Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry HVVD
ban 班
◎ “ban” chữ chỉ sự, giữa là bộ đao, hai bên là hai chữ ngọc, xưa cắt đôi miếng ngọc để hai bên cùng làm tin, như “cắt ngọc thuỵ để ban cho các vua chư hầu” (班瑞于群后) [Kinh Thư - thuấn điển]. Sau phái sinh sang nghĩa “ngôi, thứ, hàng, chỗ bách quan tụ hội chia ra từng ban để phân biệt trên dưới”, tiếng Việt còn có lưu tích như lưu ban (đúp lớp), đồng ban (cùng hàng), ban ngành, ban bộ, ban bệ. Từ nghĩa không gian, “ban” mở rộng sang nghĩa thời gian trỏ các “lớp thời gian được phân tách theo tri nhận của người bản ngữ”, ví dụ “ban” là khoảng thời gian được chia theo ca làm việc, như giao ban, ban ca, tiếng Hán có các cụm 三班倒;上夜班 (quãng đầu nửa đêm). “ban: c.n. hàng, sọc, phiên, thứ, đương lúc. Ban sơ: hồi đầu hết, trước hết. Ban đầu. id. ban ngày. Ban đêm. Ban mai. Ban hôm: buổi tối. Ban chiều. Ban trưa. Ban tối. [Paulus của 1895: 28].
dt. <từ cổ> buổi, khoảng thời gian nào đó trong ngày hoặc đêm. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.8)‖ Giữa giáp canh ban trống ba. (Hồng Đức QATT b.42)‖ Những khi bóng ác ban (đào duy từ- Tư Dung Vãn, c. 143).
dt. HVVD <từ cổ> khi, lúc, đứng trước tính từ, trỏ quãng thời gian nào đó của đời người. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.3)‖ Thương ôi tuổi tác kẻ ban già. (Bạch Vân Am b.93)‖ Đặng tuấn thế đã ban nghèo. (TNNL c. 2055).
bão 暴
◎ Nôm: 雹 AHV: bạo. bão: nói tắt từ chữ bạo phong 暴風 mà âm Việt hoá là bão bùng. 風 *pjuwng [Baxter 1992: 185]. Ss đối ứng paw, baw (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 175].
dt. hiện tượng gió xoáy giật và mưa lớn. Sách Lễ Ký có câu: “[tháng mạnh đông] thi hành lệnh nhà Hạ, thì nước có nhiều gió bão, đương khi ấy mùa đông mà không lạnh, côn trùng lại sinh sôi” ([孟冬之月]行夏令,則國多暴風,方冬不寒,蟄虫復出). Khi bão mới hay là cỏ cứng, khuở nghèo thì biết có tôi lành. (Bảo kính 131.5)‖ Đường Thái Tông trong bài đề từ cho các công thần trong lăng yên các có câu ngự tứ cho tống tiêu vũ như sau: “gió gấp hay cỏ cứng, loạn lạc biết hiền thần” (疾風知勁草,板蕩識誠臣 tật phong tri kính thảo, bản đãng thức thành thần).
bảng xuân 榜春
dt. dịch chữ xuân bảng 春榜 (bảng nêu tên những người trúng thức vào đợt xuân thí). Âu Dương Tu trong bài có câu: “bảng xuân nắng chiếu áo xanh, khóc nay tóc trắng đã thành cố nhân” (青衫日照誇春牓,白首餘年哭故人 thanh san nhật chiếu khoa xuân bảng, bạch thủ dư niên khốc cố nhân). Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, so tam hữu chẳng bằng mày. (Mai thi 226.3). ở đây tác giả chơi chữ, bảng xuân được tác giả dùng theo nghĩa gốc là cái bảng nêu danh của mùa xuân, ý nói hoa mai chiếm đầu bảng trong các loài cây, tuế hàn tam hữu cũng có chỗ chưa bằng.
