Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Liệt Tử
nghị khen 議𠸦
đgt. <từ cổ> chê và khen, bình phán và khen ngợi, sau đọc trại thành ngợi khen nhưng chỉ còn nghĩa “khen” mà đã rụng mất ý “bao biếm, chê”. Công danh đã được, hợp về nhàn, lành dữ âu chi thế nghị khen. (Thuật hứng 69.2). Xét, “nghị” là bình phẩm về cái ác, cái dữ, “khen” là khen cái lành, cái thiện.
quyền quyền 拳拳
◎ Phiên khác: cồn cồn: khư khư (BVN), cuồn cuồn (VVK). Nay theo TVG, ĐDA.
tt. <từ cổ> thiết tha, quyến luyến, cố giữ lấy [TVG, 1956: 104]. Lưu Hướng đời Hán trong liệt nữ truyện có câu: “quyến luyến như người thân” (拳拳若親). Sách Trung Dung có đoạn: “anh hồi làm người: một khi đã nắm được cái đạo Trung Dung, nắm được điều thiện thì thiết tha giữ trong lòng mà không có phút nào rời ra” (回之為人也,擇乎中庸,得一善,則拳拳服膺而弗失之矣). Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.1).
toàn ngọc 璇玉
dt. ngọc đẹp. Sách Tuân Tử thiên Phú ghi: “Toàn ngọc với dao châu, chẳng biết mà đeo vậy.” (琁玉瑶珠,不知佩也), sách Thuyết Văn rằng: “toàn là ngọc đỏ” (璇,赤玉). Lai láng lòng thơ ngâm chửa đủ, ngồi nâng toàn ngọc, triện còn hương. (Hoa mẫu đơn 233.4). Ví đoá mẫu đơn tươi đẹp đáng quý như toàn ngọc.
tướng khanh 相卿
dt. dịch đảo từ chữ khanh tướng. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
án tuyết 案雪
dịch từ chữ tuyết án. Sách Tôn Thị Thế Lục ghi: “s đời Tấn thuở nhỏ nhà nghèo, thường nhờ ánh sáng của tuyết để đọc sách” (孫康家貧,常映雪讀書). Sau ông thi đỗ, làm quan đến Ngự sử đại phu. Lưu Khắc Trang đời Tống trong bài thơ Tặng Trần Khởi có câu: “Thềm mưa ngồi ngất quên xuân hết, án tuyết còn bàn đến nửa đêm.” (雨檐兀坐忘春去,雪案清談至夜分 vũ thiềm ngột toạ vong xuân khứ, tuyết án thanh đàm chí dạ phân). Án tuyết mười thu uổng đọc thư; kẻo còn loạt loạt chữ Tương Như. (Mạn thuật 36.1).
đào 淘 / 掏
◎ Ss đối ứng taw, daw (29 thổ ngữ Mường), ca³ (1 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 209]. Như vậy, “đào” gốc Hán, là từ hán Việt-Mường; “cã” gốc Mường.
đgt. dịch chữ tạc trong tạc tỉnh canh điền. Mạnh Nguyên Lão đời Tống trong tác phẩm đông kinh mộng hoa lục ghi: “Mỗi độ vào xuân, quan sai các Đại phu giám sát việc đào hào ngoài thành” (每遇春时官差大夫监淘在城渠). Nước đào giếng, cơm cày ruộng, thảy thảy dường bằng nguyệt cửu giang. (Bảo kính 129.7). x. tạc tỉnh canh điền.
ưa 於
đgt. thích, mến. Đến trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.2)‖ Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc. (Tự thán 86.3)‖ Chép hết bao nhiêu sự thế ưa. (Bảo kính 179.1)‖ (Trúc thi 221.2)‖ (Mai thi 224.2). đng mến, yêu, dấu, thương.