Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Mường
mường tượng 夢想
◎ Nôm: 恾象 AHV: mộng tưởng.
đgt. hy vọng và mơ tới, đọc theo âm Việt hoá. Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng, lá chưa ai quét cửa thông. (Thuật hứng 51.7)‖ (Tự thán 98.5).
ai 埃
◎ Ss đối ứng: a²ŋăj¹ (Mường Thải), ăj³ (Mường Ống), ŋwăj² (Yến Mao, Ba Trại) [NV Tài 2005: 171]. Đồng nguyên với người- ngài.
đt. từ trỏ chủ thể phát ngôn, có khi mang hàm ý phủ định. Con đòi trốn, dường ai quyến, bà ngựa gày, thiếu kẻ chăn. (Thủ vĩ ngâm 1.3)‖ (Ngôn chí 6.7, 13.2, 20.8, 22.4)‖ (Mạn thuật 23.8, 25.4, 28.7)‖ (Trần tình 40.2)‖ (Thuật hứng 47.7, 48.8, 49.4, 51.8, 54.2, 56.7, 57.1, 59.4, 66.8, 70.7)‖ (Tự thán 72.7, 73.7, 76.7, 83.7, 84.2, 85.8, 87.7, 91.8, 92.1, 100.8, 104.8, 106.3)‖ (Tức sự 124.7).
đt. từ trỏ người nào đó. Ngủ thì nằm, đói lại ăn, việc vàn ai hỏi áo bô cằn. (Tự thán 110.2)‖ (Tự thuật 113.8, 114.7, 115.7, 121.8)‖ (Bảo kính 135.2, 131.4, 131.7, 137.2, 139.4, 147.4, 149.7, 151.1, 151.7, 152.7, 155.8, 156.8, 159.7, 167.2, 171.8, 180.7, 181.7, 182.6, 185.4)‖ (Tảo xuân 193.8)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.1)‖ (Tích cảnh thi 200.4, 203.4)‖ (Tùng 218.3)‖ (Trúc thi 221.4)‖ (Đào hoa 230.1, 232.3)‖ (Hoàng tinh 234.3)‖ (Giá 238.3)‖ (Liên hoa 243.4)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Miêu 251.6)‖ (Thái cầu 253.8).
anh 󰞿, 英
◎ (tục tự của 嬰). Ss đối ứng εŋ² (Giáp Lai, Yến Mao, Ba Trại), εɲ² (Thạch Sơn, Mường Dồ) [NV Tài 2005: 171].
dt. trong quan hệ với tam (em). (Thuật hứng 64.6)‖ (Bảo kính 139.6)‖ Tuy rằng bốn bể cũng anh tam, có kẻ hiền lành, có kẻ phàm. (Bảo kính 174.1). bốn bể cũng anh tam dịch câu tứ hải giai huynh đệ. Ss cha thì già, tam thì dại.
ao 𬇚
◎ Ss đối ứng: aw (16 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 171].
dt. nơi đất hõm sâu để tích nước, nuôi cá, thả rau. (Ngôn chí 11.6) ‖ Cá trong ao. (Mạn thuật 35.2)‖ Ai có của thông phòng thết khách, một ao niễng niễng mấy đòng đòng. (Thuật hứng 56.8, 68.5, 69.3)‖ (Tự thán 89.6)‖ Lồng chim ao cá. (Tự thuật 118.5)‖ Ao chín khúc. (Bảo kính 154.3)‖ (Thủ vĩ ngâm 1.5).
ba 𠀧 / 巴
◎ Ss với đối ứng pa, ba (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 173].
dt. số đếm. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.2), ba làn dịch chữ tam điệp 三疊 (?)‖ (Mạn thuật 27.3)‖ Đôi ba. (Thuật hứng 56.1, 58.5)‖ (Tự thán 76.6)‖ Trống ba. (Tự thán 94.6), trống ba dịch từ chữ tam cổ: tức tam canh, suốt đêm ba canh. (Tự thán 80.6)‖ (Bảo kính 158.8, 169.8, 140.7, 157.8)‖ Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.6)‖ Ba tháng. (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Tích cảnh 207.3)‖ (Đào hoa 230.3, 232.2)‖ (Điệp trận 250.7).
biếc 碧
AHV: bích.
tt. màu xanh của nước, biếc đọc theo âm THV. Thuyền chèo đêm nguyệt, sông biếc, cây đến ngày xuân, lá tươi. (Ngôn chí 22.5)‖ (Bảo kính 153.3).
biếng 丙
tt. lười, ngại. “lam bieng: piger” [Morrone 1838: 195]. (Ngôn chí 18.1)‖ (Tự thán 98.6)‖ Ngòi cạn ước ở làm cấn cấn, cửa quyền biếng mặc áo thê thê. (Tự thán 109.4)‖ (Bảo kính 139.6, 149.8, 155.4, 165.8, 169.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.8)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.2).
buồm 帆 / 㠶
◎ âm THV, AHV: phàm.
dt. bộ phận ăn gió để chuyển thành động lực cho thuyền chạy. Mui thác trăng dương thế hứng, buồm nhân gió, mặc khi phiêu. (Tự thán 101.4).
buồng the 房紗
◎ Nôm: 𢩣絁
dt. HVVT phòng có lụa the buông cho đẹp và kín đáo, trỏ phòng riêng của con gái nhà quyền quý xưa. Đi nào kẻ cấm buồng the kín, ăn đợi ai làm bàn soạn đầy. (Miêu 251.5).
buộc bện 縛緶
◎ Nôm: 纀𥾽 buộc: âm THV [Schuessler 1988: 247]. AHV: phược biền. Ss đối ứng: puôk⁵ (nguồn), puôk⁵ (Mường bi), dzăk² (Chứt), (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236]. x. bện.
đgt. HVVT <từ cổ> níu, kéo, lôi kéo, gò ép, ràng buộc, khống chế. Thế sự dầu ai hay buộc bện, sen nào có bén trong lầm. (Thuật hứng 70.7).‖ Hoặc ở lâu trong nước người chẳng hay cẩn thận, phải người mưu lừa sá quanh co, buộc bện, luống phải điều bắt cầm, ràng trói. (Phật Thuyết, 19b), dịch chữ câu khiên 勾牽.
bà ngựa 󰜏馭
ngọ 午: ngựa [Vương Lực 1958: 36]. Dừng ngựa là ngự 御, 馭, các đồng nguyên tự trên có kiểu tái lập là *ngia [Vương Lực 1982: 139-140; LQ Kiệt 1999: 308]. Chữ 馭 là chữ chỉ ý gồm cái tay (又) và con ngựa. Chữ 御 là chữ hình thanh kiêm chỉ ý: bộ xích 彳 trỏ con đường, chữ ngọ 午 trỏ con ngựa (đồng thời là thanh phù), dưới là chữ chỉ 止 (dừng, hãm), bộ tiết 卩 trỏ cái roi. Ngoài ra, còn có chữ 卸 với nghĩa là dỡ đồ [Karlgren 1923: 238], nhưng lại lấy tiết 卩 làm thanh phù nên đọc là , có lẽ nghĩa gốc là dỡ đồ từ trên lưng ngựa xuống, cho nên mới có ngọ 午 làm ý phù. Karlgren tái lập âm của ba chữ 馭,御,禦 là *ngiʷo’ [1923: 376]. Ngoài ra còn có ngự 午卩 , mà Huệ Thiên (2004: 305-310) coi là một đồng nguyên tự của ngọ. Norman (1985: 88) coi 午 là từ mượn của Mon Khmer, chua tiếng Việt có ngựa, proto Việt-Mường là maŋəə [Ferlus 1992: 57]. Schuessler (1987: 519) tái lập 午 là *ŋuoᴮ LH *ŋa, OCM *ŋâ, đồng thời cũng xác nhận 御 là đồng nguyên tự và tái lập là *ŋjwoᴮ (1987: 590). Với cứ liệu maŋəə từ tiếng Pakatan, và các cứ liệu bà ngựa trong tiếng Việt cổ có thể nghĩ đến giả thuyết rằng đây là lưu tích của một từ để trỏ ngựa trong tiếng HTC, từ này vốn có tổ hợp phụ âm đầu *- (ng có tiền mũi) mà là lưu tích của tiền mũi *m-, còn *ŋ- trong ngọ, ngựa là lưu tích của *-. Cũng có khả năng maŋəə là cách đọc Việt hoá vào giai đoạn tiếng Việt cổ, như lốc, trọc, trốc ngày nay vốn xuất phát từ một âm Việt hoá vào thế kỷ XV là *tlốc vốn có nguyên từ là độc 髑. x. trốc, x. mắng.
dt. <từ cổ> con ngựa. (Thủ vĩ ngâm 1.4)‖ (Tự thuật 114.3)‖ Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính 137.3)‖ sách đối đan trì, văn chói chói gấm trên bà ngựa (Lê Thánh Tông - Thập giới cô hồn…)‖ xích tiểu đằng là dây răng bà ngựa…mã hành lấy não bà ngựa (Tuệ Tĩnh - nam dược Quốc Ngữ phú).
bãi 𣺽
◎ Ss đối ứng: bại (Tày) [HTA 2003: 27].
dt. doi cát do phù sa bồi nên. (Ngôn chí 9.5)‖ (Bảo kính 153.3)‖ Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.4)‖ (Hoè 244.1)‖ (Nhạn trận 249.1).
bích đào 碧桃
dt. loại đào thắm, cánh dày. Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8) câu này dịch ý từ câu thơ: “chẳng biết lưu lang khi đi khỏi, hoa đào đã mấy độ đâm cành mới” (不識劉郎歸去後桃花已發幾新枝 bất thức lưu lang quy khứ hậu, đào hoa dĩ phát kỷ tân chi?).
bùi ngon 裴唁
tt. vị ăn béo thơm và nịnh miệng. Quân tử, thánh hiền lòng tựa nước, càng già càng ngẫm của bùi ngon. (Bảo kính 182.8).
bĩ thái 否泰
dt. tên hai quẻ trong Kinh Dịch, trời đất giao hoà, muôn vật hanh thông thì gọi là thái 泰, ngược lại bế tắc không giao hoà thì gọi là bĩ 否, hai quẻ biểu tượng cho sự đối lập tốt - xấu, thịnh - suy, bế tắc - hanh thông. Phan Nhạc đời Tấn trong tây chinh phú có câu: “há địa thế lúc an nguy, thực việc đời khi bĩ thái” (豈地勢之安危,信人事之否泰 khởi địa thế chi an nguy, tín nhân sự chi bĩ thái). Cho hay bĩ thái mấy lề cũ, nẻo có nghèo thì có an. (Bảo kính 144.7).
bượp 乏
◎ âm HTC *bap [Schuessler 1988: 234]. AHV: phạp.
tt. <từ cổ> thiếu, ít, “bượp gì: thiếu gì” [Rhodes 1651 tb1994: 44]. Nhà còn “thi lễ” âu chi ngặt, đời bượp văn chương uổng mỗ danh. (Mạn thuật 31.4)‖ Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7)‖ (Tự thán 103.5).
bảy 𬙞
dt. số đếm. (Ngôn chí 22.3)‖ Làm chi pháo phúc lòng nhau bấy, rốt nhân sinh bảy tám mươi. (Bảo kính 138.8)‖ (Trần tình 45.1)‖ (Tự thán 76.8)‖ (Tích cảnh thi 203.4, 204.1).
bần tiện 貧賤
tt. nghèo hèn. Họ hoàng chú sách Luận Ngữ rằng: “không có vị trí gì thì gọi là tiện” (無位曰賤 vô vị viết tiện). Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ chuộng yêu? (Bảo kính 135.2).
Bắc Đẩu 北斗
dt. chòm sao phía bắc bao gồm các sao Thiên Khu 天樞, Thiên Toàn 天璇, Thiên Cơ 天璣, Thiên Quyền 天權, Ngọc Hoành 玉衡, Khai Dương 开陽, Dao Quang 摇光. Nối các vì sao này lại thành hình cái đẩu. Bốn sao đầu là thân đẩu gọi là đẩu khôi 斗魁, ba sao sau là cán đấu, gọi là đẩu thược 斗杓. Khi cán sao Bắc Đẩu trỏ về phía đông thì là mùa xuân, về nam là mùa hè, về tây là mùa thu, về bắc là mùa đông. Lỗi hoà đàn, tinh Bắc Đẩu, lang một điểm, thuỵ Liêu Đông. (Trư 252.3). Theo sách Dậu Dương Tạp Trở, có một thiền sư đời Đường hiệu là Nhất Hàng, giỏi thuật số, có người tù nhờ Nhất Hàng cứu, sư Nhất Hàng nói “xem chỗ nào có vườn mà trong đó có nuôi vật gì có bảy con thì bắt cả đem về đây”. Người nhà trong vườn nọ có bảy con lợn con, bèn bắt cả đến cho sư nhất hàng. Sư nhốt lợn vào một ống to, lấy giấy bịt kín lại. Cùng lúc đó quan thái sử tâu với vua là không thấy sao Bắc Đẩu mọc. Vua hỏi Nhất Hàng. Nhà sư trả lời rằng muốn sao Bắc Đẩu mọc trở lại thì không gì bằng đại xá tù nhân. Vua nghe lời sư Nhất Hàng thả bảy con lợn ra (ứng với bảy ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu), tức thì sao Bắc Đẩu lại sáng. (theo TVG). x. Liêu Đông. Liêu Đông thỉ, Lợn Liêu Đông.
bằng hữu 朋友
dt. bạn bè. Có thân mựa lệ bượp bằng hữu, đọc sách thì xem thấy thánh hiền. (Tự thán 103.5).
bến 𣷷
◎ Ss đối ứng: bến (Tày) [HTA 2003: 38].
dt. nơi đỗ thuyền. Đai lân bùa hổ lòng chăng ước, bến trúc đường thông cảnh cực thanh. (Tức sự 123.6)‖ (Bảo kính 157.3).
bề 皮
dt. <từ cổ> quãng tuổi nhất định. Bề sáu mươi dư tám chín thu, lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.1).
dt. <từ cổ> loại từ đứng trước thời điểm nhất định. Trong khi hứng động bề đêm tuyết, ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.7)
dt. <từ cổ> điều, việc, phần, “bề phú quý” [Rhodes 1651 tb1994: 37]. “bề: phần. Bề đức hạnh: phần đức hạnh” [Paulus của 1895: 45]. Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt, chưa dễ bằng ai đắn mới đo. (Ngôn chí 20.7)‖ Sự thế nên vong hết mọi bề. (Tự thán 88.2, 100.4)‖ Lấy đâu xuất xử lọn hai bề, được thú làm quan trật thú quê. (Tự thán 109.1)‖ Bề tiến thoái. (Tự giới 127.3)‖ Nén lấy hung hăng bề huyết khí. (Tự giới 127.7)‖ Bề tửu sắc. (Bảo kính 130.5, 141.1, 142.5)‖ Bề khôn thật. (Bảo kính 171.3)‖ Bề ong bướm (Cúc 216.5)‖ Bề biến hoá (Trư 252.6)‖ (Trần tình 37.5).
bể triều quan 𣷭朝官
dt. dịch chữ hoạn hải 宦海 (bể hoạn), trỏ chốn quan trường nhiều chông gai bất trắc không lường trước được cũng giống như sóng gió trên biển, nên còn gọi là hoạn hải ba đào. Lục Du trong bài Tạ tiền tham chính khải có câu: “trường danh lặn lội, bao người tóc trắng ấy công toi; bể hoạn phiêu lưu, ngắm kẻ áo xanh mà cười mỉm” (名塲蹭蹬,幾白首以無成;宦海漂流,顧青衫而自笑 danh tràng tăng đắng, kỷ bạch đầu dĩ vô thành; hoạn hải phiêu lưu, cố thanh sam nhi tự tiếu). Thấy bể triều quan đà ngại vượt, trong dòng phẳng có phong ba. (Bảo kính 168.7).
bợ vay 備為
đgt. <từ cổ> vay mượn [Paulus của 1895: 65], “bợ vay. id” [Taberd 1838: 579]. Trời đã có kho vô tịn, dành để nhi tôn khỏi bợ vay. (Bảo kính 146.8). cn vay bợ. Phong nguyệt ít nhiều song viết đủ, khứng đâu vay bợ khứng cho ai (HĐQA phong cảnh môn, b.63), sớm vay tối bợ (TKML).
canh 經
dt. âm Việt hoá của kinh vào thế kỷ XVII về trước. “đăọc canh đăọc kệ: đọc kinh, tụng kinh kính tượng thần” [Rhodes 1651: 53; Schneider 1987: 385-386]. ở ăn không lành, đọc canh phải tội. Tng. x. ngũ canh.
chay 齋
◎ Nôm: 𭤕 AHV: trai. (tục tự của 夈 < 斎 < 齋).
dt. loại đồ ăn chỉ có thực vật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.4). trái thì trai: trái cây là đồ chay theo mùa.
chi tuổi 支歲
dt. HVVT <từ cổ> tuổi âm, năm tuổi, tính theo can chi, hán văn là chữ niên canh 年庚 . “chi tuổi: năm tuổi của Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi sinh năm canh thân 1380, thì năm 1440 cũng canh thân, đúng một chu kỳ 60 năm. Đến năm 1441, ông mới được Lê Thái Tông cho phục chức và ông làm bài Biểu tạ ơn” [BVN 1994: 57]. “chi là mười hai địa chi (tý, sửu, dần…). Chi tuổi là năm tuổi, Nguyễn Trãi sinh năm canh thân 1380, gặp năm thân là năm tuổi, không nhất thiết phải đến năm canh thân 1440 mới là năm tuổi như một vài sách giải thích” [MQL 2001: 724]. “Chi tuổi là năm tuổi, xưa thường cho rằng đó là năm gặp nhiều khó khăn.” [PL 2012: 92]. Cậy trời còn có bây nhiêu nữa, chi tuổi chăng hiềm kẻ khó khăn. (Trần tình 38.8).
chiêm bao 占包
dt. giấc mộng. Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.4, 51.2, 52.8)‖ (Tự thán 71.7)‖ (Tự thuật 122.2).
chiếm 占
đgt. lấy làm vật sở hữu của mình. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.4)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Dương 247.1).
chiều 朝
dt. <từ cổ> buổi, đứng trước các từ thời gian như mai (sáng), hôm (chiều), xuân. Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, trông thế giới phút chim bay. (Mạn thuật 26.1)‖ (Trúc thi 221.1)‖ Chiều mai nở chiều hôm rụng, sự lạ cho hay tuyệt sắc không. (Mộc cận 237.3). “chieu hom” [Morrone 1838: 219]. Ban đầu ,chiều là từ trỏ không gian “chìu: chỗ uất khúc vạy vò” [Paulus của 1895: 145], như Thng ruột đau chín chiều dịch từ câu “tràng nhất nhật nhi cửu hồi” của Tư Mã Thiên, sau mới chuyển sang nghĩa phái sinh thứ hai là “hướng chuyển động” như chiều hướng [An Chi 2005 t1: 38] và trỏ thời gian.
Chu 周
dt. <Nho> tức Chu Công 周公 tên là Cơ Đán 姬旦, là con của Chu Văn Vương 周文王, là em của chu Vũ Vương, từng giúp Vũ Vương triệu tạo nhà Chu, và từng phụ chính cho Chu Thành Vương sau này. Ông là bậc trọng thần thời Chu sơ, là thuỷ tổ của nước Lỗ. Chế độ lễ nhạc nhà Chu là đều do ông chế định, ông là biểu tượng cho lễ giáo tư văn thời cổ, là người Khổng Tử ngưỡng vọng hay mơ đến. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào, Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng, Chu. (Ngôn chí 15.4).
chua 醋
◎ Nôm: 珠 AHV: thố [LN Trụ 1960: 88; Schneider 1995]. Âm HTrC: tshuo (Karlgren, Phan Ngộ Vân, Chu Pháp Cao, đổng đồng hoà). Đối ứng c- (THV) tʰ- (AHV): 市 chợ thị, 匙 chìa thi , 禪 chiền thiền, 膳 chín thiện, 受 chịu thụ, 贖 chuộc thục [NĐC Việt 2011: 11], 刺 chích thích [LN Trụ 1960: 72], 時 chừ (giờ) thì. Ss đối ứng cuə (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 196]. Như vậy, “chua” là từ hán Việt-Mường.
tt. HVVD nghĩa gốc là “giấm” (danh từ), sau chuyển làm tính từ. Ở ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng, quá chua liền ủng, có ai màng. (Bảo kính 147.4). x. quá chua.
chuộng yêu 重腰
◎ Phiên khác: trọng yêu (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, MQL, NTN, PL).
đgt. quý trọng và yêu mến. Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ chuộng yêu? (Bảo kính 135.2). x. yêu.
chào 嘲
đgt. trong chào hỏi. Kìa nẻo Tô Tần ngày trước, chưa đeo tướng ấn có ai chào! (Thuật hứng 66.8)‖ (Bảo kính 167.4).
chàu chẳng kịp, khó còn bằng 𢀭庄及庫群朋
cd (Tự thán 77.1). So với người giàu thì mình chẳng bằng, so với người nghèo thì mình cũng như nhiều người. Ss trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình. cd
cháo 𥹙
◎ Có thuyết cho rằng nguyên từ là chúc 粥. Tạm để tồn nghi. Xét, cuối thế kỷ XVIII - đầu XIX còn từ lão đặc, lão lỏng [Phạm Đình Hổ 1827: 28b], còn lưu tích trong cháo lão , cháo = lão.
dt. gạo nấu loãng. Của thết người là của còn, khó khăn, phải đạo, cháo càng ngon. (Bảo kính 149.2). Cháo hoa có hiệu hi trì mát thay. (CNNA 15).
châm 斟
đgt. rót rượu. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5).
châu 珠
dt. loại đá quý, châu còn gọi hoả châu. Trong mỹ thuật cổ, thường được thể hiện bằng đồ án song long chầu nguyệt (hoặc nhật). Khởi nguyên của đồ án này bắt nguồn từ sơ đồ vận hành của các vì tinh tú nhật nguyệt trong thiên văn học phương đông. Truyền thuyết coi rồng ngậm nhật nguyệt dưới đáy biển, khi nào rồng há miệng thì nhật nguyệt mới mọc lên. Bắt đầu từ đời Hán, song long chầu nguyệt trở thành đồ án trang trí biểu trưng cho sự cát tường. Thu cao, thỏ ướm thăm lòng bể, vực lạnh, châu mừng thoát miệng rồng. (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
chèo lan 棹蘭
dt. <Nho> dịch chữ lan tương trong cụm quế trạo lan tương 桂棹蘭槳 trong bài Thiếu Ti Mệnh phần Cửu ca sách Sở Từ. Bài này miêu tả người ẩn sĩ bơi chiếc thuyền con giữa sóng nước mệnh mông để đi tìm một người đẹp lý tưởng (mỹ nhân)- đó là con người với những vẻ đẹp ưu trội bên trong. (Trần tình 42.1)
chênh chênh 征征
tt. nghiêng nghiêng. Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.4).
chí 志
dt. trong ý chí. Quân tử hãy lăm bền chí cũ, chẳng âu ngặt chẳng âu già. (Ngôn chí 18.7)‖ (Mạn thuật 32.2)‖ (Thuật hứng 49.3, 53.4, 66.2)‖ (Tự thán 89.2)‖ (Bảo kính 144.3).
chính 正
tt. đgt. đúng, không tà vạy, không lỗi đạo, khiến cho lòng quay trở về với đạo chính. Trị dân sơ lập lòng cho chính, có nước thường in nguyệt khá rây. (Bảo kính 137.5). Dịch từ cụm “chính tâm” (正心). Sách Lễ Ký thiên Đại Học ghi: “Muốn tu thân trước phải chính tâm” (欲脩其身者,先正其心). Tư Mã Quang trong giao chỉ hiến kỳ thú phú ghi: “Ta từng nghe rằng thánh nhân xưa khi trị thiên hạ thì lấy việc chính tâm làm gốc” (吾聞古聖人之治天下也,正心以為本).
dt. thuật ngữ trong binh pháp thời cổ, trỏ việc tập kích. Nước dẫy triều cường, cuối bãi đầy, làm “kỳ”, “chính” kháo nên bầy. (Nhạn trận 249.2). x. kỳ.
chính chuyên 正專
đgt. HVVT <Nho> thực hiện chuyên nhất. Gia tài ấy xem hèn hạ, đạo đức này khá chính chuyên. (Bảo kính 186.6).
chúng 󰕛
dt. <từ cổ> mọi người, trong quần chúng. Đạo đức hiền lành được mọi phương, tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.2).
dt. <từ cổ> từ trỏ số nhiều. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.4)‖ Chúng ngươi. (Tự thuật 120.8)‖ (Bảo kính 138.1). Tiếng Việt hiện chỉ còn bảo lưu “chúng mày”.
chăng 庒 / 庄 / 拯
p. phủ định từ. Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7, 6.3, 7.2, 8.2, 13.4, 14.7)‖ (Mạn thuật 28.5, 30.1, 32.3, 35.7)‖ (Trần tình 37.7, 38.8, 39.4, 43.1, 44.2, 44.5)‖ (Thuật hứng 47.8, 50.5, 53.3, 54.7, 58.4, 58.7, 68.3, 69.8)‖ (Tự thán 71.8, 79.5, 84.6, 86.3, 89.1, 97.8, 100.5, 102.8, 107.7, 108.5)‖ (Tự thuật 112.1, 115.4, 121.1)‖ (Tức sự 123.5, 125.5)‖ (Bảo kính 133.4, 136.7, 141.5, 142.6, 146.5, 165.7, 166.8, 167.4, 178.3, 184.7)‖ (Giới sắc 190.7)‖ (Tảo xuân 193.6)‖ (Cúc 217.3)‖ (Trúc thi 222.3)‖ (Hoàng tinh 234.3)‖ (Lão hạc 248.2)‖ (Miêu 251.7).
p. nghi vấn từ đặt cuối câu. Một phút thanh nhàn trong khuở ấy, thiên kim ước đổi được hay chăng? (Ngôn chí 16.8). Một phút thanh nhàn trong khuở ấy, nghìn vàng ước đổi được hay chăng? (Tự thán 77.8).
chước 䂨 / 斫
dt. <từ cổ> mưu lược, kế sách, lưu tích trong mưu ma chước quỷ. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào khuở ích chưng dân. (Trần tình 37.7)‖ Chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6, 161.6). x. mười chước.