bể triều quan 𣷭朝官
dt. dịch chữ hoạn hải 宦海 (bể hoạn), trỏ chốn quan trường nhiều chông gai bất trắc không lường trước được cũng giống như sóng gió trên biển, nên còn gọi là hoạn hải ba đào. Lục Du trong bài Tạ tiền tham chính khải có câu: “trường danh lặn lội, bao người tóc trắng ấy công toi; bể hoạn phiêu lưu, ngắm kẻ áo xanh mà cười mỉm” (名塲蹭蹬,幾白首以無成;宦海漂流,顧青衫而自笑 danh tràng tăng đắng, kỷ bạch đầu dĩ vô thành; hoạn hải phiêu lưu, cố thanh sam nhi tự tiếu). Thấy bể triều quan đà ngại vượt, trong dòng phẳng có phong ba. (Bảo kính 168.7).
ca 歌 / 󰞻
đgt. hát. Trong khi hứng động bề đêm tuyết, ngâm được câu thần dắng dắng ca. (Ngôn chí 4.8)‖ (Thuật hứng 65.4)‖ (Tự thán 96.6).
chen chúc 𢷆木
AHV: chiên mộc. “mộc” và “chúc” chỉ có tương ứng khuôn vần, không có mối liên hệ tương ứng về thuỷ âm. Xét, đây là hiện tượng đồng hoá xuôi trong cách đọc chữ Nôm dưới áp lực của khuôn “uc” hoá trong hình thái láy. chen chóc (TVG, ĐDA).
đgt. bon chen, xô lấn nhau, “chen n. xen vào, nhét vào. Chen chúc id” [Paulus của 1895 t1: 130]. Được thua phú quý dầu thiên mệnh, chen chúc làm chi cho nhọc nhằn. (Mạn thuật 27.8).
chiều 朝
dt. <từ cổ> buổi, đứng trước các từ thời gian như mai (sáng), hôm (chiều), xuân. Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, trông thế giới phút chim bay. (Mạn thuật 26.1)‖ (Trúc thi 221.1)‖ Chiều mai nở chiều hôm rụng, sự lạ cho hay tuyệt sắc không. (Mộc cận 237.3). “chieu hom” [Morrone 1838: 219]. Ban đầu ,chiều là từ trỏ không gian “chìu: chỗ uất khúc vạy vò” [Paulus của 1895: 145], như Thng ruột đau chín chiều dịch từ câu “tràng nhất nhật nhi cửu hồi” của Tư Mã Thiên, sau mới chuyển sang nghĩa phái sinh thứ hai là “hướng chuyển động” như chiều hướng [An Chi 2005 t1: 38] và trỏ thời gian.
Chu 周
dt. <Nho> tức Chu Công 周公 tên là Cơ Đán 姬旦, là con của Chu Văn Vương 周文王, là em của chu Vũ Vương, từng giúp Vũ Vương triệu tạo nhà Chu, và từng phụ chính cho Chu Thành Vương sau này. Ông là bậc trọng thần thời Chu sơ, là thuỷ tổ của nước Lỗ. Chế độ lễ nhạc nhà Chu là đều do ông chế định, ông là biểu tượng cho lễ giáo tư văn thời cổ, là người Khổng Tử ngưỡng vọng hay mơ đến. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào, Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng, Chu. (Ngôn chí 15.4).
chén tử hà 盞紫霞
◎ Nôm: 󱋓紫霞
dt. loại chén quý có màu tía (tử) như ráng mây (). Ngon mùi đạo phiến hoàng quyển, rửa lòng sầu chén tử hà. (Tự thuật 114.6).
chỉ 紙
dt. sợi nhỏ dùng để khâu. Vì ai cho cái đỗ quyên kêu, tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.2).
coong coong 工工
◎ Phiên khác: cong cong (ĐDA), công công (MQL), côông côông (PL). Nay theo TVG, VVK.
tt. từ tượng thanh trỏ tiếng các vật thể kim loại hình tròn khum, tạo nên những vòng sóng âm loe. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.8).
các 各
◎ Ss đối ứng: các (Tày) [HTA 2003: 48], bại [HV Ma 1984: 66].
