng nào mựa nỡ toan. (Bảo kính 144.4, 185.8). Sách Mạnh Tử ghi: “Làm một điều bất nghĩa, giết một người vô tội mà chiếm được thiên hạ, thì cả hai việc ấy đều không làm” (行一不義殺一不辜而得天下皆不為也).
hóc 曲
AHV: khúc. Tương ứng h- kh: hang (hốc) ~ khanh 坑 (hang), (hắt) hủi ~ (trừ) khử 去, hiếm (hoi) ~ khiếm 欠 (= thiếu), hổng ~ khổng 孔 (= lỗ hổng). Tương ứng ơi ~ i, dời ~ di 移, lơi / rời ~ ly 離, (thổ-) ngơi ~ nghi 宜, gởi ~ 寄, (ca-) ngợi ~ nghị 議 [Huệ Thiên 2006].
tt. <từ cổ> gập ghềnh, không suôn sẻ; lưu tích còn trong hiểm hóc (hiểm trở và khúc khuỷu). Chí cũ ta liều nhiều sự hóc, người xưa sử chép thảy ai còn. (Thuật hứng 49.3). x. hiểm hóc.
ly tao 離騷
dt. tên tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Khuất Nguyên. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8).
mồ hòn 戊丸
dt. cây thân mộc, quả vị rất đắng, dùng để giặt giũ. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.4). của ngon chẳng còn đến trưa, mồ hòn có ngọt thì vua đã dùng cd
nhắn nhủ 認󱸺
đgt. gửi lời khuyên. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
nhọn 悅 / 銳
tt. trái với cùn, đụt. Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh (Bảo kính 136.3)‖ (Trư 252.1).
nấu 𤒛
đgt. đun cho chín. Than lửa hoài chưng thương vật nấu, [củi] thiêu tiếng khóc cảm thần linh. (Bảo kính 151.5), bài này nhắc đến điển Tào Thực (192-232) làm thơ ngăn anh trai Tào Phi (Nguỵ Văn Đế) định giết hại mình. Vì như thế là làm việc “Nấu đậu bằng cành đậu, đậu khóc than trong nồi: ‘vốn sinh cùng một cội, nấu nhau nhanh quá đỗi’.” (煮豆燃豆箕, 豆在釜中泣。 本是同根生, 相煎何太急 chử đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp: ‘bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp’), sau trỏ việc anh em giết hại nhau. Cho nên bài thơ mở đầu bằng câu: “ai trách hiềm cây lại trách mình”.
phòng 防
đgt. dự tính trước mà chuẩn bị cách ứng phó. Ai có của thông phòng thết khách, một ao niễng niễng mấy đòng đòng. (Thuật hứng 56.7)‖ (Bảo kính 128.5)‖ (Giới sắc 190.2).
sơn tăng 山僧
dt. thiền sư tu hành trên núi. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8).
thư phòng 書房
dt. phòng đọc sách. Gió nhặt đưa qua trúc ổ, mây tuôn phủ rợp thư phòng. (Thuật hứng 51.6).
tiếng 聲
◎ Nôm: 㗂 Ss đối ứng t’iəŋ (15 thổ ngữ Mường), siəŋ (15) [NV Tài 2005: 279], tiểng, cằm, heng [HV Ma 1984: 456]. Ss tương ứng khuôn vần -anh/-inh (AHV) -iêng (THV): 城 thành chiềng, 呈 trành/ trình chiềng, 正 chánh/ chính chiếng (tứ -), 正 chánh/ chính giêng, 精靈 tinh (linh-) thiêng (-liêng), 鉦 chinh chiêng (cái-), 檠 kình kiềng, 領 (bản) lĩnh (vốn) liếng [An Chi 2006 t5: 148; 2005 t1: 413; t2: 356], 鏡 kính kiếng, 驚 kinh kiềng,… khuôn vần âm HTC của 聲: -jeŋ (Baxter, Phan Ngộ Vân). Như vậy, tiếng là âm THV.
dt. âm thanh. Ngâm sách “thằng chài” trong khuở ấy. Tiếng trào dậy khắp Thương Lang (Ngôn chí 9.8, 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 35.4)‖ (Thuật hứng 61.8, 70.2)‖ (Tự thán 98.4)‖ (Tự thuật 119.5)‖ (Tức sự 123.8)‖ (Bảo kính 150.8, 151.6, 164.8, 170.7)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 201.1)‖ (Nhạn trận 249.6).
dt. tai tiếng, danh tiếng, lời nghị khen bao biếm. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ Tiếng thị phi. (Thuật hứng 57.8)‖ (Tự thán 75.1, 76.2, 84.6), Tiếng hổ hang. (Tự thán 93.8)‖ (Bảo kính 140.6)‖ (Trúc thi 221.3, 222.1).
Trương Lương 張良
(? - 188 tcn)
dt. tự là tử phòng 子房, là văn thần có công giúp Lưu Bang đánh đổ nhà tần và thắng hạng vũ trong chiến tranh Hán Sở sáng lập ra nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Trong khi các công thần nhà Hán như Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố lần lượt bị Lưu Bang trừ khử để phong đất cho các hoàng tử họ lưu, riêng Trương Lương bỏ đi ở ẩn. Trương Lương nói với Lưu Bang: ‘gia đình tôi đời đời làm tướng quốc nước hàn. Đến khi hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng vàng, đối phó với nước tần mạnh, để báo thù cho nước hàn, làm cho thiên hạ đều rung động. Nay tôi lấy ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư hầu, kẻ áo vải được thế là tột bậc, đối với lương thế là đủ rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du với Xích Tùng Tử mà thôi’. Ông bèn học cách nhịn cơm, học lối đạo dẫn cho nhẹ mình. Năm 195 tcn, Lưu Bang chết, lưu doanh lên thay, tức là hán huệ đế. Năm 188 tcn, Trương Lương qua đời, được đặt tên thuỵ là văn thành hầu. Con ông là trương bất nghi thay cha làm tước hầu. Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở, tìm tiên để nộp ấn phong hầu. (Bảo kính 162.7).
tướng khanh 相卿
dt. dịch đảo từ chữ khanh tướng. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
xạ 麝
dt. mùi thơm tiết ra từ rốn con hươu xạ, nên còn gọi là xạ hương 麝香. Lành người đến, dữ người dang, yêu xạ vì nhân mùi có hương. (Bảo kính 147.2)‖ xạ, tự nhiên mùi ngát bay, lọ là đứng gió xang tay. (Bảo kính 172.1), dịch câu hữu xạ tự nhiên hương 有麝自然香,何必當風立 (有麝自然香,何須迎風揚)(有麝自然香,何必人前誇)‖ Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.1).
đốt 節
◎ Nôm: 炪 AHV: tiết.
dt. đoạn giữa các mấu trên thân cây. Ăn nước kìa ai được thú, lần từng đốt mới hay mùi. (Giá 238.4).
đồng bào 同胞
dt. những người cùng một cha mẹ sinh ra, trỏ người cùng dân tộc, cùng quốc gia. Sách Hán Thư ghi: “Anh em đồng bào (ruột thịt) chẳng thể sống cùng nhau, cớ là làm sao?” (同胞之徒所所容居,其故何也?). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).