②. dt. <từ cổ> cách, phương cách. Nợ cũ chước nào báo bổ, ơn sày, ơn chúa miễn ơn cha. (Tự thán 94.7)‖ (Bảo kính 171.4)‖ (Miêu 251.4).
chạy 𧼋 / 𧼌
đgt. chân đưa nhanh. Chân chạy, cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.7), chân chạy, cánh bay: dịch chữ phi tẩu 飛走, trỏ hai loài động vật: loài thú có chân biết chạy dưới đất, loài chim có cánh biết bay trên trời. Thấy ăn chạy đến thì no dạ, đỡ đánh bênh nhau ắt phải đòn. (Bảo kính 149.3).
chầy 遲
◎ Nôm: 迡 Đọc âm THV.
tt. <từ cổ> chậm. Một phút khách chầy còn thấy hỏi, hai phen lần đến ắt chăng chào. (Bảo kính 167.3)‖ (Mạn thuật 25.2)‖ (Tảo xuân 193.3)‖ Tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.6).
tt. <từ cổ> lâu dài. Muốn ăn trái, dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy. (Bảo kính 137.2, 171.8, 177.8)‖ (Mai thi 225.1)‖ Ngày chầy. (Trường an hoa 246.3).
tt. <từ cổ> khẽ khàng, nhẹ nhàng, chậm chậm. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.3)
chặm 箴 / 針
◎ Nôm: 站 / 𥿕 / 𥱱 Đọc theo âm Việt hoá. AHV: châm, nghĩa: cái kim, khâu. Thanh phù: trạm [xem thêm khảo luận văn tự của ĐDA 1974: 744- 745]. Đồng nguyên với chằm. Phiên khác: chiếm (TVG), chụm: chụm tranh tre lại mà làm nhà (ĐDA, MQL, PL). Nay theo NHV.
đgt. <từ cổ> dùng dây xuyên kết các vật liệu như củi gỗ, phên liếp lại với nhau [NH Vĩ 2010]. Thường chặm nhà ở am thanh ← 常構居凈庵 (TKML ii 21). Chặm tự nhiên một thảo am, dầu lòng đi bắc miễn về nam. (Thuật hứng 64.1, 67.1)‖ (Tự thán 102.1, 105.2)‖ (Tức sự 125.4).
chốn 准
◎ Phiên khác: 準.
dt. nơi. Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, bui một lòng người cực hiểm thay. (Mạn thuật 26.7)‖ (Trần tình 45.5)‖ (Thuật hứng 59.5)‖ (Tự thán 78.8, 86.6, 100.5)‖ (Tức sự 124.3)‖ (Bảo kính 167.8)‖ (Tích cảnh 211.2)‖ (Lão dung 239.1).
chờ 侍
◎ Nôm: 徐 / 除 x. chiền.
đgt. đợi. Ngỏ cửa Nho chờ khách đến, trồng cây đức để con ăn. (Mạn thuật 27.5)‖ (Tự thán 88.3)‖ (Bảo kính 155.2)‖ (Cúc 216.2).
chở 阻 / 䢐
đgt. mang đi trên khoang thuyền. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.6)‖ (Tự thán 108.6)‖ (Bảo kính 157.3).
chử 守
◎ Nôm: 渚 / 宁 / 𡨸 Chử: [Rhodes 1651: 61], âm cổ của giữ.
đgt. <từ cổ> để ý cẩn thận. “chử: ghi nhớ” [Vương Lộc 2001: 36]. Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh, chử khuở khô khao có khuở dào. (Thuật hứng 66.6)‖ (Tự thán 87.7) ‖ (Bảo kính 144.5).
đgt. <từ cổ> sống theo đạo lý nào đó. “chử: sửa mình, hối hận”. [Rhodes 1651: 61]. Làm người thì chử đạo Trung Dung, khắn khắn răn dỗ thửa lòng. (Tự giới 127.1) dịch chữ 拳拳服膺 (khắn khắn giữ trong lòng). x. khắn khắn. (Bảo kính 128.8, 131.1, 144.5) Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.5).
đgt. <từ cổ> lưu lại. Bến liễu mới dời, thuyền chở nguyệt, gác vân còn chử, bút đeo hương. (Bảo kính 157.4).
chực 直
đgt. chầu, hiện còn lưu tích trong chầu chực. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.3)
đgt. giữ. Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.5, 186.2).
đgt. đợi. x. Chong đèn chực tuổi. (Trừ tịch 194.5).
con nước 昆渃
dt. lần dâng lên hay rút đi của thuỷ triều. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3).
coong coong 工工
◎ Phiên khác: cong cong (ĐDA), công công (MQL), côông côông (PL). Nay theo TVG, VVK.
tt. từ tượng thanh trỏ tiếng các vật thể kim loại hình tròn khum, tạo nên những vòng sóng âm loe. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.8).
cuối 季
◎ Nôm: 檜 AHV: quý, đọc theo âm THV. Sách Thuyết Văn ghi: (究窮也). Kinh Thi phần Tiểu nhã ghi: “Ta chinh phạt phía tây, đến tận đồng cỏ xa xăm” (我征徂西,至于艽野). Chuỗi đồng nguyên trong tiếng Hán : 究= 窮 = 艽, kiểu tái lập: giuəm [LQ Kiệt 1999: 191- 192]. Xét, cả ba chữ trên đều có nghĩa gốc là “cái hang sâu”. Lại xét, 季 là “con cuối” (con út), “季弟” (em út) sách Nghi Lễ có chữ “季指” (ngón út). Lại có các từ như “季月” (cuối tháng), “季世” (cuối đời), “季春之月” (tháng cuối xuân). Xét, từ “cuối cùng” là cách đọc cổ của “究窮”, cứu cánh (cuối cùng) < 究竟. Ss đối ứng kuəj (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 204]. Đây là từ hán Việt-Mường.
dt. HVVD phía sau cùng của một không gian. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.6, 18.6)‖ (Nhạn trận 249.1).
cuộn cuộn 滾滾
AHV: cổn cổn.
tt. <từ cổ> nước chảy xiết, âm cổ của cuồn cuộn. Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước triều đông. (Thuật hứng 50.8).
càng 強
p. từ biểu thị mức độ tăng tiến. Khách lạ đến ngàn hoa chửa rụng, câu mầu ngâm dạ nguyệt càng cao. (Thuật hứng 52.4, 66.2)‖ (Tự thán 85.5)‖ (Bảo kính 142.1, 149.2, 177.5, 183.4)‖ (Tích cảnh thi 201.4, 206.3)‖ (Tùng 220.2)‖ (Trúc thi 223.3)‖ (Cúc 240.4).
p. càng… càng… cụm kết cấu biểu thị mức độ cùng tăng tiến. Càng một ngày càng ngặt đến xương, ắt vì số mệnh, ắt văn chương. (Tự thán 71.1)‖ (Tự thuật 122.3)‖ (Bảo kính 143.4, 182.8, 188.3)‖ (Mai 214.5). cn một…một
cành khô nên củi 梗枯𢧚檜
đc. ba anh em Điền Chân người đời Hán khi cha mất, đòi chia chác gia tài, chia chi li so kè đến mức cùng bàn nhau phá cây kinh trước nhà; đòi chặt cây làm ba phần để chia cho đều. Khi ấy, cây kinh bỗng héo đi rồi chết, anh em Điền Chân thấy thế mới tỉnh ngộ không so đo nhau nữa, cây kinh lại xanh tốt trở lại. [theo ý kiến của Đỗ Văn Hỉ, chuyển dẫn ĐD Anh 1976: 796]. Cành khô gấp bấy nay nên củi, hột chín phơi chừ rắp để bình. (Bảo kính 151.3).
cách 隔
◎ Ss đối ứng: cách (tách ra, chia xa ra) (Tày) [HTA 2003: 48].
đgt. ngăn. (Ngôn chí 21.4)‖ (Mạn thuật 35.3)‖ Song cửa ngọc, vân yên cách, dại lòng đan nhật nguyệt thâu. (Trần tình 40.3)‖ (Thuật hứng 51.4)‖ Cách song. (Lão mai 215.3).
đgt. xa lìa. (Tự thán 81.1)‖ (Tự thán 94.5)‖ (Tự thuật 115.5) Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.3).
đgt. bỏ qua một quãng thời gian, như từ cách nhật. Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.2).
cách xa 隔賒
đgt. HVVT tránh xa ra. Non lạ nước thanh trộm dấu, đất phàm cõi tục cách xa. (Thuật hứng 54.4).
cám 粓
◎ Nôm: 𥼲 Nước gạo. Thuyết Văn ghi: “Nhà Chu gọi chữ phan 潘 là cám, cũng viết là 粓.” (周謂潘曰泔。或作粓). Sách Tập Vận viết: “粓: âm cám, nghĩa là nước gạo” (沽三切,音甘。米汁也). Trong tiếng Việt, cám trỏ “gạo xay giã nát ra. Tấm cám: lúa xay nát ra gọi là tấm, gạo xay nát ra gọi là cám. Sú cám: đổ nước khuấy cám cho heo ăn” [Paulus của 1895: 93]. Trong tiếng Việt hiện nay, cám trỏ các loại thức ăn bột cho vật nuôi, không còn mang nghĩa “nước vo gạo nữa”. Nhưng, dân gian vẫn quen dùng nước vo gạo để nấu cám. Có lẽ, sự chuyển nghĩa từ Hán sang Việt là do thói quen này. Ss đối ứng kam (9 thổ ngữ Mường), tlɤw (3 thổ ngữ Mường), năn (5 thổ ngữ Mường), tʼap [NV Tài 2005: 185]. Như vậy, “cám” gốc Hán, “trấu” gốc Việt, “năn”- “tʼap” có khả năng là gốc Tày Thái. Đồng nguyên với cốm.
dt. cơm gạo. Vàng bạc nhà chăng có mỗ phân, lành thay cơm cám được no ăn. (Trần tình 38.2). Cơm cám: trỏ cơm ăn nói chung. x. cốm.
cánh cánh 更更
đgt. <từ cổ> âm cổ của canh cánh,. Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, tình phụ cơm trời áo cha. (Ngôn chí 8.7).
câu 鈎
◎ Ss đối ứng kaw (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 188].
dt. lưỡi móc mồi nhử cá. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.3).
đgt. bắt cá bằng cần câu. (Ngôn chí 19.1)‖ Chim kêu cá lội yên đòi phận, câu quạnh cày nhàn dưỡng mỗ thân. (Mạn thuật 29.4) ‖ (Mạn thuật 33.6)‖ (Thuật hứng 54.6)‖ (Tự thán 101.5)‖ (Tự thuật 121.6). Nguyễn Trãi trong bài Đề từ trọng phủ canh ẩn đường có câu: “ta vốn là người cày nhàn câu quạnh” (本是耕閑釣寂人). Hiệp Bùi Cung đời Tống cũng có câu: “Cày nhàn câu quạnh dấu ngàn năm.” (耕閑釣寂千年迹).
dt. móc hình bán nguyệt khuyết. (Ngôn chí 14.4)‖ Ai ai đều đã bằng câu hết, nước chẳng còn có Sử Ngư. (Mạn thuật 36.7)‖ (Bảo kính 159.4, 162.1).
câu thúc 抅束
đgt. câu 抅: gò. thúc 束: bó. Trói buộc, mất tự do. Ở thế làm chi câu thúc nữa, nhi tôn đã có phúc nhi tôn. (Tự thán 111.7).
cây 核 / 𣘃
◎ Đối ứng kəl¹ (Mường), kəʌi² (Rục), [VĐ Nghiệu 2011: 60], kɤl, kɤn (25 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 189]. Huệ Thiên cho rằng nguyên từ là 根 (荄) hoán dụ từ gốc cây (2006: 377). Tồn nghi. Tạm vẫn coi là từ gốc Nam Á.
dt. thực vật có thân rễ lá. (Ngôn chí 5.3, 11.4, 11.5, 14.3, 21.5, 22.6)‖ (Mạn thuật 25.1, 26.4, 28.6)‖ Chim đến cây cao chim nghĩ đỗ, quạt hay thu lạnh quạt sơ thâu. (Trần tình 40.5)‖ (Thuật hứng 54.1, 67.7)‖ (Tự thán 79.2, 88.4)‖ (Bảo kính 131.7, 136.1, 137.1, 165.6, 176.4)‖ (Mai 214.3)‖ (Lão mai 215.1)‖ (Tùng 218.1)‖ (Thiên tuế thụ 235.1)‖ (Miêu 251.4).
dt. loại từ dùng để trỏ những vật có thân hình trụ. Án sách cây đèn hai bạn cũ, song mai hiên trúc một lòng thanh. (Ngôn chí 7.5).
dt. (bóng) tổ tiên. Có tông có tộc mựa sơ thay, vạn diệp thiên chi bởi một cây. (Bảo kính 145.2, 151.1)‖ Ngỏ cửa Nho chờ khách đến, trồng cây đức để con ăn. (Mạn thuật 27.6).
cõi 𡎝
◎ âm THV, AHV: giới.
dt. <từ cổ> không gian rất rộng lớn thuộc tự nhiên. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.2)
dt. không gian sinh sống. (Thuật hứng 54.4), cõi tục dịch chữ tục giới‖ (Tự thán 110.6), cõi trần dịch chữ trần giới. Cũng như cõi đời dịch chữ thế giới. Trái với cõi tiên dịch chữ tiên giới, cõi trên dịch chữ thượng giới, cõi âm dịch chữ âm giới.
cúc 菊
◎ Ss đối ứng kuk³ (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. hoa quân tử, biểu tượng cho ẩn sĩ. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.6, 17.5, 22.4)‖ Cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.6)‖ (Thuật hứng 48.2)‖ Bạc cúc. (Thuật hứng 49.8, 50.2, 52.5, 60.5)‖ (Tự thán 71.3, 75.3, 83.4)‖ (Tự thuật 115.3)‖ (Bảo kính 129.4, 157.6, 164.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.4).
căn 間
◎ Nôm: 閒 AHV: gian. Đọc theo âm THV. Ss âm HTC: kăn (Karlgren), kean (Vương Lực).
dt. khoảng cách giữa hai hàng cột cái chịu lực trong một ngôi nhà, sau chuyển thành loại từ trỏ các kiến trúc nhỏ. Góc thành nam, lều một căn, no nước uống, thiếu cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.1, 1.8)‖ (Ngôn chí 15.6)‖ (Mạn thuật 27.4)‖ (Tự thán 102.1, 105.2, 110.4)‖ (Tức sự 124.3, 123.1)‖ (Bảo kính 157.8).
cương nhu 剛柔
AHV: cang nhu.
tt. cứng rắn và mềm mại, trỏ hai cách cư xử. Hỉ nộ cương nhu tuy đã có, nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây. (Mạn thuật 25.5)‖ (Bảo kính 142.8, 152.2).
cười cười 唭唭
đgt. cười nhưng có hàm ý bên trong. Sự thế đã hay thì vậy, có ai cốc được mỗ cười cười. (Tự thán 104.8).
cấm 禁
đgt. không cho làm gì. Đi nào kẻ cấm buồng the kín, ăn đợi ai làm bàn soạn đầy. (Miêu 251.5).
cấu 構
đgt. <từ cổ> tạo nên. Đất dư dưỡng được khóm hoàng tinh, cấu phương lành để dưỡng mình. (Hoàng tinh 234.2). non cương cấu lạ, đất dải gây thiêng. (thận trai - quan phu tử: 3b). Ngao cực gây thiêng, hồ tinh cấu rạng (Nguyễn Bá Lân - Trương Lưu ).
cậy 忌
đgt. nhờ. Lại mừng nguyên khí vừa thịnh, còn cậy vì hay một chữ “đinh”. (Ngôn chí 7.8)‖ Cậy trời còn có bây nhiêu nữa. (Trần tình 38.7).
đgt. dựa. Đạo ta cậy bởi chân non khoẻ, lòng thế tin chi mặt nước bằng. (Mạn thuật 23.3)
đgt. ỷ thế (để chèn ép người khác). (Trần tình 44.1, 44.7)‖ (Tự thán 91.2)‖ Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận, hồng nhan kia chớ cậy mình thay. (Mạt lị hoa 242.4).
đgt. được nhờ. (Tự thán 92.5)‖ Phiêu bạc cùng nhau còn được cậy, mựa nghe sàm nịnh có lòng tây. (Bảo kính 145.7) .
cố gia 故家
dt. <từ cổ> quê cũ. Phong sương đã bén biên thi khách, tang tử còn thương tích cố gia. (Quy Côn Sơn 189.6).
cốt nhục 骨肉
dt. xương thịt, trỏ mối quan hệ huyết thống. Văn Vương thế tử ghi: “Tình thân cốt nhục chớ có đoạn tuyệt.” (骨肉之親無絕也). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).
cội rễ 檜𣑶
dt. gốc và rễ. Cội rễ bền dời chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3).
cụm 㯲 / 𦽔
Phb. khóm.
dt. <từ cổ> bụi, tập hợp các tán lá [NH Vĩ 2010: 654-656], “cụm: chòm cây” [Paulus của 1895: 203]. Từ thế kỷ XVII trở về trước phân biệt với khóm (lượng từ trỏ ruộng đất), nhưng hoà nhập với khóm từ cuối thế kỷ XIX về sau: “khóm n. khúm, một chòm nhỏ” [Paulus của 1895: 203]. Cụm hoa. (Ngôn chí 18.6)‖ Cụm trúc. (Tức sự 126.1)‖ Cụm hoàng tinh. (Hoàng tinh 234.1).
dt. <từ cổ> chòm, tập hợp các cả thể trong không gian rộng. “cụm rừng: chòm rừng” [Paulus của 1895: 203]. “bình thường có thể giải thích cụm là một nhóm nhỏ các mái là lúp xúp ở cuối làng. Nhưng không hẳn đã ấn định được như vậy. Có thể là các đụn rơm rạ, các đống củi, các bụi cây xum xúp, thậm chí có thể các cụm rạ trên mảnh ruộng cuối làng” [NH Vĩ 2010: 655]. Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi, hàu chất so le cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.6)
đgt. <từ cổ> trồng cây thành cụm, mọc thành cụm. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.5). “về đối thơ, cụm hoàn toàn có thể đối được với quang ở câu sau khi hai thực từ này đều chỉ trạng thái cảnh vật… cụm chồi cành là trạng thái sinh trưởng của cây, cũng như quang mấu ấu là trạng thái hiện thực của ao. Đôi phát ngôn trên được dựng theo kết cấu đề - thuyết. Nhưng đằng sau nó là có bàn tay của thi sĩ ẩn cư. Chăm cây để dọn tổ cho chim về, làm cỏ ao để cho cá lội. Đó là cảnh giới cao nhất của đời sống ẩn sĩ. Đời sống vật chất và tinh thần đã nhất thể hoá làm một” [NH Vĩ 2010: 657]. Phiên khác: cớm (TVG, MQL, NQH, NTN, VVH). Rậm (BVN 1991), rợp (ĐDA).
của chăng phải đạo 𧵑拯沛道
đc. của cải chiếm được nhưng không đúng theo đạo. Của chăng phải đạo, làm chi nữa, muôn kiếp nào hề luỵ đến thân. (Bảo kính 184.8). Luận Ngữ thiên Lí nhân có câu: “phú và quý là cái mà ai chẳng muốn, nhưng chiếm được một cách phi đạo thì ta chẳng làm” (富與貴是人之所欲也,不以其道得之,不處也 phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã).
củi 檜
◎ Ss đối ứng: kuy4, (Mường khoi), kuy45 (Mường khên), kuỷ (Thà Vựng, Maleng), kurh (Rục), ku:c31 (tum) [Diffloth 1992: 127], kuh (Arem) [Ferlus 1991], kuj⁴ (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. cành khô dùng để làm chất đốt. (Trần tình 41.3)‖ (Tự thán 95.3)‖ Cành khô gấp bấy nay nên củi, hột chín phơi chừ rắp để bình. (Bảo kính 151.3, 151.6).
cửa song 𬮌牕
dt. cửa sổ. Cửa song dãi, xâm hơi nắng, tiếng vượn kêu, vang cách non. (Ngôn chí 21.3). song: từ gốc Hán, sổ :từ gốc Việt.
cửu cao 九臯
dt. chín cái đầm. Bài Hạc Minh phần Tiểu nhã trong Kinh Thi có câu: “Chim hạc kêu ở ngoài xa nơi chín đầm, mà tiếng còn nghe được trên cánh đồng.” (鶴鳴于九臯,聲聞于野 Hạc Minh vu cửu cao, thanh văn vu dã). Chu Hy chua rằng: “Tiếng hạc kêu cao chót vót mà trong trẻo, tiếng vang xa đến tám chín dặm.” Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch, kề nước cầm đưa tiếng cửu cao. (Mạn thuật 35.4). Đây tả tiếng đàn trong trẻo, tao nhã như tiếng hạc. Truyện Kiều có câu: trong như tiếng hạc bay qua. Nguyễn Trãi trong Đề Bá Nha cổ cầm đồ có câu: “Một tiếng hạc kêu nơi chín chằm lạnh.” (一聲鶴唳九皋寒 nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn).
doanh hư 盈虛
tt. <Đạo> đầy vơi, được mất, thịnh suy, thành bại, trỏ hai mặt đối lập trong cuộc sống, đó là lẽ thường hằng của đại đạo (tự nhiên). Sách Trang Tử thiên Thu thuỷ ghi: “Xét rõ việc doanh hư rồi, thì có được cũng chẳng vui, có mất cũng chăng buồn” (察乎盈虚,故得而不喜,失而不憂). Lưu Thiệu đời Tam Quốc trong nhân vật chí viết: “cũng như đất trời khí hoá, được mất đầy vơi, ấy là cái quy luật của đạo vậy” (若夫天地氣化,盈虚損益,道之理也). Cát Hồng đời Tấn trong Bão Phác Tử ghi: “Hoạ phúc đan cài trong miền hư thực; hưng phế triền miên giữa khoảng đầy vơi.” (禍福交錯乎倚伏之間,興亡纏綿乎盈虚之會). Mới biết doanh hư đà có số, ai từng cải được lòng trời. (Tự thán 85.7, 104.2). x. tiêu trưởng.
dài 𨱽 / 曵
◎ Ss đối ứng zaj (25 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 204].
tt. trái với ngắn. Dài hàm nhọn mũi cứng lông. (Trư 252.1). x. dài hàm.
tt. lâu (thời gian), lưu tích còn trong từ Dài lâu. (Tự thán 84.4, 91.6, 92.8)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1).
tt. trong vắn dài, trỏ sự khó lường. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6).
dùi 唯
◎ Phiên khác: dai (TVG, ĐDA, VVK), day (BVN), duôi: nới lỏng (Schneider, PL). Nay theo nhóm NT Nhí.