đt. từng, mỗi, đều, mỗi một cá thể đều, ai nấy đều, mỗi nơi đều. Thương Chu bạn cũ, các chưa đôi, sá lánh thân nhàn, khuở việc rồi. (Ngôn chí 2.1)‖ (Tự thán 101.2). Mưa chăng lệ, nắng nào âu, các cứ làm, nên nón đội đầu. HĐQA‖ Thì để đất hoan châu, ái châu các một hòm至今存每餘則歡愛各一凾. Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục.
cơm 粓
◎ Nôm: 𩚵 Đồng nguyên với cám, cốm. Ss đối ứng kɤm (6 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 202].
dt. thức ăn do gạo nấu chín. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ (Ngôn chí 8.8)‖ Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.5, 18.4)‖ (Trần tình 39.3)‖ (Thuật hứng 67.5)‖ (Tự thán 90.7)‖ (Bảo kính 129.7, 140.3, 141.4, 173.5, 186.7)‖ (Huấn Nam Tử 192.6).
cạn 乾
◎ Nôm: 𣴓 AHV: can. Âm cạn là âm PHV. Đồng nguyên với chữ hạn 旱, lưu tích âm này còn thấy trong thanh phù can 干. 旱 và 乾 là các đồng nguyên tự, lần lượt được tái lập là: kan , *kân và ganᴮ, *gân? [Schuessler 1988: 249]. Chuỗi đồng nguyên: hạn - khan - khàn - cạn. Ss đối ứng: kan (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
tt. nông (do rút bớt lượng nước). Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5)‖ (Thuật hứng 69.3)‖ (Tự thán 109.3)‖ (Bảo kính 153.5).
gác 擱
◎ Nôm: 閣 Ss với đối ứng: các (Tày) [HTA 2003: 47-48], cac, pạt [HV Ma 1984: 176]. AHV: các.
đgt. để, đặt, dừng, như gác bút, gác kiếm. Nguyễn Trãi có câu: “bến câu cá lạnh, chèo gác bãi” (釣渚魚寒棹擱沙 điếu chử ngư hàn trạo các sa). Đạp áng mây, ôm bó củi, ngồi bên suối, gác cần câu. (Trần tình 41.4).
gấm 錦
◎ Đọc âm HHV. AHV: cẩm. Xuất hiện trong câu thơ có sáu chữ. Kiểu tái lập: *?gam⁵. gấm (*?g-) chuẩn đối với mây (*km-), dưa (*kd-).
dt. lụa vải thêu hoa văn đẹp (Thuật hứng 56.6, 67.6)‖ Muối miễn dưa dầu đủ bữa, thao cùng gấm mặc chưng đời. (Tự thán 104.4).
hay chưa 咍渚
ht. nghi vấn từ, hỏi đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Chép hết bao nhiêu sự thế ưa, ai ai đà biết được hay chưa? (Bảo kính 179.2).
hiểm 險
tt. nguy, khó vượt qua. Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết, ghê thay thế nước vị qua mềm. (Tự thuật 115.7). Ss Trang Tử thiên Liệt ngự khấu có câu: “Khổng Tử rằng: ‘thường thì, lòng người hiểm hơn núi sông, còn khó hơn cả biết trời’” (孔子曰:凡人心險於山川,難於知天)‖ (Bảo kính 150.4)‖ (Tự thán 73.1). đng nghèo.
tt. khó lường, nham hiểm, hay hại người. Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, bui một lòng người cực hiểm thay. (Mạn thuật 26.8)‖ (Tự thuật 112.1)‖ (Bảo kính 179.8).
hài 鞋
◎ Tày: hái [HTA 2003: 196].