đgt. <từ cổ> “làm chùn cái dây đang căng. dây dùi” [Rhodes 1651 tb1994: 78],“dùi: dùn lại, không thẳng thớm. dây dùi: dây dùn, dây không săn, không thẳng. dây dùi khó dứt: ở cho mền mỏng, biết ý chìu lòn thì khó bỏ khó dứt.” [Paulus của 1895: 248]. Kia thẳng nọ dùi nào có đứt, người hơn ta thiệt, mới hầu cam. (Bảo kính 174.7, 176.3). mình dùi ta thẳng mình ơi, ta dùi mình thẳng suốt đời bên nhau. cd [NTN 2008: 221].
dắng dỏi 𠱆唯
tt. <từ cổ> (âm thanh) vang lừng, réo rắt. “tiếng nối lấy nhau” [Paulus của 1895: 222]. Lầu hồng có khách cầm xuân ở, cầm ngọc tay ai dắng dỏi thêm. (Tích cảnh thi 200.4, 201.1).
dụng 用
đgt. dùng. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.2)
dụt 突
tt. <từ cổ> ngại, e, lưu tích còn trong dụt dè, dút dát. Dụt xông biếng tới áng can qua, địch lều ta dưỡng tính ta (Ngôn chí 18.1). nhụt, đụt.
eo 腰
AHV: yêu. dt. eo thắt lưng dưới mạng sườn, sau trỏ những chỗ thắt lại của một số vật, như hải yêu 海腰 (eo biển), sơn yêu 山腰 (eo núi).
dt. <từ cổ> chỗ uốn cong. “Chỗ quanh co uốn khúc; chỗ sủng vào; hiểm nghèo; khúc đường chẹt mà quanh.” [Paulus của 1895: 339], nghĩa bóng trỏ khi khó khăn, như “eo nghèo: chật hẹp, nghèo nàn; eo hẹp: chật hẹp, khốn khó” [Paulus của 1895: 340]. Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.8). Ss sông có khúc người có lúc, thì khúc chính là đoạn hẹp lại eo lại của dòng sông. Câu này ý nói “bắt nạt, bắt bí đối thủ, đòi hỏi khi người ta ngã quỵ, bắt buộc khi người ta eo hẹp, khó khăn” [BVN 1994: 53].
giang hồ 江湖
dt. sông hồ. Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7).
giang san 江山
dt. núi sông. (Ngôn chí 19.5)‖ Tham nhàn lánh đến giang san, ngày vắng xem chơi sách một an. (Ngôn chí 17.1)‖ (Thuật hứng 63.6)‖ (Tự thán 72.8, 77.5, 94.5, 95.1)‖ (Trần tình 41.5).
già 𫅷
◎ {trà 茶+ lão 老}. Chữ Nôm luôn dùng 茶 để ghi âm. Ss đối ứng jà, già [Rhodes 1651 tb1994], “lão nhân: người trà”, (老人酢委) [Hoa Di Dịch Ngữ thế kỷ XVI: c. 414], ksà (tiếng Mường: la gián, Vân Mộng), sã, tsã (thu pháp), sa (nguồn), cha (Mon), chăs (Khmer) [Gaston 1967: 141], kʼa (20 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 222]. Kiểu tái lập: *kca². Xét, “già” (với *kc-) chuẩn đối với “trẻ” (*tl-), “gặp” (*?g-), “cũ” (*kl-), “vụng” (*tb-), “dấu” (*kd-).
tt. trái với trẻ. Quân tử hãy lăm bền chí cũ, chẳng âu ngặt chẳng âu già. (Ngôn chí 18.8)‖ (Thuật hứng 53.6, 54.6, 61.1)‖ (Tự thán 78.6, 80.2, 86.2, 94.4, 98.6, 104.5, 110.7)‖ (Tự thuật 114.1, 115.2)‖ (Bảo kính 163.4, 180.1, 182.5, 182.8, 185.5)‖ (Giới sắc 190.1)‖ (Mai 214.5).
tt. <từ cổ> lâu, thường đứng trước động từ làm trạng ngữ. Già chơi dầu có của no dùng, chén rượu câu thơ ấy hứng nồng. (Thuật hứng 61.1)‖ Lâm tuyền ai rặng già làm khách, tài đống lương cao ắt cả dùng. (Tùng 218.3).
tt. lâu, kỹ. Già trui thép cho nên mẻ, bể nồi hương bởi ngã bàn. (Bảo kính 185.5). Nay chuyển sang làm tính từ trong cụm thép già >< thép non.
giận 陣
đgt. sân giận. x. chận.
gày 𤷍
◎ Kiểu tái lập: *?gaj² (*a- gày). ở vị trí 1.4, ngữ tố này chuẩn đối với “trốn”, cả hai có thể đều được song tiết hoá thành “*a- gày” và “*tơ- rốn”. ở vị trí 15.2 thì câu thơ đã đủ bảy chữ. Chứng tỏ giai đoạn thế kỷ XV, đã có song thức ngữ âm. Thế kỷ XII, ngữ tố này được ghi bằng chữ Nôm e1 阿計 [Phật Thuyết: 21a9; xem HT Ngọ 1999: 58, 61, 111, 114, 115; Shimizu Masaaki 2002: 768].
tt. trái với béo. (Thủ vĩ ngâm 1.4)‖ Bề sáu mươi dư tám chín thu, lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.2).
gác vân 閣蕓
dt. dịch chữ vân các 蕓閣, đồng nghĩa với vân đài 蕓臺, vân thự 蕓署. Trỏ nơi chứa sách. Xưa hay dùng cỏ vân 蕓, một loại cỏ thơm để trừ mối mọt. Sau trỏ chung thư phòng. Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.3, 157.4).
gạch 甓
◎ 󰍮, tục tự của bích 甓 (gạch), là chữ Nôm đọc nghĩa, chữ này đồng nguyên với bích 壁 (vách: cái xây bằng gạch). Kiểu tái lập: ?gak⁶ (a- gạch). Về ?g- [xem HT Ngọ 1999: 58, 61, 111, 114, 115]. Shimizu Masaaki cho rằng các ví dụ gày, gõ thuộc cấu trúc song âm tiết [2002: 768]. “gạch” (với *?g-) chuẩn đối với “sừng” (với *kr-) và đều được song tiết hoá.
dt. viên đất nung dùng để xây nhà. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3). Các bản khác đều phiên “gạch quẳng”, cho là điển “phao chuyên dẫn ngọc 拋磚引玉 (ném gạch ra để dẫn dụ ngọc đến) để nói về chuyện làm thơ [cụ thể xem TT Dương 2013c]. ở đây phiên “gạch khoảng nào bày với ngọc” dẫn điển 瓦玉集糅 (ngoã ngọc tập nhu) tương đương với thành ngữ “vàng thau lẫn lộn” trong tiếng Việt. Vương Sung đời Hán trong sách Luận Hành viết: “Hư vọng lại mạnh hơn chân thực, quả là loạn trong đời loạn, người chẳng biết đâu phải đâu trái, chẳng phân biệt màu đỏ màu tía, chung chạ bừa bãi, gạch ngói chất bừa, ta lấy tâm ta mà nói về những chuyện đó, há lòng ta có thể chịu được chăng?’” (虛妄顯於真實誠亂於偽世人不悟是非不定紫朱雜厠瓦玉集糅以情言之豈吾心所能忍哉). Nguyễn Trãi đã dùng thành ngữ này để đối với một thành ngữ khác ở câu dưới là “sừng mọc quá tai”, thành ngữ sau là một thành ngữ thuần Việt, gần nghĩa như câu hậu sinh khả úy. x. khoảng.
gặp 及
◎ Nôm: 趿 AHV: cập âm HTC: g(r)jip [Baxter 1992: 558]. Còn có âm đồng nguyên nữa là kịp. Xét, trong số 7 lần xuất hiện, “gặp” 5 lần ở câu sáu chữ, 2 lần ở câu đủ bảy chữ. Như vậy, thế kỷ XV có song thức ngữ âm. Kiểu tái lập: *?gap⁶ (*a- gặp). x. gầy, x. gánh. Ss đối ứng kăp, kʼăp, ɤăp (23 thổ ngữ Mường), tol, dol, don (5 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 221]. Như vậy, “gặp” gốc Hán, “tới” gốc Việt-Mường. .x tới.
đgt. <từ cổ> tìm thấy. Thiên Thai hái thuốc duyên gặp, Vị Thuỷ gieo câu tuổi già. (Thuật hứng 54.5).
đgt. vào lúc mà có được, vào dịp mà thấy được, đến khi, đến lúc, dịch chữ cập kỳ 及期. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.1)‖ (Tự thán 99.1)‖ (Bảo kính 135.7)‖ Gặp tiết lương thần. (Vãn xuân 195.1)‖ Gặp xuân. (Đào hoa thi 230.4).
hiền nhân 賢人
dt. <Nho> người hiền. Quân tử nước giao, âu những lạt, hiền nhân rượu thết, lọ là nồng! (Bảo kính 178.6), đc. Sở Nguyên Vương kính trọng mục sinh là hiền sĩ nước sở, vì mục sinh không thích uống rượu, vua sở chế riêng một thứ ngọt để thết mục sinh [theo Trần Văn Giáp].
huống lại 况吏
lt. <từ cổ> thêm nữa lại có. Huống lại vườn còn hoa trúc cũ, dồi thức tốt lạ mười phân. (Tích cảnh thi 211.3)‖ (Trúc thi 222.3)‖ (Mai thi 226.3).
Hán tướng 漢將
dt. trỏ Hàn Tín 韓信 (?- 196 tcn) là nhà quân sự đời Tây Hán, người đất Hoài Âm, thủa nhỏ gia đình nghèo khổ, thường phải làm thuê kiếm ăn, từng phải chịu nhục bò qua háng người khác. Cuối đời Tần, ông tham gia quân đội của hạng vũ song không được trọng dụng, liền đi theo Lưu Bang được Lưu Bang phong làm đại tướng quân. Trong cuộc chiến tranh giữa hán và sở, Lưu Bang dùng mưu của ông, công phá chiếm đóng quan trung. Lưu Bang, hạng vũ khi đang cầm cự nhau ở huỳnh dương, Hàn Tín đã lãnh đạo quân tập kích đánh vào mạn sườn quân hạng vũ, chiếm cứ khu vực hạ du của Hoàng Hà. Sau này ông được Lưu Bang phong làm tề vương. Năm 202 tcn, ông dẫn quân đánh bại hạng vũ ở đất cai hạ. Sau khi chiến tranh Hán Sở kết thúc, ông bị giải trừ quyền bính và sau này bị lã hậu dùng kế giết chết. Nọ kẻ tranh hùng nên hán tướng, kìa ai từ tước ẩn Thương San. (Bảo kính 185.3).
héo 孝
◎ Ss đối ứng: héo (Tày) [HTA 2003: 206].
tt. trong khô héo. Phượng những tiếc cao diều hãy liệng, hoa thì hay héo cỏ thường tươi (Tự thuật 120.6).
hận 恨
◎ Sách Thuyết Văn ghi: hận: oán cực độ” (一曰怨之極也). Còn có nghĩa nữa là “hối hận.
tt. hờn. Chớ đua huyết khí nên hận, làm trật lòng người những lo. (Bảo kính 176.5).
hồng quân 洪鈞
◎ Nguyên bản 洪, chữ kỵ huý vua Tự Đức (Hồng Nhậm) thời Nguyễn từ tháng 11 năm 1847 [NĐ Thọ 1997: 151].
dt. trời. Trương Hoa trong bài Đáp Hà Thiệu có câu: “trời huân đào muôn loài, đất bẩm dục vạn vật” (洪鈞陶萬類,大块禀羣生 Hồng quân đào vạn loại, đại khối bẩm quần sinh). Dỉ sứ chim xanh đừng chốc lối, bù trì đã có khí hồng quân. (Đào hoa thi 228.4, 229.1).
khai sáng 開創
đgt. sáng lập, khai dựng, mở ra triều đại mới. Khong khảy thái bình đời thịnh trị, nghiệp khai sáng tựa nghiệp trung hưng. (Bảo kính 188.7).
khinh bạc 輕薄
◎ Nôm: 輕泊
tt. <từ cổ> bạc bẽo, phóng đãng. Cành có tinh thần, ong chửa thấy, tính quen khinh bạc, điệp chăng thìn. (Tảo xuân 193.6)‖ (Bảo kính 178.4).
khách ăn thông 客咹椿
dt. <Đạo>. Dịch chữ khất tùng khách 吃松客. Lầu nguyệt đã quen tiên thổi địch, non xuân từng bạn khách ăn thông. (Lão hạc 248.4). Sách Liệt Tiên Truyện có ghi chuyện về ẩn sĩ Xích Tu Tử 赤須子 người đời Tần mục công, thích ăn quả thông, thiên môn đông, thạch chỉ; răng rụng lại mọc, tóc rụng lại lên, uống ráng chiều, không ăn ngũ cốc. Nên có thơ rằng: “xích tu bỏ đất phong, thích ở núi ngô thôi. Các thuốc đều đã uống, dáng già mà lại tươi.” (赤須去豐,愛憩吴山。 三藥并御,朽貌再鮮 xích tu khứ phong, ái khế ngô san. Tam dược tịnh ngự, hủ mạo tái tiên). Truyện này cũng chép một vị ẩn sĩ khác là ốc thuyên, làm nghề hái thuốc, thích ăn quả thông, đầy mình mọc lông vũ, hai mắt lanh lợi, có thể bay đuổi theo ngựa. Nên có thơ rằng: “Ốc Thuyên ăn tùng, mình nhẹ mắt trong, nhón chân loan phượng, chạy vượt ngựa giong.” (偓佺餌松,体逸眸方。足躡鸞鳳,走超騰驤 ốc thuyên nhĩ tùng, thể dật mâu phương. Túc niếp loan phượng, tẩu siêu đằng nhương).
khê 溪
tt. (cơm) bị quá lửa, nên cháy sém hay hoá than, có mùi khét. “cơm khê. id” [Taberd 1838: 226]. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.4). Cơm sôi cả lửa thì khê. (ca dao 36).
khí huyết 氣血
dt. khí vận và máu huyết theo quan niệm của y học phương đông, dịch chữ huyết khí 血氣. Nẻo đua khí huyết, quên nhân nghĩa, hoà thất nhân tâm, nát cửa nhà. (Giới nộ 191.3).
khó bền 庫卞
tt. <Nho> dịch chữ cố cùng 固窮 (cùng: khó; cố: bền). Luận Ngữ thiên Vệ linh công có đoạn: “khi Khổng Tử ở nước trần thì bị hết lương thực, các đệ tử đi theo sinh bệnh, không dậy được. Tử Lộ lo lắng hỏi: ‘quân tử mà cũng có lúc khốn cùng thế này sao?’ Khổng Tử trả lời: ‘quân tử lúc khốn cùng vẫn bền chí giữ tiết, tiểu nhân khốn cùng thì làm bậy’” (在陳絕糧,從者病,莫能興。子路慍見曰:“君子亦有窮乎?”子曰:“君子固窮,小人窮斯濫矣). Khó bền, mới phải người quân tử, mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
khó ngặt 庫兀
tt. <từ cổ> khó = ngặt = nghèo. Khó ngặt qua ngày xin sống, xin làm đời trị mỗ thái bình. (Tự thán 98.7, 72.7)‖ (Bảo kính 140.5)‖. x. ngặt, x. nghèo.
khói 灰
◎ Nôm: 𤌋 {火 hoả + 塊 khối}. Chữ 灰 có AHVhôi, khôi với nghĩa “lửa lụi gọi là khôi” (火之滅者為灰) [Lễ Ký- nguyệt lệnh]. Ss đối ứng kʼɔj (30 thổ ngữ Mường), buɲ (14), βuɲ (7) [NV Tài 2005: 231].
dt. <từ cổ> tro, xét “tro” còn có các đồng nguyên tự là “lọ” và “nhọ” với nghĩa màu tro than. Như vậy, “khói” gốc Hán, “tro” gốc Việt, “mun” gốc Nam Á. Tuy nhiên, “tro” vẫn luôn được dùng phổ biến, nên chuyển nghĩa thành “khí màu xám đục bốc lên từ tàn lửa tro bụi”. Mặt khác, “khói” cũng có đối ứng kʰɔj3 (Mường), kăhɔi3 (Rục), kahɔɔy (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 61], chứng tỏ gia nhập rất sớm. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4).
dt. hơi bốc lên từ mặt nước, hoặc khí mù. Khói trầm thuỷ quốc quyên phẳng, nhạn triện hư không gió thâu. (Ngôn chí 14.5, 19.4).
khô khao 枯槁
AHV: khô cảo.
tt. <từ cổ> khô. Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh, chử khuở khô khao có khuở dào. (Thuật hứng 66.6). x. khao, x. khô.
khảy 快
◎ (khoái). Kh- khu iv tương ứng với g- bắc bộ ngày nay: khải (gãi), khỏ (gõ), khảy (gảy) [NT Cẩn 1997: 89]. Khảo dị: bản B ghi 掛 (quải). Phiên khác: quẩy, quảy: vác trên vai (TVG, ĐDA, PL), khoái: nước cờ hay (BVN). gảy, gẩy.
đgt. <từ cổ> gảy, “khảy: lấy móng tay, đầu ngón tay mà đánh nhẹ nhẹ” [Paulus của 1895: 478], trỏ việc đánh cờ., khác với nay chủ yếu dùng việc chơi các nhạc cụ bộ dây. Con cờ khảy, rượu đầy bầu, đòi nước non chơi quản dầu. (Trần tình 41.1).
khấp khểnh 泣輕
tt. đồng nguyên tự với gập ghềnh. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.2).
kinh thành 京城
dt. thành trì và cung điện ở chốn kinh kỳ, trỏ kinh đô. Của nhiều, sơn dã đam nhau đến, khó ở, kinh thành thiếu kẻ han. (Bảo kính 133.6).
kiếp 刼
刼 = 劫, dt. <Phật> một đời người. Nước mấy trăm thu còn vậy, nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay. (Mạn thuật 26.6)‖ (Thuật hứng 55.3)‖ (Tự thán 87.2)‖ (Tự thuật 112.3)‖ (Bảo kính 182.1, 184.8, 188.2).
kịp 及
AHV: cập
đgt. <từ cổ> gặp lúc, gặp khi, gặp phen, đến khi. Trùng dương mấy phút khách thiên nha, kịp phen này được đỗ nhà. (Quy Côn Sơn 189.2)‖ x. gặp
tt. tới, bằng, trong phen kịp (sánh bằng). Giàu chẳng kịp, khó còn bằng, danh lợi lòng đà ắt dưng dưng. (Tự thán 77.1)‖ Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp, xưa nay cũng một sử xanh truyền. (Bảo kính 183.7).. x. phen kịp (Bảo kính 180.7)‖ (Cúc 217.5)
luỹ 壘
dt. bờ tường, bờ thành. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). Đây trỏ việc ong xây tổ. Vì đang nói đến “trận” của loài bướm nên dùng chữ “luỹ” để hô ứng, đây là thủ pháp chơi chữ hay thấy của Nguyễn Trãi.
làm lành 爫冷 / 𬈋冷
đgt. <Nho> dịch chữ vi thiện 為善 (hành thiện, làm việc thiện). Sách Mạnh Tử thiên Công tôn sửu thượng có đoạn: “Mạnh Tử nói: Tử Lộ kia, người ta đem chuyện lỗi lầm nói với nó thì nó lại vui. Trong khi, vua vũ nghe điều thiện thì vái lạy. Vua Thuấn cao hơn cả, cùng người làm việc thiện. Bỏ ý của riêng mình mà thuận theo ý của dân, dân vui thì cho đó là làm điều thiện.tự cày, tự gieo hạt, tự đào giếng, tự câu cá cho đến làm vua, không có việc nào là không theo dân. Theo dân là làm điều thiện, ấy là cùng dân làm điều thiện vậy. Cho nên, quân tử không có việc gì quan trọng bằng việc làm điều thiện cùng với dân.” (孟子曰:“子路,人告之以有過則喜。禹聞善言則拜。大舜有大焉,善與人同。舍己從人,樂取於人以為善。自耕、稼、陶、漁以至為帝,無非取於人者。取諸人以為善,是與人為善者也。故君子莫大乎與人為善). hậu Hán Thư phần Liệt truyện ghi: “Có hôm hỏi Đông Bình Vương rằng ở nhà thì việc gì là vui nhất. Vương trả lời rằng làm thiện là vui nhất, lời ấy thực cao rộng, thực đáng là lời nằm lòng.” (日者問東平王處家何等最樂,王言為善最樂,其言甚大,副是要腹矣). Nguyễn Trãi từng viết: “sửa mình mới biết thiện là vui” (修己但知善為樂 tu kỷ đãn tri thiện vi lạc). Làm lành mới cậy chớ làm dữ, có đức thì hơn nữa có tài. (Tự thán 92.5, 99.8)‖ (Bảo kính 147.5).
Lão Bô 老逋
dt. x. Lâm Bô, x. Tiên Bô. Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch, đêm vắng tìm mai bạn Lão Bô. (Ngôn chí 20.4).
lòng người 𢚸𠊚
dt. HVVT nhân tâm. (Tự thán 85.1)‖ (Tự thuật 120.3)‖ Chớ đua huyết khí nên hận, làm trật lòng người những lo. (Bảo kính 176.6, 136.4, 161.2).
lông 󱲧 / 𬖅
◎ Ss đối ứng loŋ (29 thổ ngữ Mường), suk (1 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 235]. “lông” là từ gốc Việt-Mường, “tóc” là từ gốc Nam Á. x. tóc.
dt. sợi mọc ngoài da động vật. Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông, ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.1)‖ (Trư 252.1).
lăm 林
đgt. định, toan, lưu tích còn trong chữ lăm le, lăm lăm, nhăm nhăm. Quân tử hãy lăm bền chí cũ, chẳng âu ngặt chẳng âu già (Ngôn chí 18.7).
lương đống 梁棟
dt. rường cột, ví với những người tài gánh vác trách nhiệm lớn trong triều đình. Người cười rằng kém tài lương đống, thửa việc điều canh bội mấy phần. (Mai 214.7)‖ (Lão dung 239.3).
lạ lùng 邏𨓡
tt. rất khác, rất lạ. Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, một mình lạt khuở ba đông. (Tùng 218.1).
lạng 两
dt. đơn vị tiêu chuẩn trong đo lường trọng lượng, giá trị tiền bạc xưa. “Lạng là một lạng mười tiền.” [Phạm Đình Hổ 1827: 40b]. Thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng. (Thuật hứng 55.8). lượng.
lạnh lạnh 冷冷
AHV: lãnh lãnh
tt. <từ cổ> âm cổ của lành lạnh. Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.3).
lặn 吝
đgt. (mặt trời, mặt trăng,…) hạ xuống đường chân trời. Ngòi khuở triều cường chờ nguyệt mọc, cây khi ác lặn rước chim về. (Tự thán 88.4).
lọ chi 路之
đgt. <từ cổ> cần chi. Ẩn cả lọ chi thành thị nữa, nào đâu là chẳng đất nhà quan. (Ngôn chí 17.7)‖ (Bảo kính 163.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.2).
lỗ tai 鲁𦖻
dt. bộ phận thu âm của tai, trỏ tai nói chung. Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khua na đắng lỗ tai. (Trừ tịch 194.6). x. tai.
mong 望
◎ Nôm: 蒙 AHV: vọng.
đgt. hy vọng, muốn, hòng. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.8)‖ (Bảo kính 144.3, 154.7).
muối 莓
◎ Ss đối ứng: voj3 (muốt), ɓoəj3 (nà bái), vwaj3 (chỏi), bɔj3 (khẻn) PJ Duong 2012: 9].
dt. chất vị mặn. Muối miễn dưa dầu đủ bữa, thao cùng gấm mặc chưng đời. (Tự thán 104.3).
muống 𡗐
◎ Kiểu tái lập: *kmuống. *kmuống > rụng [k-] > muống. [TT Dương 2012a].
dt. một loại rau ăn. Ao quan thả gưởi hai bè muống, đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.5)‖ (Thuật hứng 69.3).
mày 眉
AHV: nễ.
đt. trỏ ngôi thứ hai trỏ người và sự vật (trung tính, không có ý coi thường như ngày nay). (Tùng 219.1)‖ (Trúc thi 221.2)‖ (Mai thi 224.2, 226.4)‖ Khó miễn sang chăng nỡ phụ, nhân chưng chận chuột phải nuôi mày. (Miêu 251.8). Mày nẻo khuở còn mọn. (Phật Thuyết 38a).
mày đe 眉泥
◎ Phiên khác: mày nề. Cau mày khó chịu, trong “mặt nặng mày nề” (theo ĐDA, Schneider, MQL, VVK, TTD 2014) = “mặt nặng mày nhẹ”, Ss “mặt sưng mày sỉa”. NHV phiên “mè ne”. Nay đề xuất phiên “mày đe”.
đgt. <từ cổ> trơ lì, trơ trẽn. “mày đe: mày dày, không biết mắc cỡ” [Paulus của 1895: 623] “mặt đe: lì lợm, mặt chai mày đá, không biết xấu hổ” [Paulus của 1895: 284]. Đe nghĩa là cái đe để giọi sắt trong nghề rèn, như trong đe loi, ngàm đe, hòn đe. Tng. trên đe dưới búa. Cách nói “mày đe” hay “mặt đe” là cách nói rút gọn từ kiểu ví von “mặt mày trơ lì như cái mặt đe”. Chữ “đe” trong QATT được ghi bằng chữ Nôm 泥. Mối liên hệ n-/đ- đã có tiền lệ, như nói nôm- nói đôm, nệm- đệm, nóc – đốc, nọc – độc, nác (nước) – đác, nắm – đấm, no – đủ, nút - đút. Đòi khuở khó khăn chăng xuýt uẩy, thấy nơi xao xác đã mày đe. (Tự thán 79.6). Hai câu này nói về nhân tình thế thái: khi thấy người ta khó khăn thì chẳng thèm hỏi han; khi thấy người giàu có thì mày dày dặn dạn xun xoe ra chào hỏi. x. xuýt uẩy.
má đào 𦟐桃
dt. dịch chữ đào kiểm 桃臉. Trỏ người con gái đương xuân. (Đào hoa thi 230.4)‖ Má đào phai hết bởi xuân qua, nẻo lại đâm thì liền luống hoa. (Đào hoa thi 231.1). ở đây dùng nghĩa nước đôi.
mây xanh 𩄲撑
dt. dịch chữ thanh vân 青雲, nguyên từ chữ thanh vân lộ 青雲路 (đường mây xanh), ví với con đường làm quan. biệt lý Tham quân của Trương Kiều đời Đường có câu: “Nghĩ thầm đến dặm thanh vân, dầu sao cũng đáng gửi thân kiếp này.” (静想青雲路,還應寄此身). Chân mềm ngại bước dặm mây xanh, quê cũ tìm về cảnh cũ thanh. (Bảo kính 158.1). đng đường mây.
mình 命
◎ Ss đối ứng pɔk³ meŋ¹, bɔk³ meŋ¹ (15 thổ ngữ Mường), meŋ, miɲ (7 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 241].
dt. thân. (Mạn thuật 29.2)‖ Tiêu sái tự nhiên nhẹ hết mình, nài bao ngôi cả áng công danh. (Tự thán 78.1)‖ (Tùng 218.2)‖ (Hoàng tinh 234.2).
đt. từ tự xưng. Ấy còn lãng đãng làm chi nữa, sá tiếc mình chơi áng thuỷ vân. (Mạn thuật 29.8)‖ (Tự thán 71.5, 83.6, 86.2, 89.4, 99.2)‖ (Tự thuật 113.6)‖ (Bảo kính 134.8, 143.5, 151.1, 166.8)‖ (Giới nộ 191.2)‖ (Mạt lị hoa 242.4).
môn đồ 門徒
dt. <Nho> học trò, môn sinh, đệ tử. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
mùi 味
◎ Đọc âm THV. AHV: vị.
dt. mùi vị (khứu giác). Lành người đến, dữ người dang. Yêu xạ vì nhân mùi có hương (Bảo kính 147.2, 170.4, 172.1)‖ (Cúc 216.8)‖ (Đào hoa thi 227.4).
dt. mùi vị (vị giác: đắng, ngọt, chua chát). Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5)‖ (Huấn Nam Tử 192.6)‖ (Giá 238.4).
dt. mùi vị (cảm giác). Say mùi đạo, chè ba chén, rửa lòng phiền thơ bốn câu. (Thuật hứng 58.5)‖ Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình. (Tự thán 80.4)‖ Mùi đạo. (Tự thán 87.1)‖ Mùi đạo. (Tự thuật 114.5). x. múa.
mùng 夢
dt. mồng, từ đứng trước số từ trỏ mười ngày đầu của tháng. Thế sự: người no ổi tiết bảy, nhân tình: ai ỏ cúc mùng mười. (Ngôn chí 22.4).
mơ 眉
◎ Ss đối ứng mɯ (27 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 242].
đgt. mộng, trái với tỉnh. Phồn hoa một đoạn tỉnh , mẽ chuông tàn cảnh sất sơ. (Tự thán 108.1).
mơ màng 麻恾
đgt. Như mơ mòng. Một thân lẩn quất đường khoa mục, hai chữ mơ màng việc quốc gia. (Ngôn chí 8.4).
mắt xanh 𬑉撑
dt. mắt hoa. Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc; nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh. (Tự thán 99.6).
dt. dịch chữ 青眼, ví với tuổi trẻ. Trương Hỗ đời Đường trong bài Hỉ vương tử tái thuyết cựu có câu: “Gặp nhau ngày mắt biếc, giờ than thuở tóc mây.” (相逢青眼日,相嘆白頭時 tương phùng thanh nhãn nhật, tương thán bạch đầu thì). Con mắt hoà xanh đầu dễ bạc; lưng khôn uốn lộc nên từ. (Mạn thuật 36.5).
mặc 默
đgt. <từ cổ> lấy, dùng, lấy mà dùng, dịch chữ 以. Một an, một sách, một con lều, song viết bao nhiêu mặc bấy nhiêu. (Bảo kính 164.2).
p. <từ cổ> để, để cho; dịch chữ 以. Củi hái, mây dầu trúc múa, cầm đưa, gió mặc thông đàn. (Tự thán 95.4, 101.4).
p. <từ cổ> và, dịch chữ 以. Yên phận cũ chăng bằng phận khác, cả lòng đi mặc nhủ lòng về. (Bảo kính 141.6).
p. đgt. <từ cổ> lấy, đem, dịch chữ 以. Chỉn sá lui mà thủ phận, lại tu thân khác, mặc “thi thư”. (Mạn thuật 34.8)‖ Ngoài cửa mừng người dầu cái vẹt, trong nhà thết khách mặc con cờ. (Tự thán 90.6).
mếch 覔
◎ Kiểu tái lập: *mlếch. *mlếch > mếch (trong chếch mếch), *mlếch > lệch, *mlếch > nhếch (nhếch mép: cười lệch một bên mép).
tt. <từ cổ> lệch, lưu tích còn trong từ chếch mếch , “thiên trọng, trọng riêng” [ĐDA]. Taberd, Génibrel 1898 , “faveur paticulière” (biệt đãi) [Schneilder 1987]. Tiên Bô kết đã bấy thu chầy, ngẫm ngọt dường bằng mếch trọng thay. (Mai thi 225.2), mếch trọng dịch chữ thiên ái 偏愛.
mỗ 某
đt. <từ cổ> thường đứng trước danh từ, từ phiếm chỉ, nọ, nào đó, trỏ người hay sự vật nào đó chưa biết một cách rõ ràng xác định. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.3)‖ (Tự thán 95.1, 100.4)‖ (Bảo kính 167.2).
đt. <từ cổ> trỏ đối tượng đã nhắc đến, hoặc đối tượng mà ai cũng đã biết. Sách Phật Thuyết có câu: Mày tuy là đệ tử cả tao, đi tu hành tuy rằng đà lâu ngày, hay sự mỗ chưa rộng. (tr. 7), sự mỗ tức các sự việc trong đời. Ở thế những hiềm qua mỗ thế, có thân thì sá cốc chưng thân. (Mạn thuật 33.3), mỗ thế: cuộc đời này‖ (Thuật hứng 59.3)‖ (Tự thán 73.7), mỗ phận: phận của mình (tức trỏ phận của các loài phi tẩu)‖ (Tự thán 98.8)‖ (Cúc 216.8), mỗ mùi hương: mùi hương của từng loài hoa (Cúc và lan).
đt. <từ cổ> ngôi tự xưng, ta, có thể dùng làm chủ ngữ, cũng có thể làm tính từ với nghĩa “của ta”. Vương An Thạch 王安石 đời Tống trong du bảo thiền sơn ký 游褒禪山記 viết: Vương Mỗ 王某 và tự chua rằng “Vương Mỗ tức Vương An Thạch tôi. Cổ nhân xưa khi biên soạn sách vở, khi viết đến tên mình, thường chỉ viết chữ mỗ để thay thế, hoặc viết chữ mỗ sau họ của mình. Sau khi viết xong, cho chép lại sách ấy thì mới chính thức viết danh tính”. Trong sách Phật Thuyết có đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất là mỗ giáp : tôi, ta (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít). Dịch từ chữ Hán tương ứng ngã 我 trong câu Ấy vậy mỗ giáp kĩnh lễ ← 是故我皈依 Phật Thuyết, 2b1 ‖ (Ngôn chí 7.1)‖ Phú quý chẳng tham thanh tựa nước, lòng nào vạy, mỗ hây hây. (Ngôn chí 22.8)‖ (Mạn thuật 29.4, 31.4, 34.4)‖ (Tự thán 94.4, 104.8, 106.2)‖ (Tự thuật 114.1, 115.2)‖ (Bảo kính 142.6, 157.7, 180.2)‖ Quý nương đà trở lại lê viên, lui gót mỗ dời chân dặm liễu. (đinh Lưu Tú 11).
dt. <từ cổ> trỏ số lượng nhỏ, chút, mảy may. Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục có câu: chẳng mỗ phút hơi, xẩy vậy cả mưa < 不瞬間忽然大雨. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.2, 38.1)‖ (Thuật hứng 52.2).
dt. <từ cổ> một. Khi mát về chiêm bao khách êm, chốn sơn phòng chẳng có mỗ việc < 涼回客夢清,山房無個事 (TKML). Trong tiếng Hán, “cá” là lượng từ chỉ đơn vị cá thể, đứng trước nó thường là từ chỉ số lượng. Trường hợp từ số lượng là “một”, thì không nhất thiết phải dùng. Do vậy “cá sự” có thể hiểu là “nhất cá cự”, có nghĩa là “một việc”, ở đây được giải âm là “mỗ việc”, thế thì “mỗ” phải là từ chỉ số lượng [NT Nhí 1985]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8) ‖ (Mạn thuật 33.8)‖ (Bảo kính 187.2).
nghiêng 迎
đng ngả.
đgt. lệch về một phía. Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, ngày vắng xem hoa bợ cây. (Ngôn chí 11.3).
Nghiêu 堯
dt. <Nho> vua Nghiêu (2337- 2258 tcn). Theo Sử Ký phần Ngũ đế kỷ, ông có tên là phóng huân, là con trai của Đế Cốc, mẹ họ trần phong. Vì Nghiêu thuộc bộ tộc Đào Đường nên ông cũng được gọi là Đường Nghiêu. Ông được coi là mẫu hình đế vương lý tưởng trong quan niệm của nhà Nho xưa. Vua Nghiêu Thuấn dân Nghiêu Thuấn, dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền. (Tự thán 74.7, 105.8)‖ (Tự thuật 116.6). x. Đường Nghiêu, x. Thuấn Nghiêu.
nghiệp 業
dt. học nghiệp Nghiệp cũ “thi thư” hằng một chức, duyên xưa hương hoả tượng ba thân. (Ngôn chí 12.3)‖ (Bảo kính 166.1, 168.6)
dt. nghề nghiệp Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng. (Tức sự 126.7).
dt. công nghiệp, sự nghiệp to lớn. (Bảo kính 130.3, 183.7)‖ Khong khảy thái bình đời thịnh trị, nghiệp khai sáng tựa nghiệp trung hưng. (Bảo kính 188.8).
dt. <Phật> tiếng Phạn 羯磨 karma, hành động, việc làm. Hành động về thân gọi là thân nghiệp hành động về lời gọi là khẩu nghiệp hay ngữ nghiệp hành động về ý gọi là ý nghiệp Kim ngân ấy của người cùng muốn, tửu sắc là nơi nghiệp há chừa? (Bảo kính 179.4, 187.8).
nghĩa 義 / 󰒂
dt. đạo nghĩa. Hỉ nộ cương nhu tuy đã có, nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây. (Mạn thuật 25.6)‖ (Tự thán 87.6, 93.4)‖ (Bảo kính 128.4, 133.7, 142.1, 145.4, 146.5, 151.8, 164.6, 173.7, 178.1, 184.5).
Ngu Khanh 虞卿
dt. danh sĩ đời Chiến Quốc, người hàm đan, giỏi trù mưu tính kế, trước cuộc chiến ở trường bình từng chủ trương liên hiệp sở- nguỵ bức tần giảng hoà; giải vây thành hàm đan. Sau vì cứu nguỵ tướng nguỵ tề mà từ bỏ cao quan hậu lộc, rời nước triệu, rốt cuộc bị bức ở nước lương, phát phẫn mà viết ra sách Ngu Thị Chinh Truyện 虞氏征傳 và Ngu Thị Xuân Thu 虞氏春秋. Bói ở lần tìm non Tạ Phó, xin về xưa cổi ấn Ngu Khanh. (Bảo kính 169.4).
nguôi 𢢯 / 嵬
◎ Đồng nguyên tự của “nguội”. Ss đối ứng của “nguội”: ŋuəj (16 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 250].
đgt. bớt, giảm, khuây, hết. (Tự thán 88.5)‖ Nhân gian mọi sự đều nguôi hết, một sự quân thân chẳng khứng nguôi. (Tự thán 106.7).
ngày 𣈜
◎ Ss đối ứng ŋạj¹ (Mường), tʰŋay (Khmer) [VĐ Nghiệu 2011: 61].
dt. trong ngày tháng. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi (Ngôn chí 2.5, 3.4, 3.7, 4.1, 11.4, 17.2, 18.6, 20.3, 22.6)‖ (Trần tình 37.1)‖ (Thuật hứng 46.4, 50.8, 58.1, 66.7, 68.2, 70.3)‖ (Tự thán 71.1, 71.7, 75.6, 76.3, 79.7, 82.7, 94.1, 95.5, 98.7, 99.2, 105.1)‖ (Tự thuật 112.4, 118.2, 119.7)‖ (Tức sự 123.7, 125.1, 126.4)‖ (Bảo kính 133.8, 146.2, 154.5, 160.4, 170.1, 177.2, 188.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.7)‖ (Tích cảnh thi 209.1)‖ (Lão mai 215.6)‖ (Cúc 217.8)‖ (Tùng 219.4, 220.1)‖ (Trúc thi 222.1)‖ (Hoè 244.3)‖ (Trường an 246.3)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.4).
ngăn 限
◎ Nôm: 垠 AHV: hạn. Sách Thuyết Văn ghi: “Hạn là ngăn trở vậy.” (限,阻也 hạn trở dã). Tào Phi trong bài Yên ca hành có câu: “ngưu lang chức nữ nhớ nhau xa, riêng lỗi chi đâu chặn nẻo bờ?” (牵牛織女遥相望,爾獨何辜限河梁? khiên ngưu chức nữ dao tương vọng, nhĩ độc hà cô hạn hà lương). Chữ “hạn” có thanh phù là “cấn” 艮. Các thuỷ âm k- h- ng- là có mối quan hệ. Ví dụ: hàm - cằm - ngàm [xem TT Dương 2011b]. Cũng vậy, có cặp hạn - ngăn (với nghĩa: chặn), cặp hạn - ngần (với nghĩa: giới hạn).
đgt. chặn, trong ngăn trở. Vườn quạnh dầu chim kêu hót, cõi trần có trúc dừng ngăn. (Tự thán 110.6).
ngại 礙
◎ Nôm: 礙 / 碍 / 𪿒 đgt. lo, lo lắng. Sách Hoài Nam Tử có câu “vẫn đều được che chở, nên chẳng có gì trở ngại” (洞同覆載,而無所碍 đỗng đồng phú tái, nhi vô sở ngại).
đgt. tt. e, như e ngại, trong đó e gốc Việt, ngại gốc Hán. (Thủ vĩ ngâm 1.6)‖ (Mạn thuật 23.2)‖ Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, cửa quyền hiểm hóc ngại xung xăng. (Mạn thuật 27.2, 28.6)‖ (Thuật hứng 46.2, 52.6, 60.1)‖ (Tự thán 75.4)‖ (Tự thuật 113.2, 121.6)‖ (Bảo kính 140.6, 158.1, 160.1, 161.6, 168.7)‖ (Tích cảnh thi 206.2).
ngẫm ngọt 吟𠮾
đgt. <từ cổ> ngẫm nghĩ. Ngẫm ngọt sơn lâm miễn thị triều, nào đâu là chẳng đất Đường Nghiêu. (Mạn thuật 24.1)‖ Tiên Bô kết đã bấy thu chầy, ngẫm ngọt dường bằng mếch trọng thay. (Mai thi 225.2). Tuy rằng học đạo hư vô, ngẫm ngọt hỏi thiền ngọn nghẽ (Trần Nhân Tông - vịnh vân yên tự ).
ngặt 兀
tt. <từ cổ> “cùng túng, hết thế. Ngặt nghèo hoặc nghèo ngặt. id. túng ngặt. Bức ngặt. id. ngặt có một điều: túng có một việc; thiếu có một đều” [Paulus của 1895 t2: 87]. (Ngôn chí 10.7, 18.8)‖ (Mạn thuật 29.5, 31.3)‖ (Thuật hứng 46.6, 48.6, 57.1)‖ (Tự thán 71.1), ngặt đến xương: dịch chữ bần đáo cốt‖ (Tự thán 72.7), khó ngặt: dịch chữ bần khổ 貧苦 (Tự thán 99.6)‖ Phồn hoa chẳng dám, ngặt yên phận, trong thế, anh hùng ấy mới biêu. (Tự thuật 116.7): dịch câu an bần nhi lạc 安貧而樂‖ (Tự thuật 122.7)‖ (Bảo kính 160.6, 168.2).
ngỏ 午
đgt. để mở, không đóng. Ngỏ cửa Nho chờ khách đến, trồng cây đức để con ăn. (Mạn thuật 27.5).
ngờ 疑
◎ Nôm: 𪟽 / 疑 AHV: nghi.
đgt. nghi. Sách Thuyết Văn ghi: “Nghi: ngờ vậy.” (疑,惑也). Chim có miệng kêu, âu lại ngậm, cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ. (Tự thán 108.4)‖ (Bảo kính 179.8)‖ (Đào hoa thi 232.4).
đgt. dự tính mà biết trước (thường đứng sau phủ định từ, hoặc đại từ phiếm chỉ). Đời Thương thánh biết cầu Y Doãn, nhà Hán ai ngờ được Tử Khanh. (Bảo kính 131.4, 166.2).
Nho thần 儒臣
dt. <Nho> trỏ các nho sĩ bề tôi, cách gọi này bắt đầu từ đời Hán, sau trỏ chung đại quan có học vấn về kinh điển nho gia. Gánh, khôn đương quyền tướng phủ; lui, ngõ được đất Nho thần. (Trần tình 37.4).
nhục 辱
tt. trái với vinh. Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh (Tự thán 96.8). x. bao nhiêu.
đgt. <từ cổ> bị ghét. Yêu nhục nhiều phen vuỗn đã từng, lòng người sự thế thảy lâng lâng. (Bảo kính 161.1), yêu nhục: dịch chữ sủng nhục 寵辱. Thành ngữ: 寵辱不惊 sủng nhục bất kinh (chẳng sợ việc sủng ái hay bị ghét bỏ) ‖ (Bảo kính 166.8).
những 仍
dt. từ chỉ số nhiều, toàn là, luôn, suốt [VĐ Nghiệu 2010: 10]. Ngày tháng kê khoai những sản hằng, tường đào ngõ mận ngại thung thăng. (Mạn thuật 23.1)‖ (Tự thán 81.2, 82.6, 105.7)‖ (Bảo kính 139.3)‖ (Mai thi 224.4).
p. <từ cổ> chỉ có [Rhodes 1651 tb1994: 171]. (Mạn thuật 33.3)‖ (Trần tình 38.6)‖ (Tự thán 72.5)‖ Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.6).
③ tr từ biểu thị tính nhấn mạnh tính chất ngập tràn của một trạng thái tâm lý, tình cảm. Hai chữ “công danh” chăng cảm cốc. Một trường ân oán những hăm he (Trần tình 44.6)‖ (Thuật hứng 52.5)‖ (Tự thán 71.8, 84.5, 90.1, 92.4, 94.3, 96.4, 99.3)‖ (Tự thuật 113.5, 120.5)‖ (Bảo kính 136.1, 176.6, 177.2, 178.5)‖ (Tích cảnh thi 199.4, 205.2).
non nước 𡽫渃
dt. trỏ cảnh trí giang san nói chung. (Tự thán 74.1, 78.8, 86.6, 88.8, 95.8, 109.8)‖ (Bảo kính 143.5)‖ Song viết huống còn non nước cũ, mặc dầu thua được có ai tranh. (Bảo kính 156.7).
não 惱
đgt. làm cho lòng người rộn lên vì những cảm xúc khác nha (vui, buồn, chán chê, mê mẩn…) [An Chi 2006 t6: 79 - 80]. xuân sắc não nhân: mầu xuân bộn lòng. Lại có hoè hoa chen bóng lục, thức xuân một điểm não lòng nhau. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4). Áng đào kiểm đâm bông não chúng (cung ).
nè 泥
đgt. x. ép nè.
nén 󰠱
◎ (sic),các văn bản nôm thường bị nhầm chữ “碾” (AHV: niễn) với chữ Nôm “nặng” 𥘀, dẫn đến một số từ điển đã sưu tập những tự dạng này [NQH 2006: 741]. Xét, “niễn 碾: con lăn, ống trục nghiền như cái con lăn để tán thuốc vậy, dùng bánh tròn hay cột tròn lăn cho nhỏ đất cũng gọi là niễn.” [ĐT Kiệt 2010]. Như vậy, niễn sẽ cho các đồng nguyên tự là nghiến (chèn lên, nghiến răng), nghiền (-bột, -cám) và nèn (dùng lực đè lên cho chặt), nén (đè xuống ghìm xuống). Phiên khác: rán: cố gắng (BVN). Nay theo TVG, ĐDA, Schneider, VVK, MQL, PL.
đgt. ghìm lại, kìm lại, “đè nén: suspicari” [Taberd 1838: 330]. Nén lấy hung hăng bề huyết khí, tai nàn chẳng phải lại thung dung. (Tự giới 127.7). Nén niềm vọng mựa còn xốc xốc (Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Đạo ).
nên 𢧚
◎ Ss đối ứng reiɳ1 (muốt), ɗeiɳ (nàbái), rein1 (chỏi), deiɳ1 (khẻn) PJ Duong 2012: 9].
đgt. thành (thường có danh từ đứng sau). Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu, miễn là phỏng dạng đạo tiên nho. (Ngôn chí 3.1, 11.6, 12.6, 21.7)‖ (Mạn thuật 35.6)‖ (Trần tình 41.5)‖ (Trần tình 43.6)‖ (Thuật hứng 58.4, 62.4)‖ (Tự thán 75.6, 81.3, 103.1)‖ (Tự thuật 114.2, 142.2, 148.5, 151.3, 173.3, 183.1, 185.3)‖ (Tích cảnh thi 199.1, 203.3)‖ (Lão mai 215.1)‖ (Nhạn trận 249.2).
đgt. khiến cho. Phúc dầu hay đến trăm tuổi, mình thác thì nên mọi của tan. (Bảo kính 134.8).
đgt. thành ra, trở nên (thường có tính từ đứng sau). Sự có cầu người nên rẻ mặt, phận tuy rằng khó miễn yên lòng. (Thuật hứng 56.3)‖ nên đang hư hoá. Thân nên nhẹ. (Mạn thuật 30.5)‖ Mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.4)‖ Nên đầm ấm. (Thuật hứng 47.5)‖ Tóc nên bạc. (Tự thuật 112.5)‖ Cầm nên lặng. (Tự thuật 121.5)‖ Nên quý giá. (Bảo kính 135.3, 136.5, 148.1, 161.3, 166.6, 174.5, 176.5).