dt. giày, giày là âm THV của hài [Alves 2009: 625]. (Ngôn chí 12.8)‖ Miệt bả hài gai khăn gốc, xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân. (Mạn thuật 33.7)‖ (Tức sự 126.5).
hận 恨
◎ Sách Thuyết Văn ghi: hận: oán cực độ” (一曰怨之極也). Còn có nghĩa nữa là “hối hận.
tt. hờn. Chớ đua huyết khí nên hận, làm trật lòng người những lo. (Bảo kính 176.5).
linh đài 靈台
dt. cõi lòng. Sách Trang Tử thiên Canh tang sở ghi: “Không thể giấu kín trong lòng.” (不可内于靈台 bất khả nội vu linh đài). Vua Đường Đức Tông từng khen tể tướng Bùi Bộ rằng: “thân ngươi không cao, dáng ngươi không oai, ấy thế lại vừa tướng văn, vừa tướng võ, linh đài nhà ngươi không bút nào tả được” (一點靈台丹清莫狀 nhất điểm linh đài thanh đan mạc trạng) Am quạnh thiêu hương đọc “ngũ canh”, linh đài sạch một dường thanh. (Mạn thuật 31.2).
lão dung 老榕
dt. cây đa cổ thụ, tên bài số 239.
lòng người tựa mặt 𢚸𠊚似𩈘
đc. Thng nhân tâm như diện 人心如面. Tả Truyện có câu: “Lòng người khác nhau, như mặt mỗi người vậy.” (人心不同如其面焉 nhân tâm chi bất đồng như kỳ diện yên). Lòng người tựa mặt ai ai khác, sự thế bằng cờ, bước bước nghèo. (Mạn thuật 32.5).
lưng 𦝄
◎ Ss đối ứng lɣŋ (4 thổ ngữ), lɯŋ (18 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 236].
dt. cái lưng. (Ngôn chí 15.2)‖ Con mắt hoà xanh đầu dễ bạc; lưng khôn uốn lộc nên từ. (Mạn thuật 36.6), lấy ý từ câu nói của Đào Tiềm, bất vị ngũ đẩu mễ nhi chiết yêu (chẳng vì năm đấu gạo mà khom lưng đi làm quan). Đào Tiềm trong bài Cảm sĩ bất ngộ phú viết: “Thà cố cùng để giữ chí, chớ khom lưng mà luỵ thân.” (寧固窮以濟意,不委曲而累己 ninh cố cùng dĩ tế ý, bất ủy khúc nhi luỵ kỷ). Mạc Đĩnh Chi trong bài Quá bành trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư có câu: “Đấu gạo khá khom lưng? cởi ấn thà bỏ lộc.” (斗米肯折腰, 解印寧辭祿 Đẩu mễ khẳng chiết yêu, Giải ấn ninh từ lộc).
mùa 務
◎ Đọc âm THV. Ss đối ứng muə (29 thổ ngữ ) [NV Tài 2005: 243].
dt. quãng thời gian được chia theo từng kỳ nhỏ trong một năm có thể ứng với một vụ cày cấy gieo trồng, mùa: đọc theo âm THV. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Tự thán 81.2)‖ (Tức sự 124.4)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.3)‖ (Mai 214.1)‖ (Trường an hoa 246.4).