đgt. làm bổ ngữ kết quả, thành (thường đứng sau động từ trước danh từ). Tà dương bóng ngả khuở giang lâu, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 14.2, 19.6)‖ (Tự thán 96.1)‖ (Tự thuật 117.4)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.3)‖ (Bảo kính 154.3)‖ (Lão mai 215.4).
đgt. làm bổ ngữ kết quả, được, (thường đứng sau đgt., trước dt). Thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng. (Thuật hứng 55.8)‖ Muốn ăn trái, dưỡng nên cây (Bảo kính 137.1).
đgt. từ trỏ ý khuyên răn. (Mạn thuật 36.6)‖ (Tự thán 88.2)‖ Uổng có thân nhàn cực thửa nuôi, ghe đường dại dột mỗ nên xuôi. (Tự thán 106.2).
k. từ trỏ hệ quả, kết nối với nguyên nhân ở vế trước. Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.5)‖ (Bảo kính 141.2, 163.3, 171.5)‖. x. cho nên, x. vì chưng.
nóc 耨
◎ Đối ứng nóc đốc. Ss nôm đôm [TXN Lan 1988], êm đềm êm nềm [NQ Hồng 1988], nọc độc, nệm đệm, nác đác (nước), nẫy đẫy (béo), nỗi đỗi [NN San 2003b: 186], nắm đấm, no đủ, nút đútSs đối ứng tɔk³ (Mường), kadɔk³ (Rục), kadɔk (Sách) [VĐ Nghiệu 2011: 62], nɔk (19 thổ ngữ Mường), dɔk (7 thổ ngữ), tɔk (1), rɔk (2) [NV Tài 2005: 254]. Kiểu tái lập cho proto Việt-Mường: *drɔp
dt. mái. nóc - đốc hiện còn lưu tích trong từ bít đốc (bịt nóc). Ngói bít đốc: ngói dùng để lợp bờ nóc, bờ dải trong kiến trúc cổ. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5).
nô bộc 奴僕
dt. <Tngls> người hầu trong nhà, bộc còn đọc là . Nô bộc ắt còn hai rặng quýt, thất gia chẳng quản một con lều. (Mạn thuật 24.5).
năm hồ 𠄼湖
dt. dịch từ Ngũ Hồ 五湖. Đồ thư bốn vách nhà làm của, phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền. (Bảo kính 163.6), đc. câu này nhắc tích Phạm Lãi sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn diệt nước Ngô, không làm quan mà cùng Tây Thi đi chơi khắp giang hồ sông nước.
nấy 乃
đt. ấy. Tội ai cho nấy cam danh phận, chớ có thân sơ mới trượng phu. (Bảo kính 152.7, 183.4).
nẻo khuở 裊課
dt. <từ cổ> khi. Trời phú tính, uốn nên hình, ắt đã trừng trừng nẻo khuở sinh. (Tự thán 96.2).
nối 挼
◎ Ss đối ứng nol, noj (18 thổ ngữ Mường), k’ap (1) [NV Tài 2005: 256].
đgt. kế thừa, tiếp tục truyền thừa, kế nghiệp Nghiệp Lưu Quý thịnh, đâu truyền báu, bia Nguỵ Trưng cao, há nối tông. (Bảo kính 130.4)‖ Nối nghiệp (Bảo kính 166.1), kế nghiệp cha ông, ý nói Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn đời Trần Duệ Tông, còn Nguyễn Trãi đỗ thái học sinh đời Hồ ‖ (Giới sắc 190.8).
đgt. chắp lại. Chân tay dầu đứt bề khôn nối, xống áo chăng còn mô dễ xin. (Bảo kính 142.5).
nồng 濃
◎ Đọc âm PHV. AHV: nùng. Nguyên nghĩa là (sương móc) “dầm dề” xuất hiện đầu tiên trong Kinh Thi. Sau được dùng thông với 醲 từ trỏ độ rượu (đặc, đậm >< nhạt, trong nồng độ). Dẫn thân thành nghĩa “dày, đặc” (nùng mi: lông mi rậm, nùng yên: khói dày), chuyển sang nghĩa “diễm lệ, đẹp đẽ” lưu tích còn trong từ nồng nàn; lại chuyển nghĩa là “sâu” (nùng thuỵ: giấc nồng).
tt. (rượu, trà) đặc, trái với đạm, nhạt. Quân tử nước giao, âu những lạt, hiền nhân rượu thết, lọ là nồng! (Bảo kính cảnh giới 178.6).
tt. trọng hậu, nồng hậu. Già chơi dầu có của no dùng, chén rượu câu thơ ấy hứng nồng. (Thuật hứng 61.2).
tt. (giấc ngủ) sâu. Ấy còn cậy cục làm chi nữa, nẻo mộng chưa nồng, chẩm chửa toan. (Thuật hứng 63.8). Nguyên bản tại vị trí chữ mộng ghi là “骨”, các bản khác đều phiên là “cốt”. Đào duy anh phiên “Nếu cốt chưa nòng chẩm chửa toan”, giải thích rằng: “những cái gối (chẩm) để nằm nghỉ, nếu cốt của nó chưa nòng vào (chưa độn) thì chưa có thể tính đến (toan), chưa có thể gọi là cái gối được.” nhóm mai quốc liên phiên là “cốt” và hiểu cốt là cốt chẩm - xương ngang sau gáy, sau sọ, là chỗ thường gối vào đó. Cả câu hàm ý: một khi chưa có giấc mộng công hầu thì chưa toan tính chuyện mượn gối.” Schneider cho là “骨” nhầm từ chữ “mộng” (夢), phiên là “nếu mộng chưa nồng.” nay theo thuyết này. Xét, bài này đang nói về cuộc đời giống như giấc mộng Hoè An, danh thì như mây nổi, bạn cũ đều đã chết gần hết, chỉ còn lại lòng mình có nhật nguyệt thấu, tráng chí non sông cũng đã lỡ làng, nhìn lại tự thấy thẹn với mình, thẹn với giang san, thế thì cuộc đời còn phải cậy cục làm chi, cho nên suốt đêm cứ trăn trở thao thức, không ngủ được (chẩm chửa toan). Câu viết ở dạng giả định, nhưng thực ra đang nói về một tâm sự trong đêm với những chiêm nghiệm về đời người.
nửa đêm 姅店
dt. giữa đêm. Gia sơn, đường cách muôn dặm, ưu ái, lòng phiền nửa đêm. (Tự thuật 115.6).
phúc 福
dt. trái với hoạ. Trẻ hoà sang ấy phúc, già được lọn là tiên. (Thuật hứng 53.5)‖ (Tự thán 99.1, 111.8)‖ (Bảo kính 132.1, 134.7, 135.7, 175.5).
tt. may mà, may (do phúc ấm). Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.6).
quan thanh bằng nước 官清朋渃
Thng dịch cụm quan thanh như thuỷ. Thẩm Quát trong Mộng khê bút đàm của dùng để khen Bao Chửng: “dùng ông quan trong như nước, sao địch lại trơn như dầu?” (任你官清如水, 怎敌吏猾如油). Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.6).
quân 軍
dt. lính, trái với tướng. Chúa xuân dìu dặt dư ba tháng, mắng cầm ve mới đỗ quân (Điệp trận 250.8).
quân thân 君親
dt. <Nho> vua và cha. Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, tình phụ cơm trời áo cha. (Ngôn chí 8.7, 12.7)‖ (Mạn thuật 30.7)‖ (Tự thán 106.8)‖ (Bảo kính 159.7).
quãng 曠
◎ Nôm: 曠 AHV: khoáng (rộng). Khoáng dã: đồng rộng (Kinh Thi) [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1999: 1539-1540]. “quãng, rọũ: rộng lớn. gếy quãng: giấy rộng khổ. quãng khôũ: quãng không, chính không khí” [Rhodes 1651 tb1994: 185]. Cứ liệu trên cho thấy, ở thế kỷ XVII đã có song thức ngữ âm của ngữ tố này, nhưng “quãng” phổ biến hơn “rộng”. Xét, các thuỷ âm r- và k- của hai biến thể, cho phép tái lập thuỷ âm kép *kʰl- của ngữ tố này vào thế kỷ XV. Kiểu tái lập: *kʰlwoŋ. Quá trình Việt hoá như sau: khoáng > *kʰlwoŋ > quãng/ rộng (rọũ). [TT Dương 2013c].
tt. trái với hẹp (trỏ không gian). Song viết có nhiều dân có khó, cửa nhà càng quãng thế càng phiền. (Bảo kính 143.4), phiên khác: thoáng (TVG) ‖ Rừng Nho quãng, nấn ngàn im, hột cải tình cờ được mũi kim. (Bảo kính 150.1).
tt. (bóng, trỏ tính cách hay lối sống) hoang phí, rộng rãi, phóng khoáng. Có của cho người nên quãng miệng. (Bảo kính 171.5) câu này ý nói có của cho người khác thì sẽ có lúc người khác lại cho mình, sống rộng rãi thì không lo chết đói, lúc khó khăn cũng sẽ có người giúp mình. Xa hoa ở quãng nên khó, tranh cạnh làm hờn bởi tham. (Bảo kính 174.5).
quê 圭
◎ Nôm: 圭 AHV: khuê, âm phiên thiết “quê” (涓畦切) [Tập Vận, vận hội], nghĩa “vùng đất”. Đây là chữ hội ý {thổ + thổ}, xuất phát từ tục phân phong thời xưa, chữ 封 nguyên nghĩa là “mảnh đất của vua chư hầu, gồm hai chữ thổ (圭) và bộ thốn” (封,爵諸侯之土也。从之从土从寸) [Thuyết Văn giải tự; weiger 1915: 210], mà thốn chỉ là dạng khải hoá của bộ thủ (cái tay, trỏ sự sở hữu), sau 封 mới cho nghĩa là ranh giới lãnh thổ. Mặt khác, bản thân chữ “phong” còn có nghĩa là “vua chư hầu cầm ngọc khuê (biểu tượng của vùng đất mình cai quản) vào chầu thiên tử”. Chữ 圭 (hoặc 珪) từ đó mới chuyên dùng để trỏ loại ngọc này, còn nghĩa gốc “đất đai” được chuyển sang dùng tự dạng mới là “畦” [An Chi 2006: 311-312]. Âm HTC của 圭 là: kʷe (Baxter), kʷee (Phan Ngộ Vân). Chữ 貫 (quán) vốn nghĩa là “chuỗi tiền xâu” sau được dùng giả tá để ghi “vùng đất cha ông đã sống” (nguyên quán), mà hình thái ngữ âm quãng thời Tần về sau là *kwel hoặc *kwen, tiếng Việt còn bảo lưu âm “quèn”, như thành quèn (cổ hiền) là thực ấp của Đỗ Cảnh Thạc. Ss đối ứng: *kuel [NT Cẩn 1997: 311]. Chung âm -l cho phép truy nguyên đến thời Proto Việt-Chứt [NT Cẩn 1997: 208- 210; An Chi 2006 t4: 314]. Ss đối ứng kwel, kwe (11 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 259]. Như vậy, “quê” là âm THV cổ xưa nhất (có khả năng trước đời Tần), “quèn” là âm THV thời Tần - Hán - Nam Bắc Triều. Còn “quán” là AHV từ đời Đường.
dt. quê quán. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.5)‖ (Mạn thuật 33.1, 35.1)‖ (Thuật hứng 48.1, 50.2, 51.1, 59.1)‖ (Tự thán 71.7, 73.2, 77.5, 107.2, 109.2)‖ (Tự thuật 117.2)‖ (Bảo kính 135.4, 155.1, 158.2).
quê tổ 圭祖
dt. nói tắt của quê cha đất tổ. Ruộng nhiều quê tổ năm ba thửa, tạc tỉnh canh điền tự tại nhèn. (Bảo kính 140.7).
quỳ 葵
dt. <Nho> loài thảo mộc, nhành cao, nở hoa vàng khá lớn, hạt có thể ăn, hoặc ép lấy dầu. Hoa quỳ thường hướng theo mặt trời nên còn gọi là hướng nhật quỳ 向日葵. Dân gian thường gọi là hoa hướng dương, khi mọc dại thì cây thấp hơn và nhỏ hơn, được gọi là dã quỳ . Vì hướng mặt trời, nên hoa quỳ được coi là biểu tượng cho lòng trung thành của bề tôi, nên có chữ quỳ tâm 葵心. Người hiềm rằng cúc qua trùng cửu, kẻ hãy bằng quỳ hướng thái dương. (Tự thán 71.4).
quỷ thần 鬼神
dt. quỷ và thần. Đói khó thì làm việc ngửa tay, chớ làm sự lỗi, quỷ thần hay. (Bảo kính 171.2).
quỹ 晷
dt. bóng mặt trời, mặt trăng, trỏ nhật nguyệt nói chung. Sách Thuyết Văn ghi: “Quỹ: ánh nắng” (晷,日景也). Tuyết sóc treo, cây điểm phấn, quỹ đông dãi, nguyệt in câu. (Ngôn chí 14.4).
dt. thời gian, bóng quang âm, mùa. Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.1). “quỹ đông: sơ thấy ban hầu tan canh” (Chỉ Nam ngọc âm thế kỷ17: 1b).
ra tay thước 囉揌𡱩
đgt. khng.. Trù mưu lập kế. Vệ nam mãi mãi ra tay thước, điện bắc đà đà yên phận tiên. (Bảo kính 183.5). Ss chữ đao thước (刀尺) với nghĩa “quy củ, định chế, pháp luật”. Quán Hưu đời Tiền Thục có câu: “nuôi dân dao thước chăng hình tích, nổi tiếng văn chương có bậc thầy” (活民刀尺雖無象,出世文章豈有師 hoạt dân đao thước tuy vô tượng, xuất thế văn chương khởi hữu sư).
ruộng 壟 / 壠
◎ Nôm: 𬏑 / 𪽞 Đọc theo âm THV. Nguyên tiếng Hán có các nghĩa: ruộng, bờ ruộng, luống cày và nơi cao nhất trong khoảnh ruộng dùng để táng mồ mả, từ nghĩa này lũng mới có nghĩa là “cái mả” (nghĩa này hay được dùng từ đời Tần đến đời Tấn). Với nghĩa là cái gò cao, 壟 còn có các đồng nguyên tự là 隴, 陵, 陸, 隆 [Vương Lực 1984: 314-315]. Kiểu tái lập cho âm HTC: *roŋ [Schuessler 2007: 363]. Chúng tôi tái lập là *throŋ, sau cho âm thung lũng trong tiếng Việt với nghĩa gộp trỏ “không gian có nhiều gò (cao) và khoảng đất trũng giữa các gò đó (thấp), cũng tương tự như *throŋ cho âm thuồng luồng (một tên gọi khác của con rồng, như Nguyễn Tài Cẩn đã gợi ý. x. rồng). Từ Hán Việt lũng đoạn cũng có nghĩa gốc như trên. Như vậy, chữ lũng 壟 có các lưu tích ruộng, luốngthung lũng trong tiếng Việt. Ngoài ra, chữ lục 陸 (một đồng nguyên tự khác nữa của nó) còn cho âm rộc (nghĩa là ruộng nước ven ngòi lạch hoặc trong hẻm núi) [NQ Hồng 2008: 962]. Ví dụ: nhất sở rộc tân xứ [một thửa ở xứ rộc tân] (bia 10500, khắc năm 1598). thèm nỡ phụ canh cua rộc (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân Am 8b). ruộng rộc [Béhaine 1773: 509; Paulus của 1895: 260]. Phng. Nghệ An: rọng: ruộng. rọng bề bề không bằng nghề cầm tay. Tng. [TH Thung 1997: 225]. Kiểu tái lập: kiểu tái lập: *tʰroŋ⁴. [TT Dương 2012c]. Ss đối ứng hrɔŋ (4 thổ ngữ Mường), rɔŋ (13), hɔŋ (2), lɔj (1) [NV Tài 2005: 256]. Như vậy, ruộng là gốc Hán, nương - nội gốc Việt.
dt. đất cày cấy. (Trần tình 43.7)‖ Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1)‖ (Bảo kính 129.7, 140.7, 150.7, 177.7)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.5).
rã 攞
◎ Nôm: 呂 (lã, lữ). Tập Vậnvận hội ghi: 攞裂也 (la: rách tã ra). Chuỗi đồng nguyên tự: rã, rữa, sã, trữa, tã, tở.
đgt. hỏng nát. Hoa càng khoe tốt, tốt thì , nước chớ cho đầy, đầy ắt vơi. (Tự thán 85.5).
rặt 列
◎ Nôm: 別 âm THV của liệt. Âm HTC: *[b]red (Phan Ngộ Vân), *red (Trịnh Trương Thượng Phương), *c-rjet (Baxter). AHV: liệt (tất cả các), như liệt quốc, liệt vị. (sic).
tt. HVVD toàn, chỉ có. Nhà ngặt túi không tiền mẫu tử, tật nhiều thuốc rặt vị quân thần. (Mạn thuật 29.6), chữ rặt đối với chữ không. bụng ông rặt những máy đồng hồ (tú xương - vị thành giai cú 3a).
rẻ mặt 礼󰘚
◎ Có thể do chữ Nôm đời sau lạc vào, vì “rẻ” (khinh) vốn là từ “dể”. Tồn nghi. x. dể.
đgt. tt. <từ cổ> rẻ rúng, coi rẻ cái lòng tự trọng của chính bản thân mình, không có liêm sỉ, không có tự trọng. Sự có cầu người nên rẻ mặt, phận tuy rằng khó miễn yên lòng. (Thuật hứng 56.3).
rốt 卒
◎ Nôm: 󰭾 / 室 {票 phiêu +巨 cự}, nhầm từ 栗 {栗 lật + 巨 cự}, kiểu tái lập *krot⁵ [TT Dương 2012c]. rốt là từ gốc Hán, với nghĩa là “chết” trong từ chết tốt. Thú vị là với nghĩa này thì AHV đọc là tuất, như tử tuất. Thế nhưng người Việt vẫn quen đọc là tốt. Từ động từ nghĩa là chết, chữ tốt chuyển sang dùng làm phó từ với nghĩa là “sau cuối, cái đoạn cuối cùng”, tiếng Việt gọi là rốt / rút. Như câu 卒能成事 tuất năng thành sự (rốt cục có thể nên việc). Đứng trong dãy 鬚 râu > tu, 瀉 rửa > tả, 胥 rể > tế, thì 卒 rốt > tốt rất có thể là âm THV.
dt. <từ cổ> cuối, đoạn cuối, lưu tích còn trong chữ sau rốt, rốt cuộc . “rốt: ở đàng sau hết, ở sau chót, ở dưới chót. rốt đáy: ở dưới chót, ở dưới đáy. rốt năm: cuối năm, cùng năm.” [Paulus của 1895: 883]. so bốn mùa đâu bằng xuân rốt (hoàng sĩ khải - tứ thời khúc vịnh)‖ rốt đời nhà trần vâng mệnh sang sứ nước bắc (Truyền Kỳ Mạn Lục giải âm - hạng vương từ ký). Còn lưu tích trong các chữ rốt lòng, rốt hết, rốt ráo. Chưng lời đức thánh đời trước noi trời dựng mực rốt chẳng chi lớn hơn việc lễ <tiền thánh kế thiên lập cực chi đạo mạc đại ư lễ 前聖繼天立極之道莫大於禮 (Lễ Ký đại toàn tiết yếu diễn nghĩa - Lễ Ký đại toàn tự: 1a).
p. <từ cổ> cuối cùng. Tuỳ binh thiêu đốt bốn bên, hậu lý rốt bèn khôn biết cậy ai. (Thiên Nam Ngữ Lục, c. 2704) hai mươi tuất rốt, hai mươi mốt nửa đêm: tiếng nói về mặt trăng, ngày hai mươi coi giờ tuất, ngày hai mốt chừng nửa đêm mới mọc” Tai thường phỏng dạng câu ai đọc: “rốt nhân sinh bảy tám mươi”. (Tự thán 76.8)‖ (Bảo kính 138.8). Dịch câu nhân sinh thất thập cổ lai hy 人生七十古來稀 của Đỗ Phủ.
đgt. <từ cổ> dịch chữ cùng 窮 (thực hiện đến cùng, cố cùng, làm cho rốt ráo), lưu tích còn trong từ rốt ráo. Chàu mặc phận, nguôi lòng ước, rốt an bần, ấy cổ lề. (Tự thán 88.6). cùng (窮) nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo; rốt (栗) thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi đụt lốc (Trần Nhân Tông - cư trần 28a2).
rỡ 焒
◎ Trùng hình với “lửa”. Xét, “lửa” và “rỡ” đều là đồng nguyên tự. Trong đó, “lửa” (danh từ) là nguyên từ. Trong lịch sử hai chữ này cũng chỉ dùng thanh phù . Một phái sinh khác còn thấy trong tiếng Katu là rạ? (bén lửa) với tư cách là động từ [NH Hoành 1998: 248]. Kiểu tái lập là *hra³ sẽ cho lửarỡ (tính từ, động từ bất cập vật) [TT Dương 2013b].
tt. đgt. rực lên, làm cho rực rỡ lên. Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ. Rỡ tư mùa một thức xuân (Trường an hoa 246.4).
rửa 瀉 / 𣳮
AHV: tả. Kiểu tái lập từ ngữ liệu của Chu Lễ: *sah [Schuessler 2007: 537]. Nguyễn tài cẩn gợi ý đến khả năng song tiết hoá ở Việt-Chứt [1997: 118]. Cứ liệu ngữ âm hiện còn cho phép xác định đó có khả năng là tổ hợp phụ âm đầu: rửa ráy được ghi bằng 𪡉󱞮 (cá 个+ lã 呂,cá 个+ tái 塞), kiểu tái lập có thể là *ksả *ksái, nguyên văn: rửa ráy rén hót nhơ <洗濯頻除穢 (Phật Thuyết 15a5). Cứ liệu ngữ nghĩa: rửa được ghi bằng chữ Nôm 𤀗 ở thế kỷ XVI-XVII được dùng để đối dịch chữ tẩy 洗: lời nhơ nói xấu, phiền ngươi rửa đấy ← 蕪辭穢語煩公洗之 (TKML i 13). Như thế, chữ rửa ráy 瀉洗 là một từ Hán Việt Việt tạo. Quá trình biến đổi ngữ âm từ Hán sang Việt như sau: *sah *sai>*ksả *ksái> rửa ráy. *ksả *ksái là âm HHVH ở tiếng Việt tiền cổ, rửa ráy là âm HHVH ở giai đoạn tiếng Việt cổ (xiii- xvi), đến nay vẫn dùng. Tương ứng: đi tả/ đi rửa. Từ Hán Việt như tả lị, trong đó thổ tả 吐瀉 (trên nôn dưới rửa) còn cho lối nói đi rửa ruột, sau được dùng để rủa: đồ thổ tả. rửa xuất hiện trong một số từ kép và một số kết hợp như: rửa ráy, giặt rửa, gột rửa, rửa thù, rửa hận, rửa nhục, rửa tội, rửa chân tay, rửa ảnh, rửa tiền. sớm rửa cưa trưa mài đục. Thng Phiên khác: tả: chảy rốc xuống (TVG, ĐDA, BVN), dã: giải, làm cho bớt sức theo ghi nhận của Paulus của 1895 và Génibrel 1898 (Schneider, MQL, PL).
đgt. (mưa, thác) tưới xuống, đổ xuống. Lục Du trong bài Vũ dạ có câu: “Mưa rào như suối rửa ngòi sâu, nhà không nằm trước ngọn đèn sầu.” (急雨如河瀉瓦溝,空堂卧對一燈幽 cấp vũ như hà tả ngoã câu, không đường ngoại đối nhất đăng u). Tào khê rửa nghìn tầm suối, sạch chẳng còn một chút phàm. (Thuật hứng 64.7), chữ rửa ở câu này dùng với hai nghĩa, ở câu trên là tả cảnh thác đổ, nhưng khi ý thơ vắt dòng xuống câu dưới thì rửa đã mang nghĩa gột rửa. Đây là một ví dụ nữa cho việc chơi chữ nước đôi có hệ thống và có chủ ý trong thơ Nguyễn Trãi.