Nghiêm Quang 嚴光
dt. (? - ?), vốn mang họ Trang, người đời sau vì kỵ huý vua Hán Minh Đế Lưu Trang mà cải họ, lại có tên là Tôn, tự là Tử Lăng , người Dư Diêu. Ông là người cùng học với Lưu Tú. Đời Đông Hán niên hiệu Kiến Vũ thứ nhất (25), Lưu Tú lên ngôi, tức Quang Vũ Đế, Nghiêm Quang bèn đổi họ đi ở ẩn ở bờ sông Phú Xuân (Đồng Lô, Hàng Châu, Chiết Giang), ngày ngày buông câu trên bờ, sau chỗ này gọi là nghiêm Tử Lăng điếu đài (đài câu Tử Lăng). Lưu Tú nhớ bạn hiền thuở xưa, sai người vẽ hình Tử Lăng cho tìm khắp thiên hạ, khi được tin liền sai sứ gióng xe ba lần vời về kinh đô Lạc Dương. Khi ấy có người quen cũ là hầu bá đang lĩnh chức tư đồ, sai người đến hỏi thăm, quang nói rằng: “Lòng nhân bỏ nghĩa thiên hạ vui, a dua theo chỉ thì sớm chết.” (懷仁輔義天下悦,阿諛順旨要領絕 hoài nhân phụ nghĩa thiên hạ duyệt, a du thuận chỉ yếu lĩnh tuyệt). Đến khi Lưu Tú đích thân tới thăm, Nghiêm Quang nằm không thèm dậy, vua bèn vỗ vào bụng nói, chà Tử Lăng, vì sao chẳng ra giúp ta? Tử Lăng hồi lâu mới giương mắt nhìn rồi đáp, kẻ sĩ vốn có chí, việc gì mà đến bức nhau thế? Lưu Tú đành lên xe về. Sau Quang Vũ Đế lại vời quang vào cung nói chuyện cũ, nằm chơi nói chuyện với nhau cả đêm. Tương truyền quang còn gác cả chân lên bụng vua. Vua định trao chức gián nghị Đại phu, nhưng Nghiêm Quang không chịu, lại về núi Phú Xuân cày cấy câu cá. Sau lại chuyển về quê, thọ tám mươi tuổi. Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến, Đồng Giang được nấn một đài câu. (Bảo kính 153.7). x. Tử Lăng.
nhắn nhủ 認󱸺
đgt. gửi lời khuyên. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
no nao 奴󰅹
◎ Phiên khác: nọ nào (TVG, ĐDA).
dt. <từ cổ> no: khi; nao: nào. no ấy: khi ấy. no ấy, Bụt hầu đem đại chúng đi chính nam, thấy một đống xương khô, Bụt mới lạy năm thể đến đất, tạ lễ xương khô ấy. (Phật Thuyết: 6b9). “no nao: chớ chi, chừng nào” [Paulus của 1895: 764]. No nao biết được lòng tri kỉ, vạnh non tây nguyệt một vầng. (Bảo kính 161.8)‖ Loạn li lại cách nước non, no nao bóng nguyệt lại tròn như xưa (Thiên Nam Ngữ Lục, c. 979)‖ no nao ai tát bể sầu, kẻo còn dưới gác trên lầu luống trông (Chinh Phụ Ngâm, c. 123-124).
non 𡽫
◎ Ss đối ứng nɔn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 255]. An Chi cho nguyên từ là 巒 loan. Tồn nghi.
dt. núi. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 23.3, 26.3)‖ (Thuật hứng 46.3, 49.6, 51.1, 54.3, 59.8, 60.8, 65.1)‖ (Tự thán 71.7, 72.1, 81.5, 97.5, 98.1, 108.5)‖ (Tự thuật 121.3)‖ (Bảo kính 153.3, 169.3, 181.3)‖ (Huấn Nam Tử 192.8)‖ (Lão hạc 248.4).
non Bồng 𡽫蓬
dt. tức Bồng đảo, cảnh tiên. Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.8). Núi sông thiếu gì nơi vắng vẻ, cảnh thanh tĩnh cũng đủ rồi, cứ chi phải là nơi Bồng đảo.
núi non 𡶀𡽫
dt. núi nói chung. Tay ai thì lại làm nuôi miệng, làm biếng ngồi ăn lở núi non. (Bảo kính 149.8).
phai 派
đgt. bợt màu. (Bảo kính 147.7)‖ Toan kể chỉn còn ba tháng nữa, gặp xuân mựa để má đào phai. (Đào hoa thi 230.4, 231.1).