đgt. gột cho hết (bẩn, buồn,…), rửa cho sạch. thuỷ hử toàn truyện có câu: “Ngâm thơ như muốn rửa sầu ngàn cân.” (吟詩欲瀉百重愁 ngâm thi dục tả bách trọng sầu). Rửa lòng thanh, vị núc nác, vun đất ải, rãnh mùng tơi. (Ngôn chí 10.3)‖ Say mùi đạo chè ba chén, rửa lòng phiền thơ bốn câu. (Thuật hứng 58.6)‖ (Tự thuật 114.6). Hiện còn nói: mưa rửa chùa, mưa rửa núi.
sa 沙
dt. bãi cát. Diếp còn theo tiên gác phượng, rày đà kết bạn sa âu. (Bảo kính 162.4). đng doi. x. đồi.
suy nhường 推讓
đgt. suy tôn và kính nhường. Đạo đức hiền lành được mọi phương, tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.2).
sàng 淙
◎ Nôm: 淙 AHV: tông, sàng. Xét tự dạng kỵ huý đời Nguyễn [NĐ Thọ 1997: 142].
dt. thác nước [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 1611]. “sàng vốn có nghĩa là dáng nước chảy (thuỷ lưu mạo) có hiểu như vậy mới tạo được sự nối kết với câu trên [Nguyễn Nam 1984: 48]. Thuyết khác cho rằng sàng là đồ để lọc rây hạt. lòng tựa sàng là cái lòng vô tâm của người theo tư tưởng lão trang, ví như cái sàng, để cho mọi sự mọi vật lọt qua hết, cũng như lòng hư không trống rỗng mọi vật đều không có ý nghĩa gì. [ĐDA 1976: 777]. Nhưng cách ví von này chưa thấy điển tương ứng trong kinh sách đạo gia. Hoặc có thể nghĩ theo hướng: chữ “sàng” là một chữ giả tá đồng âm với “sàng 牀” hoặc viết nhầm từ chính chữ 牀. Nếu thuyết này có thể chấp nhận được thì “lòng tựa sàng” nghĩa là “lòng cũng đã như cái ban thờ”, có phần hô ứng với ý “cảnh ở tựa chiền”. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.6).
sào 篙
◎ Nôm: 高 Văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi ký khắc năm 1157 ghi “nhị bán cao” nghĩa là “hai sào rưỡi” [văn bia thời lý 2010]. Phiên khác: cao (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, BVN, MQL, NTN, PL). TV Giáp còn đề xuất cách hiểu “cao” viết nhầm từ “膏” nghĩa là “mỡ tức là mực, ý nói con trâu ở trong cái nghiên mực, được bồi dưỡng nhiều về chất béo của văn chương” (1956: 180). Xét, “sào văn” chuẩn đối với “ruộng thánh”. Nay đề xuất. Ss đối ứng k’aw (20 thổ ngữ Mường), ʂaw (5), t’aw (1), p’aw (1) [NV Tài 2005: 266].
dt. đơn vị đo lường ruộng đất thời xưa, mười sào bằng một mẫu. Nguyên nghĩa là “đồ đo ruộng có 15 thước mộc” sau dùng “sào mẫu, sào đất, sào ruộng” [Paulus của 1895: 903]. Về văn tự, “sào” có chính tự là 篙 (cây sào). Như vậy, có thể xác định, “sào” (cây gậy để đo) là một từ gốc Hán, cho nên “sào” (đơn vị đo lường) là một từ gốc Hán Việt dụng. Về ngữ âm, AHV có thuỷ âm k-, âm nôm có thuỷ âm s-, có thể tái lập ngữ âm là *krao². Quá trình biến âm từ Hán sang Việt sẽ là cao > *krao² > sào. Âm s- bắt đầu từ thế kỷ XVI về sau. Khoẻ cày ruộng thánh đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.6).
sày 師
◎ Nôm: 柴 Đọc âm HHV. AHV: sư. OCM *sri [Schuessler 2007: 461]. Bụt là thầy cả trong tam giới. 如來是三界大師 (Phật Thuyết 7a). Chữ Nôm 舍賴哿, đối dịch chữ đại sư; cả < đại; 舍賴 (xá lại) < 師, được tái lập là một âm có tổ hợp phụ âm đầu là sr-. [NT Cẩn 2008; NQ Hồng 2008: 135], và salaj⁶ [Shimizu Masaaki 2002: 769]. Nay theo thuyết của NT Cẩn. *sri là âm của chữ 師 vào quãng thế kỷ VI trở về trước, đến đời Đường mới đọc thành *si (sư). Nhưng dấu vết cổ của nó vẫn được bảo lưu trong tiếng Việt vào quãng thế kỷ XII qua sách Phật Thuyết. Chữ Nôm QATT và các văn bản nôm thường dùng sài 柴 để ghi thày. Rhodes đã ghi nhận thày chứng tỏ đến thế kỷ XVII quá trình sày > thầy đã hoàn tất. Thế kỷ XV- xvi có lẽ vẫn đọc là sày. An Nam dịch ngữ ghi: “僧人: 隨委”, được Vương Lộc tái lập là [suei uei], và giải nghĩa là người sư (sãi) [1997: 152], theo chúng tôi đây là ghi âm người sày (thày). Tày: sày, sấy [HTA 2003: 437 - 463].
dt. <Nho> tiên sư, người dạy học. (Mạn thuật 25.4)‖ (Tự thán 94.8)‖ (Bảo kính 167.5, 173.3).
dt. <Phật> thầy chùa. Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, có thân chớ phải lợi danh vây. (Ngôn chí 11.1)‖ (Miêu 251.2).
dt. thầy thuốc, người chữa bệnh. Ai rặng túi sày chăng đủ thuốc, hay vườn đã có vị trường sinh. (Hoàng tinh 234.3).
sá 舍
xá.
p. <từ cổ> đâu, đâu có. “sá: kể, lấy làm trọng. Bao sá: chẳng kể chi. Sá bao. Sá chi. Chi sá. Chẳng sá chi. Sá gì.” [Paulus của 1895: 890]. Ấy còn lãng đãng làm chi nữa, tiếc mình chơi áng thuỷ vân. (Mạn thuật 29.8)‖ Lợi danh sá quản tầm thường. Sơ Kính Tân Trang c. 1089.
p. <từ cổ> hãy, nên. “xá: tua, phải. Xá kíp: tua kíp, phải cho kíp. xá tua. id.” [Paulus của 1895: 1183]. Thường dịch kèm theo các động từ năng nguyện như nguyện 愿, thỉnh 請. táp thỉnh hết đại chúng sá kính hết thửa để tin<大眾恭竭志誠.(Phật Thuyết 3a1). nguyện Bụt sá mở thửa nhiệm nhặt < 佛開微密 (Phật Thuyết 6a9). (Ngôn chí 2.2)‖ (Mạn thuật 24.4)‖ (Mạn thuật 32.4, 33.4, 34.7)‖ Non nước cùng ta đã có duyên, được nhàn dưỡng tính tự nhiên. (Tự thán 74.2, 86.4, 91.4, 108.6)‖ (Tự thuật 114.8, 116.2)‖ (Tức sự 125.6)‖ (Bảo kính 130.7, 152.5)‖ (Tảo xuân 193.8). xá, tua xá, hãy xá. Phb. hợp.
sách 冊 / 𠕋
◎ Ss đối ứng săc (9 thổ ngữ Mường), ʂăc (5), k’ăc (7) [NV Tài 2005: 265].
dt. thư tịch. Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.4, 6.4, 7.5, 9.7, 13.3, 17.2, 18.3)‖ (Thuật hứng 70.3)‖ (Tự thán 79.3, 80.5, 82.4, 97.1, 103.6)‖ (Tức sự 126.4)‖ (Bảo kính 150.8, 164.1, 184.5).
sát sát 撻撻
AHV: thát thát. Dùng th- ghi s-, ví dụ thế kỷ 14, “sảng sảng” được ghi bằng “thảng thảng” (倘倘) trong Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 41b2 [TT Dương 2013b: 137]. Phiên khác: sàn sạt (TVG), thơn thớt (ĐDA, BVN), thớt thớt: qua loa, sơ sài (Schneider, PL), thin thít: vẻ ngủ rất say (VVK). Nay đề xuất.
tt. <từ cổ> gần gần, kề kề. Ngày nhàn gió khoan khoan đến, sát sát kề song chước hoè. (Tự thán 79.8).
sáu mươi 󰮏󰁰
◎ Sáu: thanh phù là “lão”. So sánh với các đối ứng prau, phau, khau (Mường), phlau (Hung, Sách), prao (Pọng), traou (Brou), tơ trou (Bahnar), prau (Stieng), trau (Mon), Gaston tái lập là *práu [1967: 53; TT Dương 2013b].
dt. sáu chục. Bề sáu mươi dư tám chín thu, lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.1).
sơn dã 山野
dt. đồng nội, rừng núi. Của nhiều, sơn dã đam nhau đến, khó ở, kinh thành thiếu kẻ han. (Bảo kính 133.5).
sơn thuỷ 山水
dt. non nước. Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, cửa quyền hiểm hóc ngại xung xăng. (Mạn thuật 27.1).
sản hằng 產恒
dt. <Nho> trỏ sản nghiệp cố định như ruộng đất, vườn tược, phòng ốc. Ngày tháng kê khoai những sản hằng, tường đào ngõ mận ngại thung thăng. (Mạn thuật 23.1).無恒產而有恒心 vô hằng sản nhi hữu hằng tâm (Mạnh Tử- lương huệ vương thượng).
sất sơ 󰦕踈
◎ (suất sơ). Phiên khác: xác xơ (TVG), suất xơ: tiêu sơ, tiêu điều (ĐDA), thoắt xơ: đột nhiên xơ xác (Schneider, PL). Nghĩa khá tập trung, chỉ khác về phương án phiên. Cách phiên “xác” không hợp với thanh phù “suất” của chữ Nôm. Cách phiên “thoắt” của Schneider khắc phục được điều này, nhưng tỏ ra ép nghĩa. Xét cách ghi âm, đây là một từ láy thuỷ âm. Nên phiên là “sất sơ”, từ thế kỷ XVII về sau đọc là “thất thơ”.
tt. <từ cổ> xơ xác. Chữ “thất thơ” sau cho một biến thể láy khác: “thất thơ thất thưởng: bộ đi lưởng thưởng, yếu đuối như cò ma, chó đói” [Paulus của 1895 t2: 377]. Phồn hoa một đoạn tỉnh mơ, mẽ chuông tàn cảnh sất sơ. (Tự thán 108.2).
sắc không 色空
dt. sắc và không là hai trạng thái của các vật nơi cõi trần: sắc là có hình tướng hiện ra thấy được; không là không hình tướng, không thấy được. Sắc và không ấy là nói tương đối với con mắt phàm của chúng ta: có hình tướng mà mắt thấy được gọi là sắc, còn mắt phàm không thấy gì cả thì gọi là không. Kinh bát nhã của Phật giáo có câu: sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc). Theo quan niệm về nhân sinh của Phật giáo, muôn vật do sự biến đổi mà sinh ra, vốn không có thiệt. Thân thể của chúng ta hay của vạn vật là sắc, chỉ có tạm trong một thời gian sống, sau đó chết đi, xác thân rã tan biến trở lại thành không. Rồi từ chỗ không lại biến hoá thành hình tướng tức là sắc. Ai nhận biết được chân lý sắc không này thì không còn chấp cái sắc tướng, tức là chấp cái xác thân nơi cõi trần, thì người đó dứt được phiền não. Chiều mai nở chiều hôm rụng, sự lạ cho hay tuyệt sắc không. (Mộc cận 237.4). “sự lạ cho hay tuyệt sắc không, là một lời phát biểu điều tác giả tâm đắc về một chân lý của Phật mới được đốn ngộ. sự lạ là tiếng than khi nhận biết, đắc ngộ được một điều gì. Chiều mai nở chiều hôm rụng của bông hoa được tác giả nhận biết làm cho tác giả lĩnh hội được thuyết sắc không. Hoa sớm nở tối tàn, thì có bao giờ, có giây phút nào cái hoa thực sự được tồn tại ? như trên đã nói mọi vật đều là biểu hiện của tâm, cho nên là hư ảo và vô thường. Như vậy cũng có nghĩa là mọi vật luôn luôn trong sự biến hoá, luôn luôn đang sinh và luôn luôn đang diệt. Và, từ đó mà cũng là hư ảo, là không. Cho hay tuyệt sắc không, có nghĩa: mới biết tất thảy mọi vật trên thế gian xem như có dáng sắc thật đó mà kỳ thực chỉ là hư không. Kết quả vô minh không còn, vì lòng khát khao, tham luyến cũng dứt. Việc làm bây giờ không tạo được quản, thì quả của nghiệp trước được chồng chất phải hết, như vậy là thoát khỏi luân hồi, sinh tử đạt tới niết bàn.” [NN Luân 1992: 40].
sự do 事由
dt. nguyên do sự việc. Cơn cớ nguyền cho biết sự do, xem mà quyết đoán lấy cương nhu. (Bảo kính 152.1).
tam hữu 三友
dt. ba người bạn, tức tuế hàn tam hữu 歲寒三友 (ba người bạn của tiết lạnh trong năm), gồm tùng, trúc và mai. Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, so tam hữu chẳng bằng mày. (Mai thi 226.4).
thao 縧 / 縚 / 絛
◎ Nôm: 絩 Phiên khác: thêu (ĐDA, Schneider, VVK, PL), nhiễu (TVG, BVN, MQL). Xét chữ Nôm là chữ tự tạo 絩, mà 兆 có AHV là “triệu” không có phiên án phương âm nào khả dĩ, vì vậy “兆” là cách viết tắt của thanh phù 洮 có AHV là “thao”. thêu là động từ, thao là danh từ (dây thao, nón quai thao, đánh thao), điều là danh từ (chiếu cạp điều). Chỉ có “thao” (danh từ) mới chuẩn đối với “muối” cũng như “dưa”, “gấm”. Nay cải chính. Về Từ Nguyên, “thao” là từ gốc Hán với ba tự dạng đã nêu. Sách Ngọc Thiên ghi: “Thao: dây gấm” (纓飾), sách Quảng Vận ghi: “Bện tơ thừng” (編絲繩), sách Chu Lễ có lời chú: “thao đọc như chữ 絛”, tết dải mũ, đều lấy tơ để trang sức” (條,讀爲絛。其樊及纓,皆以絛絲飾之). Chuỗi đồng nguyên: thao - điều - thêu.
dt. dây dệt từ tơ lụa có hoa văn đẹp. Muối miễn dưa dầu đủ bữa, thao cùng gấm mặc chưng đời. (Tự thán 104.4).
thiên tử 天子
dt. con trời, trỏ hoàng đế. Đất thiên tử dưỡng tôi thiên tử, đời thái bình ca khúc thái bình. (Thuật hứng 65.3).
Thiệu Công 召公
dt. tức Thiệu Công Thích 召公奭, họ Cơ 姬 tên là Thích 奭, cùng họ với nhà Chu. Chu Vũ Vương sau khi diệt trụ, đã phong cho Thiệu Công ở bắc yên, ông là thuỷ tổ của nước yên sau này . Thời Chu Thành Vương, ông nhậm chức thái bảo, giúp nhà vua xử trị quốc gia, bình định loạn lạc. Tương truyền ông thường làm việc dưới gốc cam đường, người đời có làm bài phong dao về ông, tức bài Cam đường, sau được sưu tập vào Kinh Thi. Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công, đất dư dời được bạn cùng thông. (Cam đường 245.1)‖Cam đường cây bàng tán vờn, Thiệu Công hỏi kiện muôn dân đẹp lòng (CNNA 65b4). x. cam đường.
thuyền 船
dt. thuyền bè. (Ngôn chí 7.4, 9.5, 14.7, 19.1, 22.5)‖ (Trần tình 42.5)‖ (Thuật hứng 69.6)‖ (Tự thán 74.4, 90.4, 101.2, 108.6)‖ (Tức sự 123.8)‖ (Bảo kính 153.3, 157.3, 158.4, 163.6)‖ Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.8).
thái bình 太平
tt. thăng bình thịnh trị. Mừng khuở thái bình yêu hết tấc, no lòng tự tại quản chi là. (Trần tình 39.7)‖ (Thuật hứng 65.4)‖ (Tự thán 80.8, 98.8)‖ (Bảo kính 161.6, 188.7).
thánh hiền 聖賢
dt. <Nho> gộp xưng của thánh và hiền. Có thân mựa lệ bượp bằng hữu, đọc sách thì xem thấy thánh hiền. (Tự thán 103.6)‖ (Bảo kính 182.7, 188.2).
thánh thượng hoàng 聖上皇
dt. <Nho> như thánh chúa. Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng (Tức sự 126.8).
thâu 透
◎ Nôm: 偷 AHV: thấu, ABK: shu¹, tou⁴.
đgt. (đen) xuyên qua, xuyên suốt, (bóng) thấu, hiểu thấu. Song cửa ngọc, vân yên cách, dại lòng đan nhật nguyệt thâu. (Trần tình 40.4)‖ (Thuật hứng 49.5).
dt. xuyên qua một quãng thời gian, thâu đêm: suốt đêm, hay canh thâu. Từ bén hơi xuân tốt lại thêm, đầy buồng lạ mầu thâu đêm. (Ba tiêu 236.2).
thăm 探
AHV: thám.
đgt. viếng chơi. Thu cao, thỏ ướm thăm lòng bể, vực lạnh, châu mừng thoát miệng rồng. (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ x. Có khuở viếng thăm bạn cũ, lòng thơ ngàn dặm, nguyệt ba canh. (Bảo kính 169.7).
đgt. <từ cổ> dò tin, trong tiếng Hán, 探 đồng nguyên với 沁/滲. x. tăm. Lưu tích còn trong tăm tia, thăm dò (滲覦), săm soi, thâm nhập (滲入), do thám. Làm sứ đi thăm tin tức xuân, lay thay cánh nhẹ mười phân. (Điệp trận 250.1).
thạch 石
dt. đá. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch. (Thuật hứng 61.7). x. đá.
thấp 𥰊 / 㙮
◎ Ss đối ứng păn³, băn³ (13 thổ ngữ Mường), dip⁵ (6), tʼɤp (6) [NV Tài 2005: 275].
tt. trái với cao. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng (Ngôn chí 16.1)‖ (Mạn thuật 26.3)‖ (Tức sự 126.7)‖ (Bảo kính 132.8, 146.2)‖ Cuộc lần cờ thấp tan ngày diễn, bếp thắng chè thô cổi khuở âu. (Bảo kính 154.5), dịch câu: kỳ cục tiêu trường hạ 棋局消長夏 (cuộc cờ tiêu ngày hè dài) của Tô Thức trong bài Tư Mã quân thực độc lạc viên.
thần minh 神明
dt. thần linh. Kinh Dịch có câu: “âm dương hợp đức… để thông với cái đức của thần minh” Há chẳng biến dời cùng thế thái, những âu tây tối có thần minh. (Tự thán 96.4). x. tây tối.
thắm 審 / 𧺁
tt. đượm, đậm. (Tự thán 109.5)‖ Ngẫm gấp thắm thì phai lại gấp, yêu nhau chẳng đã đạo thường thường. (Bảo kính 147.7).
thờ 事
◎ Nôm: 蜍 Đọc âm HHV [NN San 2003b: 179]. AHV: sự.
đgt. phụng sự = phụng thờ. Thờ cha lấy thảo làm phép, rập chúa hằng ngay miễn cần. (Bảo kính 184.3).
thủ 首
dt. (lượng từ) bài. Rượu đối cầm, đâm thơ một thủ, ta cùng bóng, miễn nguyệt ba người. (Tự thán 76.5).
tiêu diêu 逍遙
đgt. đi thong thả thư nhàn, tự do tự tại, không chịu bất kỳ sự câu thúc nào. Trang Tử thiên Tiêu diêu du ghi: “Loanh quanh bên gốc cây, rồi thư nhàn nằm dưới gốc.” (彷徨乎無為其側,逍遥乎寢卧其下). Ta quản tiêu diêu qua mỗ thế, ai từng phú quý mấy trăm đời. (Thuật hứng 59.3)‖ (Tự thuật 116.2). tiêu dao.
tiêu ma 消磨
đgt. <từ cổ> tiêu khiển để giết thời gian. Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc, ngày tháng tiêu ma một bát chè. (Tự thán 73.6).
tiểu lợi 小利
dt. cái lợi nhỏ. Sách Luận Ngữ ghi: “Chớ có dục tốc, chớ có ham tiểu lợi. Dục tốc thì sẽ chẳng thành; mê tiểu lợi thì sẽ chẳng nên” (無欲速,無見小利。欲速,則不達;見小利,則大事不成). Sách đại đái Lễ Ký ghi: “Thích kiếm tiểu lợi thì làm hại đến chính trị” (好見小利,妨於政). Sách Đại Huyền Kinh ghi: “Chuyện tiểu lợi mà không cắt đứt được thì chính đạo sẽ mờ tối” (小利不絕、正道乃昏也). Ăn lộc nhà quan chịu việc quan, chớ tham tiểu lợi phải gian nan. (Bảo kính 144.2).
toan kể 算計 / 筭計
AHV: toán kê.
đgt. <từ cổ> đếm ra, tính ra, kê khai ra. Toan kể chỉn còn ba tháng nữa, Gặp xuân mựa để má đào phai. (Đào hoa thi 230.3)‖ (Thu nguyệt 198.3).
tri kỉ 知己
dt. người bạn hiểu rõ mình. Trượng phu non vắng là tri kỉ, tiên khách nguồn im ấy cố nhân. (Tự thán 81.5)‖ (Bảo kính 161.7).
trong 中
◎ Nôm: 𥪝 / 工 / 𥪞 bản B có chỗ ghi 共, âm Việt hoá tái lập là *klong hoặc *tlong. AHV: trung. Baxter (1992: 810) tái lập là *k-ljuŋ cho các ngữ liệu xuất hiện trong Kinh Thi. Rhodes (1651): tlaõ. An Nam dịch ngữ: *tlong hoặc *klong (thổ ngữ Mường tân hợp: klang, đan lai, ly hà: kloong) [Vương Lộc 1997: 60]. Thế kỷ XIX, Génibrel 1898 còn ghi nhận công hay cuông như trong các cụm cuông lòng xót xa, cuông lòng hằng vui, cuông ruột tầm [1898: 94]. Kiểu tái lập: *kloŋ¹ [TT Dương 2012c].
dt. trái với ngoài. Dưới công danh đeo khổ nhục, trong dại dột có phong lưu (Ngôn chí 3.6, 4.7, 5.7, 9.7, 16.7)‖ (Mạn thuật 23.7, 35.2)‖ (Trần tình 42.7)‖ (Thuật hứng 60.7, 70.8)‖ (Tự thán 77.7, 83.6, 84.7, 86.7, 89.2, 89.6, 90.6, 93.3, 99.3)‖ (Tự thuật 116.8)‖ (Bảo kính 153.1, 154.4, 157.5, 159.6, 164.7, 168.8, 172.3)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.1)‖ (Trúc thi 221.3).
trung hiếu 忠孝
dt. đức trung với vua và hiếu với cha. Tôi ngươi thì một lòng trung hiếu, mựa để nghìn đời tiếng hổ hang. (Tự thán 93.7, 100.7, 111.5)‖ (Bảo kính 158.7, 187.7)‖ (Ngôn chí 10.6).
trêu tức 嘹𠺒
◎ Thanh phù: liệu 嘹, tức 息. Phiên khác: giéo giắt (TVG), déo dắt (ĐDA, VVK), leo lét (MQL), réo tức (Schneider, PL), cách phiên này đúng mặt chữ Nôm, nhưng như vậy coi “réo tức” là tiếng kêu của chim đỗ quyên. Xét Từ Nguyên, “trêu” vốn là chữ 撩 (AHV: liêu), ví dụ: trêu râu hùm (撩虎鬚), trêu ong phải nọc (撩蜂吃螫). Kiểu tái lập: kleu¹.
đgt. chọc giận. Thục Đế để thành, trêu tức, phong vương đắp luỹ, khóc rân. (Điệp trận 250.5). “khóc rân” là trỏ tâm trạng của bướm khi bị đàn ong thợ chặn không cho vào tổ ăn mật, cho nên “trêu tức” cũng vẫn có chủ thể là bướm (chứ không phải là của Thục Đế như trước nay vẫn hiểu). Lý Thương Ẩn trong bài Cẩm sắt có câu: “Trang sinh tỉnh mộng mê là bướm, Vọng đế lòng xuân mượn cuốc kêu.” (莊生曉夢迷蝴蝶,望帝春心託杜鵑 trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên). Trang Chu tỉnh giấc mộng rồi vẫn còn băn khoăn rằng mình là Trang Chu hoá bướm hay giờ đang là ở một giấc mộng khác: bướm hoá Trang Chu. Thục Đế mất nước, tiếc nhớ đế vị, cũng như chim đỗ quyên kêu xót vì nhớ tiếc cả mùa xuân đã qua. Sự đan cài các điển nghĩa ở đây cho thấy sự chồng ghép các ý tưởng thơ: mất nước - tiếc xuân - và tất cả chỉ là giấc mộng. Nguyễn Trãi đã dịch gộp cả hai câu thơ của Lý Thương Ẩn: Thục Đế đã bỏ thành quốc ra đi, chỉ còn lại đây đàn bướm xuân mộng mị và nhởn nhơ như đang trêu tức con người.
trí thuật 智術
dt. trí tuệ và mưu thuật. Sách Hàn Phi Tử thiên Cô phẫn ghi: “Kẻ sĩ có trí thuật ắt nhìn xa xét rõ, nếu không xét rõ thì không thể tự chiếu sáng cho chính mình vậy” (智术之士,必遠見而明察,不明察,不能燭私). Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.7).
trường 場
◎ 場 là từ gốc Hán, AHV: tràng, âm HTC: *g-ljaŋ (Baxter). Thế kỷ XVII, Rhodes ghi “tlàng hăọc: tràng học”, và ghi nhận cả âm tràng [1651, tb1994: 231]. Như vậy, tlàng là âm Việt hoá từ thế kỷ XVII. Kiểu tái lập ở thế kỷ XV có thể là: *klaŋ². [TT Dương 2012c].
dt. chốn. Hai chữ “công danh” chăng cảm cốc. Một trường ân oán những hăm he (Trần tình 44.6).
trải 󰠵
◎ Thanh phù: lại 吏, kiểu tái lập: *tlại > trải. Thế kỷ XVII, Rhodes ghi một từ đồng âm gần nghĩa là blải (giải nghĩa) [1994: 39]. Gaston tái lập âm *plải [1967: 50; xem thêm TT Dương 2013b].
đgt. (thời gian) đi qua. Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện, đông hè trải đã xưa hay. (Trần tình 45.6).
trầm 沉
◎ Kiểu tái lập: *tram². Ngữ tố này xuất hiện trong ba câu thơ có sáu chữ (trừ trường hợp thuỷ trầm), khả năng cao được Việt hoá thành thuỷ âm kép *tr-. Phiên khác: chìm (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, BVN, MQL, NTN, PL). Xét, chìm là âm đọc từ thế kỷ XVIII trở về sau do xoá nhãn. Nay đề xuất.
đgt. <từ cổ> chìm, đắm dưới đáy nước. Khói trầm thuỷ quốc quyên phẳng, nhạn triện hư không gió thâu. (Ngôn chí 14.5)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.3)‖ (Nhạn trận 249.3).
trập 蟄
dt. tầng, lớp, dịch chữ trùng 重, lưu tích còn trong từ trập trùng, trùng trập, sau trập dẫn thân, trỏ một quãng thời gian, như một trập= một chập (một lượt, một hồi). (trập). Sau thế kỷ XVII, tr- và ch- xoá nhãn, nên còn đọc chập, chập chùng. Mô hình tr- (tr-) với sự đủ âm tiết trong câu thơ bảy chữ cho phép nghĩ rằng, thế kỷ XV đã bắt đầu có một số ít đơn vị đã đơn tiết hoá trọn vẹn. Tuy nhiên cũng thấy rằng, ở một số văn bản nôm khác, chữ trập còn được ghi bằng 砬, có thể có kiểu tái lập là *tlập. Phiên khác: rợp (BVN), xét “rợp” luôn được ghi bằng 葉; chập: gộp (TVG, MQL, PL).
đgt. <từ cổ> gộp, nối liền. Non hoang tranh vẽ trập hai ngàn, nước mấy dòng thanh, ngọc mấy hàn. (Tự thán 72.1). Phần lớn các cách hiểu trước nay cho rằng trập hai ngàn là hai quả núi liền với nhau. Nhưng cũng có thể hiểu rằng: chốn non hoang đẹp như tranh vẽ kia lại gộp thêm cả đôi bờ suối có nước trong veo, lạnh lẽo như ngọc đang toả dòng. Dù thế nào, hai câu thơ là một lối vẽ theo bút pháp thuỷ mặc cổ điển.
tt. <từ cổ> vẻ tầng tầng lớp lớp, rất nhiều rất dày. Lông đuôi trập trập tựa cờ bông lau. (CNNA 56).
tt. <từ cổ> “tầng tầng lớp lớp xen nhau, chồng lên nhau” [NQH 2006: 1155, 1186]. Người thì trướng trập uyên trùng. (hoa tiên 15a). Trùng trập non xanh đá mấy lần. (HĐQA 31a).
trật 失
◎ Nôm: 秩 / 栗 Các nhà phiên chú trước nay đều mặc nhiên phiên là mất. Nhưng tr- và m- chưa thấy mối liên hệ về âm trong lịch sử. Sách Phật Thuyết: áng nạ lòng thực dấu, tủi xót chăng trật sự no. (cha mẹ tình thành thực, thương yêu chẳng lúc nào thôi) < 父母情誠厚,憐憫無時 (tr.13b1), chữ trật đối dịch từ chữ thất 失 (mất), nguyờn bản nôm trật được ghi bằng hai chữ 坡栗 (pha lật) được tái lập là blạt [HT Ngọ 1999: 107; Shimizu Masaaki 2002: 767; NQ Hồng 2008: 134]. QATT chữ trật được một lần ghi là 栗 lật ở vị trí 202.1, Trần Văn Giáp và ĐDA cải chính, và đề xuất phiên lật với nghĩa là “trật, lỡ” [ĐDA: 823]. Từ pha lật 坡栗 trong Phật Thuyết đến lật 栗 trong QATT, đã xảy ra quá trình từ “chữ kép” (loại e1) chuyển sang “chữ đơn” (loại c). Quá trình biến đổi ngữ âm từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII có thể hình dung như sau: blạt > trật. Tương ứng như các trường hợp *blời > trời, *blả > trả, *blái> trái, *blọn > trọn, *blai > trai, *blở > trở [Shimizu Masaaki 2002: 767]. Như thế chữ Nôm trật 秩 trong văn bản dương bá cung là chữ Nôm của thế kỷ XVIII trở về sau. Diễn biến chữ (thế kỷ XII) > 栗 (thế kỷ XV) > 秩 (thế kỷ XVIII >). Chữ trật với nghĩa là “thua, lỡ, hỏng, trái với được” xuất hiện tám lần trong QATT, trong khi mất chỉ xuất hiện ba lần. Sự khu biệt nghĩa cũng khá rõ ràng: mất là một từ trỏ “chết, dứt, đứt đoạn”, vốn có nguyên từ là một 歿 (x. mất), Ss hoặc nhân nhớ con, gầy biến chết mất 或因緣子衰變死亡 (Phật Thuyết 20b1), han hỏi đi lại từ chưng ấy ắng mất 參問起居從茲斷絕 (Phật Thuyết 21a3). Còn trật thường là trái nghĩa với được, và luôn đi đôi với được trong QATT. Song ở đôi chỗ phảng phất có sự xâm lấn lẫn nhau, đây chính là giai đoạn trù bị để cho mất thay thế trật từ thế kỷ XVII trở về sau, còn trật lại chuyển sang nghĩa “sai đi, chệch đi” như Rhodes ghi nhận [1651 tb1994: 40, 147]. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, đắc >< thất, được >< trật, là hai cặp điệp thức có cùng nguyên từ là 得 >< 失 . 得 đắc / được là chuỗi liên hệ đã được làm rõ từ lâu. Còn 失 thất/ trật ít nhiều có thể thấy lưu tích qua thanh phù của chữ Nôm trật 秩 (trật tự, phẩm trật), trật 跌 (Trượt, trật trưỡng), trật 袠 / 帙 (túi sách). Kiểu tái lập *plat⁶. [TT Dương 2012c].
đgt. <từ cổ> mất. Lấy đâu xuất xử lọn hai bề, được thú làm quan trật thú quê. (Tự thán 109.2)‖ (Tự thuật 121.2)‖ (Bảo kính 161.4, 176.6, 182.2, 184.6)‖ (Giới sắc 190.3)‖ (Tích cảnh 202.1).
trẻ 稚
◎ Nôm: 𥘷 / 󰟵 AHV: trĩ. Ss đối ứng nɔn (27 thổ ngữ Mường), tlε (1), țε (1) [NV Tài 2005: 28]. Kiểu tái lập: *tle³ [TT Dương 2012c]. Như vậy, trẻnon - nõn (嫩) đều là gốc Hán, nhỏ - mỏ - bé gốc Việt.
dt. non, trái với già. Trẻ hoà sang ấy phúc, già được lọn là tiên. (Thuật hứng 53.5)‖ Trẻ dầu chơi con tạo hoá, già lọ phục thuốc trường sinh. (Tự thán 78. 5).
trị 治
đgt. bình trị, trái với loạn. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5)‖ (Tự thán 72.5, 98.8, 100.1)‖ (Bảo kính 137.5).
trọng 重
◎ Thiết âm: trụng.
đgt. trái với khinh. Người tham phú quý người hằng trọng, ta được thanh nhàn ta sá yêu (Mạn thuật 24.3)‖ (Tự thán 99.7)‖ (Bảo kính 145.3)‖ (Giới sắc 190.2)‖ (Mai thi 225.2).
tuyết 雪
dt. nước đóng băng. Cổi tục, chè thường pha nước tuyết, tìm thanh, khăn tịn nhặt chà mai. (Ngôn chí 2.3, 4.7, 13.5)‖ Án tuyết. (Mạn thuật 36.1)‖ (Thuật hứng 60.6, 62.4)‖ (Tự thán 84.3, 107.3)‖ (Tự thuật 115.4)‖ (Bảo kính 129.3, 157.5, 158.4, 164.4, 168.3)‖ (Tảo xuân 193.1)‖ (Lão hạc 248.5).
tuổi tác 歲索
dt. tuổi = tác. Xem lão quan tác lớn, khiến lòng trẫm lo âu (Sơn )‖ Họ bùi tên kiệm tác chừng đôi mươi (Lục Vân Tiên, c. 444).Có thân thì cốc khá làm sao, lảng bảng công hư, tuổi tác nào. (Thuật hứng 47.2)‖ (Bảo kính 180.1)‖ Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm, những lệ xuân qua tuổi tác thêm. (Tích cảnh thi 205.2). x. tác.
tám mươi 糁󰁰
dt. số đếm. Tai thường phỏng dạng câu ai đọc: “rốt nhân sinh bảy tám mươi”. (Tự thán 76.8).
tôi 焠
đgt. tôi thép. x. trui.
tăm 沁
◎ Nôm: 沁 Đọc âm PHV. AHV: tấm. Nghĩa gốc là “dùng vật ném xuống nước để thăm dò độ nông sâu”. Hàn Dũ có thơ rằng: “nghĩa thuỷ tuy rất gần, nhưng trộm cướp chẳng dám xuống” (義泉雖至近,盜索不敢沁) chú rằng: “người phương bắc lấy vật ném xuống nước gọi là tấm” (北人以物探水爲沁). Ý nói rằng, nhìn tăm nước để ước lượng độ sâu. Như vậy, tăm gốc Hán, bóng, bột gốc Việt.
dt. HVVD bong bóng nhỏ. Hang thỏ trầm tăm Hải Nhược, nhà giao dãi bóng thiềm cung. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.3).
tấc 𡬷
dt. gang, đơn vị đo lường. Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước triều đông. (Thuật hứng 50.7).
dt. nói tắt của tấc lòng. Nhớ chúa lòng còn đan một tấc, âu thì tóc đã bạc mười phân. (Bảo kính 165.3).
tằm 蠶
◎ Nôm: 蟳 Đọc âm THV. AHV: tàm. Ss đối ứng t’ăm (20 thổ ngữ Mường), săm (8), som (2) [NV Tài 2005: 272].
dt. con tầm. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.5).
tịch 夕
◎ Phiên khác: tỉnh (TVG), hết (Schneider), tịch: hết giận (ĐDA), tịch: lặng ngắt, chết (BVN), tịch: cảnh già (MQL). Nay theo ĐDA.
dt. hết. Đến khi tịch, mới ăn năn lại, dịn song thì mọi sự qua. (Giới nộ 191.7).
tịnh 凈
◎ Phiên khác: tĩnh (TVG, ĐDA), tạnh: trời trong sáng (Schneider, MQL). Xét, “tạnh” là từ gốc Hán “tình” (晴). Hà Nội có địa danh “quán tình” hay còn gọi là “quán tạnh”; âm “tĩnh” luôn viết là “靖” hoặc “靜”. Nguyên bản thống nhất chỉ viết tự dạng “凈” hoặc “淨”.
tt. yên lặng và trong trẻo. (Ngôn chí 2.5)‖ Thu im cửa trúc mây phủ, xuân tịnh đường hoa gấm phong. (Thuật hứng 56.6)‖ Cây tịnh chim về rợp bóng xuân. (Bảo kính 165.6)‖ (Liên hoa 243.3).
tửu binh 酒兵
dt. rượu. Tô Thức có câu: “Các ngài văn luật trùm tây kinh, lại dựng thi đàn dựa tửu binh.” (君家文律冠西京,旋筑詩壇按酒兵 quân gia văn luật quán tây kinh, toàn trúc thi đàn án tửu binh). Tào Dần trong bài Bắc hành tạp thi viết: “quanh mâm khách giang hồ, theo ai mượn tửu binh?” (满坐滄浪客,從誰借酒兵?mãn toạ Thương Lang khách, tòng thuỳ tá tửu binh?). Miệng khiến tửu binh pha luỹ khúc, mình làm thi tướng đánh đàn tao. (Tự thán 89.3).
tửu sắc 酒色
dt. rượu và sắc dục. Hiềm kẻ say chưng bề tửu sắc, hoạ người thìn được thói cha ông. (Bảo kính 130.5, 179.4).
uốn 彎
◎ Nôm: 󱹂 / 𭓩 / 揾 AHV: loan [Maspéro 1912: 37; NĐC Việt 2011: 15]. Âm phiên thiết: “ô oan” (Đường vận, Tập Vận, vận hội). Âm HTC: ʔruan (Lý Phương Quế), ʔron (Baxter). Âm HTrC: wan (Pulleyblank, Vương Lực). Như vậy, âm “loan” có khả năng xuất hiện trước đời Đường. Đối ứng -ua- (AHV) -uô- (THV): 販 phán/ bán buôn, 脫 thoát tuột, 拐 quải cuội,… [NĐC Việt 2011: 17]. Ss đối ứng uən (29 thổ ngữ Mường), wən (1) [NV Tài 2005: 285]. (sic), 𭓩 (sic< 宛), 揾.
đgt. nghĩa gốc là căng dây cong cánh cung để bắn (như chữ 彎弓), chuyển nghĩa “làm cho cong”. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.3).
đgt. (dẫn thân) khom lưng cong mình. (Mạn thuật 36.6)‖ Phú quý thì nhiều kẻ đến chen, uốn đòi thế thái tính chưa quen. (Bảo kính 140.2, 162.1). Mạc Đĩnh Chi trong bài Quá bành trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư có câu: “Vì mấy đấu gạo mà khom lưng, thà treo ấn từ quan lộc”(斗米肯折腰,解印寧辭祿 đẩu mễ khẳng chiết yêu, giải ấn ninh từ lộc).
đgt. HVVD nắn thành, tạo nên. Trời phú tính, uốn nên hình, ắt đã trừng trừng nẻo khuở sinh. (Tự thán 96.1).
vinh 榮
dt. trái với nhục. Lã Thị Xuân Thu có câu: “Vả lại, kẻ nhục cũng có lúc vinh” (且辱者也而荣 thả nhục giả dã nhi vinh). Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.8). x. bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh, xét.
vinh hoa 榮華
dt. vinh hiển và phú quý. Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ chuộng yêu? (Bảo kính 135.1).
vua 𢃊 / 𤤰
◎ (tư 司+ bố 布). Kiểu tái lập : *tbua. [TT Dương 2012a]. Phật Thuyết ghi ngữ tố này bằng 󰏘 (viết tắt từ 𢃊) tại câu “kính lễ Bồ Tát cắt vai tay mà đỡ vua cha” < 南無割臂救父王 (5a1).
dt. vị quân chủ của một nước. Vua Nghiêu Thuấn dân Nghiêu Thuấn, Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền. (Tự thán 74.7, 100.3).
vũ lộ 雨露
dt. mưa móc, ví với ân trạch tưới nhuần. Nhờ ơn vũ lộ đà no hết, đông đổi dầu đông hãy một dường. (Lão mai 215.7).
vắn 𬑵
tt. ngắn. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6).‖ (Bảo kính 175.7).
Vị Thuỷ 渭水
dt. nơi Lã Thượng câu cá. Thiên Thai hái thuốc duyên gặp, Vị Thuỷ gieo câu tuổi già. (Thuật hứng 54.6).
vớt 越
đgt. vợt lên. Ao cạn vớt bèo cấy muống, đìa thanh phát cỏ ương sen. (Thuật hứng 69.3).
vực 域
dt. chỗ nước thẳm. Thu cao, thỏ ướm thăm lòng bể, vực lạnh, châu mừng thoát miệng rồng. (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
xáo 操
đgt. cày xới, “xáo lên: bối lên, làm cho bề dưới trở lên trên, (thường nói về sự trở đất)” [Paulus của 1895 t2: 575]. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.3).
xênh xang 清腔 / 聲腔
tt. “bộ thơ thới, thung dung” [Paulus của 1895: 1187]. Miệt bả hài gai khăn gốc, xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân. (Mạn thuật 33.8)‖ (Tức sự 126.6). pb xình xoàng.
yên hà 煙霞
dt. khói và ráng (thường trong buổi chiều). Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.2)‖ (Thuật hứng 69.6)‖ (Tự thuật 118.4)‖ (Tức sự 123.1).
yêu đương 腰當
đgt. <từ cổ> quý, trọng, thích, nghĩa, sắc thái và phạm vi sử dụng khác ngày nay. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.7). yêu đang [Paulus của 1895: 464].
ân oán 恩怨
dt. ơn và oán nói chung. Hai chữ “công danh” chăng cảm cốc; một trường ân oán những hăm he. (Trần tình 44.6).
én 燕
◎ Đọc âm HHV. AHV: yến.
dt. loài chim thường làm tổ trên mái nhà, dùng bùn xây tổ, ăn côn trùng, là vật có ích với nhà nông. Có câu: 燕雀處堂 yến tước xử đường (chim én náu nhà) ví với việc cứ sống an nhiên không biết lo xa, đến khi mang hoạ cũng không tự mình hoá giải nổi. Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ, quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư. (Mạn thuật 34.5)‖ x. Vương Tạ.
ép nè 押泥
◎ Phiên khác: ép nề (TVG, PL), ép nài (TVG).
đgt. “nè 泥: chà bổi, nhánh cây người ta hay dùng mà cắm choái, làm rào thưa” [Paulus của 1895: 688]. ép nè: (nghĩa đen) ép cành nhỏ mà giặm làm rào, cũng như ép uổng 押枉 là ép cành cây cho cong lại.
đgt. chèn ép, ép uổng. Chớ cậy sang mà ép nè, lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.1).
Đắc Thú 得趣
đgt. được cái thú, được niềm vui thích. Vô tâm, đìa có trăng bạc, Đắc Thú, kho đầy gió thanh. (Tự thán 78.4).
Đỗ Phủ 杜甫
dt. tức Đỗ Thiếu Lăng (712 - 770) nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.6), Đỗ Phủ trong bài Phụng tặng vi tả thừa… có câu: “Đọc sách rách muôn quyển, hạ bút như có thần.” (讀書破萬卷,下筆如有神 độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần). Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.5), Đỗ Phủ có câu: “Mũ nhà Nho làm luỵ nhiều đến thân mình.” (儒冠多誤身 nho quan đa ngộ thân).
đan sa 丹砂
dt. loại thuốc trường sinh màu đỏ, do các đạo sĩ luyện, đây trỏ màu đỏ tươi. Cánh xâm bạch tuyết mười phần bạc, đỉnh nhuốm đan sa chín chuyển hồng. (Lão hạc 248.6).
đen 顛
◎ Ss đối ứng zɤm, dɛn, tɛn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 212].
tt. trái với trắng. (Tự thán 97.5)‖ (Tức sự 124.8)‖ (Bảo kính 140.4, 148.8). Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8), dịch từ câu toản chi di kiên, niết nhi bất truy 鑽之彌堅涅而不緇 (Luận Ngữ). x. nhuộm chăng đen.
điếc 的
◎ Ss đối ứng tiək, diək (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 213].
tt. không còn nghe được. Sự thế dữ lành ai hỏi đến, bảo rằng ông đã điếc hai tai. (Ngôn chí 6.8). x. đắng.
điệp trận 蝶陣
dt. đàn bướm. Tên bài thơ số 250. Hồng lâu mộng có câu: “ong vầy liễu trận loạn tơi bời, bao lần theo nước xuôi” (蜂圍蝶陣亂紛紛,几曾隨逝水?). x. phong vương, x. Thục Đế.
điệu khiếp 悼怯
đgt. HVVT điệu: buồn; khiếp: thương. Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.7).
đo 度 / 都
◎ “đo” là âm HHV; “đạc” là âm THV, Ss với âm HTC dâk [Schuessler 2007: 218] qua ngữ liệu Kinh Thi. AHV: độ. 都. Ss đối ứng tɔ, dɔ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 214]. Như vậy, “đo” là từ hán Việt-Mường giai đoạn trung đại.
đgt. đo đạc. Sách Tiền Hán thiên Luật lịch chí ghi: “Số đo [gồm] phân, tấc, thước, trượng, dẫn, là để đo vắn dài vậy” (度者,分寸尺丈引也,所以度長短也). Dợ nọ có dùi nào có đứt, cây kia toan đắn lại toan đo. (Bảo kính 176.4).
đgt. HVVD liệu, cân nhắc. Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt, chưa dễ bằng ai đắn mới đo. (Ngôn chí 20.8).
đuổi 追
◎ Nôm: 𧻐 AHV: truy. (ţwi) LH ţui OCM *trui [Schuessler 2007: 630]. Xét chữ “truy” có âm phiên thiết là “đôi”, làm thanh phù cho các chữ có âm đôi như 磓 (ném đá), 䭔 (các loại bánh) [x. NN San 2003b: 167]. Các sách Tập Vận, vận hội ghi âm phiên thiết: “đô lôi thiết, âm đôi” (都雷切,音堆). Ss đối ứng tuəj, duəj (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 217]. Như vậy, đây là từ hán Việt-Mường.
đgt. rượt theo, truy nã. Làm người mựa cậy khi quyền thế, có khuở bàn cờ tốt đuổi xe. (Trần tình 44.8).
đài 大
◎ âm HHV. AHV: đại.
tt. lớn. Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi, ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài? (Trừ tịch 194.8).
đài các 臺閣
dt. chốn nha sở. đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.5).
đàn 彈
đgt. <từ cổ> bắn. Đàn trầm đạn ngọc sao bắc, phất dõi cờ lau gió tây. (Nhạn trận 249.3). Câu này ý nói: chim nhạn bay theo đàn trông như những viên đạn, bắn chìm những ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu lấp lánh như những viên ngọc.
đàng 唐
◎ Lối thần đạo dùng để đi vào miếu đường hoặc tông miếu thời xưa. Sách Nhĩ Nhã ghi: “Lối trong miếu thì gọi là đường” (廟中路謂之唐). Kinh Thi phần Trần phong bài Phòng hữu thước sào có câu: “đường giữa lát gạch” (中唐有甓). Ss đối ứng taŋ¹ (nguồn), taŋ¹ (Mường bi), tjaŋ¹ (Chứt), kama (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 234].
dt. HVVD đường. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.2). QATT gieo cả ai vần -ang và -ương. Rhodes [1994: 68] cũng ghi nhận cả hai biến thể đàng - đường, nhưng coi đàng là âm phổ biến hơn. x. đường.
đào hoa 桃花
◎ Ss đối ứng taw, daw (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 209].
dt. hoa đào, loại hoa màu đỏ, nở vào xuân. Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.1).
đào hoa thi 桃花詩
dt. thơ về hoa đào, tên 6 bài từ số 227 đến số 232.
đá vàng 𥒥鐄
dt. dịch chữ kim thạch 金石, trỏ sự bền vững như đá như vàng không gì có thể phá vỡ được. Hoài Âm hầu truyện trong Hán Thư có viết: “nay túc hạ tự cho rằng mình có mối quan hệ thâm giao vàng đá với hán vương, thì sau này nhất định sẽ bị hán vương bắt giữ đấy”. Đạo này để trong trời đất, nghĩa ấy bền chưng đá vàng. (Tự thán 93.4)。
đáy 底
AHV: để. Đồng nguyên tự: đế trong đế giày (鞋底).
dt. đáy nước. Sách Liệt Tử thiên Thang vấn ghi: “Thực là cái hang không đáy” (實惟無底之谷). Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không, xem ắt lầm một thức cùng. (Thuỷ trung nguyệt 212.1)‖ (Mai 214.4).
đâu 兠
◎ Ss đối ứng nɔ (27 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 211].
đt. (đại từ nghi vấn) nơi nào, chốn nào. Ss đối ứng: no (Mường), tumo (Rục) [Alves 2012: 4]. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.8).
đt. chỗ chưa được xác định. Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt, khoan khoan những lệ ác tan vầng. (Tích cảnh 199.3).
đt. (đại từ nghi vấn) cái gì. Thương Lang mấy khóm một thuyền câu, cảnh lạ đêm thanh hứng bởi đâu? (Ngôn chí 19.2)‖ (Tự thán 80.8, 109.1)‖ (Thuật hứng 68.3).
đt. phản vấn tỏ ý phủ định, đâu có. Mực thước thế gian dầu có phải, cân xưng thiên hạ lấy đâu tày. (Bảo kính 172.6)‖ (Quy Côn Sơn 189.7).
đt. (đại từ) mọi nơi, các nơi đã được nhắc đến. Ngẫm ngọt sơn lâm miễn thị triều, nào đâu là chẳng đất Đường Nghiêu. (Mạn thuật 24.2)‖ (Tự thán 101.8, 103.7)‖ (Thái cầu 253.7).
đt. từ phiếm chỉ không gian nào đó. Tình thư một bức phong còn kín, gió nơi đâu gượng mở xem. (Ba tiêu 236.4).
p. không hề, không. (Ngôn chí 7.2)‖ (Trần tình 40.1)‖ Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.8)‖ (Thuật hứng 67.2)‖ (Tự thán 95.2)‖ (Tự thuật 121.8)‖ (Bảo kính 130.3).
đèn sách 畑𠕋
dt. hai đồ dùng của sĩ tử, dịch chữ thư đăng 書燈. (Ngôn chí 7.5, 13.3)‖ Buồng văn tấp cửa lọn ngày thu, đèn sách nhàn làm song viết nho (Thuật hứng 58.2).
đêm đêm 店店
dt. đêm nào cũng. Còn có một lòng âu việc nước, đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung. (Thuật hứng 68.8).
đôi tranh 堆爭
đgt. <từ cổ> như đôi ①, đôi = tranh. Dưng dưng sự thế biếng đôi tranh, dầu mặc chê khen, mặc dữ lành. (Bảo kính 169.1)
đông 東
dt. trái với tây. Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước chầu đông. (Thuật hứng 50.8).
đông phong 東風
dt. gió phía đông thổi lại, trỏ gió mùa xuân. Đông phong từ hẹn tin xuân đến, đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi. (Xuân hoa tuyệt cú 196.3)‖ (Tích cảnh thi 209.3)‖ (Đào hoa thi 227.3)‖ (Dương 247.3). “đông phong là gió mùa xuân thổi từ phía đông đến, mang hơi ấm của sinh khí. Đông phong còn là gió tình trong thi liệu cổ truyền. Đỗ Mục đời Đường có câu thơ: đông phong bất dữ chu lang tiện / đồng tước xuân thâm toả nhị kiều nghĩa là nếu ngọn gió đông không giúp sức cho chu du thì hai cô họ kiều đã bị Tào Tháo nhốt kín vào đài Đồng Tước. Sau này các nhà thơ còn hiểu đông phong như là phương tiện tạo cơ hội ân ái nam nữ. Nguyễn Du để cho thuý kiều suy ngẫm về kim trọng khi mình gặp tai biến: bước chân đến chốn lạc loài, nhị đào thà bẻ cho người tình chung, vì ai ngăn đón gió đông, thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi. Các bản dịch pháp văn với cụm từ ngăn đón gió đông thì đều dịch thành “barré chemin du bonhneur” (ngăn cản con đường đến hạnh phúc) là vì thế. Chắc chắn Nguyễn Trãi cũng hiểu đông phong theo nghĩa trên nên cụ mới rỉ bảo, nhắn khe khẽ thôi rằng hãy mạnh mẽ lên chứ kẻo rồi lại tiếc thay cho thế tình dửng dưng.” [NH Vĩ 2009].
đúc 鑄
◎ Nôm: 篤 Đọc âm PHV. AHV: chúc. Đúc: đọc theo âm THV: *tjugh (Lý Phương Quế).
đgt. hun đúc, đào tạo. Thương nhẫn Biện Hoà ngồi ấp ngọc, đúc nên Nhan Tử tiếc chi vàng. (Tự thuật 117.4). đc.: Dương Hùng trong sách Dương Tử Pháp Ngôn có câu: “có người hỏi: ‘đời hay nói đúc vàng, vàng có thể đúc ư?’ trả lời: ‘ta chỉ nghe nói rằng, khi gặp bậc quân tử, chỉ có hỏi về việc đúc người thôi, chứ không hỏi về việc đúc vàng’. Người kia lại hỏi: ‘người mà cũng có thể đúc ư?’ trả lời: ‘thì đức Khổng Tử đúc được Nhan Uyên đó thôi’. Người ấy mới cung kính mà rằng: ‘thực là ý vị! hỏi về việc đúc vàng, mà lại hiểu thêm về việc đúc người’” (或問:“世言鑄金,金可鑄與?”曰:“吾聞覿君子者,問鑄人,不問鑄金。”或曰:“人可鑄與?”曰:“孔子鑄顏淵矣。”或人踧爾曰: “旨哉!問鑄金,得鑄人”). ở câu thơ này, Nguyễn Trãi chơi chữ. Chữ dùng của Dương Hùng trỏ nghĩa bóng. Chữ dùng của Nguyễn Trãi vừa mang nghĩa bóng như vậy là vừa dụng nghĩa Từ Nguyên cụ thể của từ đúc. Ý muốn nói: dẫu đúc được một người hiền như Nhan Uyên thì có đúc bằng vàng đi chăng nữa thì cũng không tiếc. (theo ĐDA).
đạm bạc 淡薄
◎ Nôm: 淡泊
tt. đạm: nhạt, bạc: mỏng; đạm bạc: “lợt lạt, sơ sài” [Paulus của 1895: 262], (bóng) lãnh đạm, không thèm quan tâm đến. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.5)‖ (Tức sự 125.8). ở đây dùng nghĩa bóng.
đạo thường 道常
dt. <Nho> cái đạo thường hằng, luôn tồn tại, dịch chữ thường đạo 常道. “chẳng nhàn” xưa chép lời truyền bảo, khiến chử cho qua một đạo thường. (Bảo kính 128.8).
đất 坦
◎ Ss đối ứng tắt³ (nguồn), tắt³ (Mường bi), atăk², bơn¹ (Chứt), kule? (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 234].
dt. thổ nhưỡng. Nước dưỡng cho thanh đìa thưởng nguyệt, đất cày ngõ ải rãnh ương hoa. (Ngôn chí 4.6, 10.4)‖ (Hoàng tinh 234.1)‖ x. đất dư.
dt. trỏ không gian nào đó, như chỗ, chốn. Ẩn cả lọ chi thành thị nữa, nào đâu là chẳng đất nhà quan. (Ngôn chí 17.8)‖ (Trần tình 37.4). Ss “sửa mình mới biết làm thiện vui” 修己但知為善樂 (Nguyễn Trãi - ngẫu thành).
dt. lãnh thổ. (Mạn thuật 24.2)‖ (Trần tình 43.8)‖ (Thuật hứng 65.3)‖ Mấy kẻ tư văn sinh đất Việt, đạo này nối nắm để cho dài. (Tự thán 92.7, 105.8)‖ (Tức sự 125.3)‖ (Bảo kính 157.8).
dt. (chất) đất. (Mạn thuật 32.3)‖ (Tức sự 123.2)‖ (Tức sự 124.5). Nước càng tuôn đến bể càng cả, đất một chồng thêm núi một cao. (Tự thuật 122.4). đc. Luận Ngữ thiên Tử hãn: “Khổng Tử nói: ví như đắp đất làm núi, chỉ cần một sọt đất nữa là thành, nếu ta dừng, ấy là bởi ta dừng. Lại ví như giữa đất bằng, dẫu chỉ mới để được một sọt đất, nhưng quyết tâm tiếp tục, thì đó là ta đang đi tới thành công vậy.” (子曰、譬如為山, 未成一簣、止、吾止也、譬如平地、雖覆一簣、進、吾往也)‖ (Tức sự 125.4)‖ (Bảo kính 150.6).
dt. chốn, nơi. (Thuật hứng 54.4).
dt. trong Trời đất. (Bảo kính 182.5).
dt. vị trí, địa vị. x. đổi đất.
đất con ong 坦昆螉
dt. đất xấu, ít màu, có nhiều cục vón và lỗ trông như tổ ong. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1). cn đá ong.
đất dư 坦餘
dt. khoảng đất trống, dịch chữ dư địa (餘地), “đất chưa canh tác” [PL 2012: 327]. Tư Mã Quang đời Tống có câu: “mái tranh che mưa gió, chật hẹp chăng khoảng thừa” (茅茨庇風雨,偏隘無餘地). Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công, đất dư xảy được bạn cùng thông. (Cam đường 245.2).
đầu 頭
dt. đồng nghĩa với trốc. Chân chăng lọt đến cửa vương hầu, ấy tuổi nào thay đã bạc đầu. (Mạn thuật 30.2) ‖ (Mạn thuật 31.5, 36.5) ‖ (Trần tình 40.2) ‖ (Tự thán 75.7, 101.5) ‖, x. Cá nghìn đầu. (Bảo kính 154.4) ‖ Trốc đầu. (Bảo kính 159.8)‖ (Tích cảnh thi 202.3, 203.3).
dt. (bóng) trỏ ở trên, trong tương quan với người trưởng thượng. Trong mắt những mừng ơn bậu bạn, trên đầu luống đội đức triều đình. (Tự thán 99.4).
dt. trỏ phía ngoài cùng của một không gian. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.5).
dt. phía trên cùng cao nhất của sự vật. (Ngôn chí 19.3)‖ Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực, dòng nước Liêm Khê lục nữa tràm. (Tự thán 97.5).
dt. <từ cổ> (loại từ) cây. Con cháu mựa hiềm song viết tiện, nghìn đầu cam quýt ấy là tôi. (Ngôn chí 13.8), dịch từ chữ thiên đầu quýt.
đầy 苔
◎ Ss đối ứng tɤj, dɤj (26 thổ ngữ Mường), lăm (3 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 211].
tt. đầy đặn. Hay văn hay vũ thì dùng đến, chẳng đã khôn ngay kháo đầy. (Mạn thuật 25.8) phản ý câu tục ngữ Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy. (Bảo kính 172.8, 171.4).
tt. choán hết không gian tích trữ. (Trần tình 41.1)‖ Hoa càng khoe tốt, tốt thì rã, nước chớ cho đầy, đầy ắt vơi. (Tự thán 85.6, 86.8)‖ (Bảo kính 155.5, 157.6)‖ (Nhạn trận 249.1).
tt. trỏ trạng thái nhiều. (Thuật hứng 69.5)‖ (Tự thán 78.4)‖ (Tự thuật 121.4)‖ Bấm trong nhàn nào thửa được, đầy song hoa nở, tiếng chim kêu. (Bảo kính 164.8, 177.1)‖ (Ba tiêu 236.2)‖ (Miêu 251.6).
đắm 酖
◎ Nôm: 󱸽 âm HHV. AHV: đam.
đgt. mê, say. Chẳng say, chẳng đắm là quân tử, người hiểm lòng thay, hãy xá ngờ! (Bảo kính 179.7), Ss câu “phàm lòng người gian hiểm hơn núi khe, còn khó hơn cả nhận thức trời” (凡人心險於山川,難於知天) trong sách Trang Tử thiên Liệt ngự khấu. x. đam.
đắn đo 旦都
đgt. <từ cổ>. Đo đạc, khác với nghĩa “tính toán, cân nhắc” trong tiếng Việt ngày nay. “đo, so đo” [Paulus của 1895: 265], “đắn đo: metiri, (iter, panum). Ad amussim facere” [Taberd 1838: 125]. Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt, chưa dễ bằng ai đắn mấy đo. (Ngôn chí 20.8)‖ Dợ nọ có dùi nào có đứt, cây kia toan đắn lại toan đo. (Bảo kính 176.4). Được thua cứ phép làm thằng mặc, cao thấp nài nhau tựa đắn đo. (Bảo kính 152.4).
đắng cay 䔲荄
tt. (vị giác) dịch chữ tân khổ, tân 辛 là cay, khổ 苦 là đắng. Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, tật được tiêu nhờ thuốc đắng cay. (Tự thuật 112.6).
tt. (cảm giác) khổ đau. Mùi thế đắng cay cùng mặn chát, ít nhiều đã vấy một hai phen. (Thuật hứng 46.7).
đến lẽ 典理
đgt. <từ cổ> suy đến cùng sự lý, xét đến hết lẽ, dịch chữ chí lý 至理. Được thì xem áng công danh dễ, đến lẽ hay cơ tạo hoá mầu. (Bảo kính 162.6).
đến tuổi 旦歲
tt. <từ cổ> có tuổi, luống tuổi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.3).
đỏ 朱
◎ Nôm: 堵 AHV: chu, âm HTC: tjug (Lý Phương Quế), tjo (Baxter, Phan Ngộ Vân, Trịnh Trương Thượng Phương). Đối ứng c- (AHV) ɗ- (THV): 舟 chu đò, 燭 chúc đuốc [NĐC Việt 2011: 10]. Ss đối ứng to⁴ (nguồn), to⁴ (Mường bi), to⁴ (Chứt), kusai (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 237].
dt. tt. màu son. Thệu lệu hiên còn phun thức đỏ, hồng liên đìa đã tịn mùi hương. (Bảo kính 170.3, 187.7), lòng đỏ dịch chữ đan tâm 丹心‖ Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ, rỡ tư mùa một thức xuân (Trường an hoa 246.3). cn hồng quần.
Đồng Giang 桐江
dt. tên sông, nơi ẩn sĩ Nghiêm Quang câu cá, trốn đời. Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến, Đồng Giang được nấn một đài câu. (Bảo kính 153.8). x. Nghiêm Quang, Tử Lăng, Phú Xuân.
độc 毒
dt. bọt tàn hại, ác độc. Độc còn cho từ HHVnọc, lưu tích nọc độc. Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, có nhân có trí có anh hùng (Bảo kính 132.5).
động 動
đgt. lay động. (Ngôn chí 5.3, 17.3)‖ Cội rễ bền dời chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3)‖ (Thái cầu 253.6).
tt. trái với tĩnh. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.4).
đgt. tình cảm dấy lên, trong xúc động. Trong khi hứng động bề đêm tuyết, ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.7)‖ (Tự thán 84.3)‖ (Tích cảnh thi 201.2)‖ Động lòng. (Cam đường 245.4)
đgt. vang. Nha tiêm tiếng động án Chu Dịch, thạch đỉnh hương tàn khói thuỷ trầm. (Tự thuật 119.5)
đới tục 帶俗
đgt. mang tục. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, chủ vô tâm ỷ khách vô tâm. (Ngôn chí 5.5). Tiền Vịnh trong bài bút ký Lý viên tùng thoại có câu: “nghèo hèn gần nhã, phú quý gần tục, trong nhã mà mang tục có thể đủ sống; trong tục mà mang nhã có thể xử thế.” (貧賤近雅,富貴近俗,雅中帶俗,可以資生,俗中帶雅,可以處世).
đỡ 助
◎ Zhù 助. Âm HTC: dzjowoc [Schuessler 2007: 629], dzrjagh (Lý Phương Quế), dzrjias (Baxter). AHV: trợ. Phiên khác: trợ (TVG, ĐDA, Schneider, BVN, VVK, MQL, NTN, PL). Nay đề xuất.
đgt. giúp. đỡ đánh: giúp đánh nhau (Bảo kính 149.4)‖ Hổ phách phục linh dìn mới biết, dành còn để đỡ dân này. (Tùng 220.4).
ưu ái 憂愛
đgt. HVVT lo và yêu. (Thuật hứng 50.7)‖ Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, tật được tiêu nhờ thuốc đắng cay. (Tự thuật 112.5)‖ (Tự thuật 115.6). x. âu.
ươn hèn 閑咹
◎ Phiên khác: an nhàn (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, PL). Nay theo MQL. Chữ “ươn” còn được viết bằng “胺” [Taberd 1838: 576; Paulus của 1895: 529]. Xét, chữ “ươn” vốn có nghĩa là “không tươi” thường dùng cho “thịt cá”.
tt. <từ cổ> nhún mình, chịu nhún, chịu nhường, chịu nhịn. “ươn mình: khó ở. Ươn tài: dở, hèn” [Paulus của 1895: 529], ngày nay có sắc thái tiêu cực. Ở thế ươn hèn chăng có sự, nghìn muôn tốn nhượng chớ đua tranh. (Bảo kính 136.8). Ý nói: ở trong cuộc sống phải biết nhún mình thì sẽ không có việc gì không hay xảy ra, muôn nghìn điều nhường nhịn nhau chớ có tranh giành. Ss một điều nhịn chín điều lành. Tng. hiểu như vậy sẽ hợp với ý tứ của toàn bài về sự “gương báu răn dè”. Còn phiên là “an nhàn” vừa không đúng về văn tự, vừa không hợp với ngữ cảnh, vì bài này không có câu nào nói về việc ở ẩn nhàn rỗi.
ương 秧
dt. mạ.
đgt. ươm cây, trồng cây. Hoàng Đình Kiên có câu: “mời khách chuyên trà quán núi xa, xem người cấy lúa gió trưa hoà” (唤客煎茶山店遠,看人秧稻午風凉 hoán khách tiên trà sơn điếm viễn, khán nhân ương đạo ngọ phong lương). (Ngôn chí 4.6)‖ (Thuật hứng 60.5)‖ Ao quan thả gưởi hai bè muống, đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.6)‖ (Thuật hứng 69.4).
ước 約
đgt. <từ cổ> muốn, định, lưu tích còn trong ước định, ước muốn, ước mong. đạm lạt, nùng nồng, ước mong, tưởng nhớ < 淡辣濃濃約蒙想𢘾 (Tam Thiên Tự: 39) (Ngôn chí 7.3, 14.8, 16.8)‖ (Mạn thuật 33.6)‖ (Trần tình 37.5, 41.6)‖ (Thuật hứng 53.3)‖ Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.8)‖ (Tự thán 77.8, 88.5, 107.7, 109.3)‖ Đai lân bùa hổ lòng chăng ước. (Tức sự 123.5)‖ (Bảo kính 177.2).
ấu 幼
dt. củ ấu. x. mấu ấu.
ủy khúc 委屈
đgt. <từ cổ> khúc mắc, ngoắt ngoéo. Lỗi thác sá toan nơi ủy khúc, hoà hưu thì khiến nõ tù mù. (Bảo kính 152.5).
sơ 初
p. <từ cổ> hơi, mới bắt đầu, ban đầu (thường đứng trước động từ). Am rợp chim kêu hoa xảy động, Song im hương tịn khói tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Trần tình 40.6)‖ (Bảo kính 137.5)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Giá 238.1).
quyên 涓
dt. dòng nước nhỏ. Khói trầm thuỷ quốc quyên phẳng, Nhạn triện hư không gió thâu. (Ngôn chí 14.5).
mùng 𡗐
◎ {cự 巨 + mộng 夢}. Kiểu tái lập: *kmuŋ2 > mùng (mùng tơi) [TT Dương 2012a].
dt. nói tắt của mùng tơi. Ao quan thả gưởi hai bè muống, Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.6).
kỳ 騏
dt. ngựa có vằn xanh vằn đen, thuộc loại ngựa tốt, thiên lý mã. Kỳ, ký, nô, thai đà có đấy, Kẻ dìn cho biết lại khôn thay! (Tự thuật 112.7).
đôi 對
◎ Nôm: 堆 AHV: đối. Tiếng Hán, “đối” là lượng từ trỏ những người hay sự vật đi làm cặp với nhau. Ví dụ “họ là một cặp trời sinh” (他們是天生的一對), “hai cái chén” (一對杯子), “đôi bạn” (一對伙伴), “một đôi chim anh vũ” (一對鸚鵡). Đôi - lưỡng - song - nhị là các từ gốc Hán, hai là từ gốc Việt, cặp là từ gốc Pháp.
dt. hai, trong một đôi (một hai), đôi ba (hai ba). Phu phụ đạo thường chăng được trớ, Nối tông hoạ phải một đôi khi. (Giới sắc 190.8). Ruộng đôi ba khóm đất con ong, Đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1).
nhẫn 忍
tt. nỡ, làm việc bất thiện mà không mảy may lo sợ, không chút từ tâm. Dắng dỏi bên tai tiếng quản huyền, Lòng xuân nhẫn động ắt khôn thìn. (Tích cảnh thi 201.2).
động 洞
dt. hang lớn ăn vào núi hoặc lòng đất. Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, Bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.7).
lầm 淋
dt. <từ cổ> bùn, trong bụi lầm, trỏ bụi bặm nói chung. lầm = bùn (tư liệu điền dã tại Phù Đổng, Gia Lâm) [CK Lược 1980: 180], lầm than < 塗炭. Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm. (Ngôn chí 5.1).
thảo 草
dt. cỏ, làm bằng cỏ. Chặm tự nhiên một thảo am, Dầu lòng đi Bắc miễn về Nam. (Thuật hứng 64.1)
câu 句 / 勾
AHV: cú, cố.
dt. đơn vị cơ bản của lời nói, diễn đạt một thông tin lọn nghĩa, câu đọc theo âm Việt hoá của , lưu tích còn trong từ câu cú (câu = cú). (Ngôn chí 3.4)‖ Trong khi hứng động bề đêm tuyết, Ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.8, 5.5)‖ (Mạn thuật 23.5)‖ (Trần tình 43.2)‖ (Thuật hứng 58.6, 61.2)‖ (Tự thán 75.5, 76.7, 81.4, 84.3)‖ (Bảo kính 132.3, 160.8, 166.7, 178.3)‖ (Huấn nam tử 192.7)‖ (Thủy thiên 213.6).
tài 才
dt. tài năng. (Ngôn chí 6.1, 7.2), Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, Người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.5)‖ (Thuật hứng 61.5)‖ (Tự thán 89.1, 91.2, 92.6)‖ (Bảo kính 137.7, 160.5, 163.3, 183.3, 184.1, 187.2)‖ (Mai 214.7)‖ (Tùng 218.4, 219.1)‖ (Lão dung 239.3).
sao 牢
◎ Thanh phù này được dùng nhất quán từ thế kỷ XII đến thế kỷ XX. Từ thế kỷXII đến XV, có khả năng vẫn đọc với thủy âm kép, thêm nữa ngữ tố nảy chỉ xuất hiện 1 lần ở câu thơ bảy chữ và 3 lần ở các câu thơ sáu chữ. Kiểu tái lập: *krao¹ > sao (hư từ). [TT Dương 2013b].
đt. thế nào. Có thân thì cốc khá làm sao, Lảng bảng công hư, tuổi tác nào. (Thuật hứng 47.1)
p. cảm thán từ. Con lều mọn mọn đẹp sao, Trần thế chẳng cho bén mỗ hào. (Thuật hứng 52.1)‖ (Bảo kính 167.1).
phải 沛
tt. đúng. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2)‖ (Bảo kính 132.4, 149.2, 156.2, 165.7, 172.5, 173.7, 184.7).
đgt. <từ cổ> đúng là. Khó bền, mới phải người quân tử, Mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
đgt. cần, ở trong điều kiện không thể không làm, không thể khác. Cho về cho ở đều ơn chúa, Lọ phải xung xăng đến cửa quyền. (Thuật hứng 53.8, 57.2, 68.4)‖ (Bảo kính 131.8, 144.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4).