pheo 笣
◎ Phiên cũ: vầu. Tất cả các bản phiên trước từ ĐDA (1976) đến TTD (2014), NQH (2014) đều phiên là “vầu”. Nay theo đề xuất của Nguyễn Vinh Quang, rằng chữ Nôm 棹 mà các vị tiền bối đọc là “ chèo ” thì nên đọc là giậu (hàng rào ). Chữ Nôm 笣 mà các vị tiền bối đọc nôm là vầu , nên đọc là pheo (tre) , âm Hán Việt của nó là bao , không phải là {trúc竹 + bao 包} như các tác giả VVH và Nguyễn Quang Hồng đã nghĩ. Khang Hy từ điển dẫn Tập Vận cho chú âm của nó là bao : 《集韻》班交切,音包. Như vậy , nguyên câu chữ Nôm 笣滥棹竹滥茹 , nên đọc ra nôm là : “ Pheo làm giậu , trúc làm nhà ”. Cái nhà đi kèm với (rào) giậu làm bằng pheo ( tre ) thì câu thơ nôm đẹp đẽ biết là bao. (nvq 2016) vầu là loại tre ống to, đốt dài, mọc ở miền núi, ngoài bắc có thấy trong cái bè người ta đóng chở về miền xuôi. Thế kỷ 17, tiếng Việt chưa có “vầu”, vì phụ âm đầu v- đến thời a.d.Rhodes mới định hình được một nửa. Trước đó hai thế kỷ thì lại càng khó có, nên việc bác cách đọc “vầu” ở quốc âm thi tập là có lý [Phan Anh Dũng 2018]. 笣 có một dạng âm cổ phục nguyên là *bao, theo Tập Vận là tên một loại tre, ở lệ phổ (cách quế lâm 100 cây số về hướng nam - khu vực tre trúc phát triển tốt của nam Việt / Lĩnh Nam), có thể đây là kí âm của pheo (“tre pheo”, Việt Bồ La có ghi) theo khuynh hướng b > ph, a ~ e và bình thanh [Nguyễn Cung Thông 2018]. Về Từ Nguyên của “笣”, tiếng Hán thì ghi đó là một loại tre trúc. Ngờ rằng đây là ngữ tố mà tiếng Hán mượn từ Tày Thái. (TTD 2016).
dt. một loại tre, lưu tích còn trong tre pheo. Pheo làm tráu, trúc làm nhà, được thú vui ngày tháng qua. (Trần tình 39.1). am mây cửa khép một cần pheo. (trạng trình- 87a)
phất 拂
đgt. bay nhẹ theo, huơ nhẹ theo. Đàn trầm đạn ngọc sao bắc, phất dõi cờ lau gió tây. (Nhạn trận 249.4).
phủ 󱸶 / 撫
đgt. che, lấp lên. (Thuật hứng 51.6)‖ Thu im cửa trúc mây phủ, xuân tịnh đường hoa gấm phong. (Thuật hứng 56.5).
qua 過
◎ Nôm: 戈 AHV: quá.
đgt. di chuyển từ bên này sang bên kia. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3)‖ (Thuật hứng 51.5)‖ (Tự thán 77.3, 87.3, 92.4)‖ (Thái cầu 253.5).
đgt. (thời gian) trôi đi. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.1)‖ (Trần tình 39.2, 42.2)‖ (Tự thán 71.3, 85.3, 94.1, 96.7)‖ (Tức sự 124.4)‖ (Bảo kính 168.4, 177.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.8)‖ (Giới nộ 191.8)‖ (Tích cảnh thi 202.1, 205.2)‖ (Đào hoa thi 231.1)‖ (Hoè 244.2).
đgt. sống cho hết một quãng thời gian nào đó. Miễn là tiêu sái qua ngày tháng, lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu. (Mạn thuật 24.7, 33.3)‖ (Thuật hứng 46.4, 55.7, 59.3, 67.2)‖ (Tự thán 78.7, 98.7, 99.2, 105.1)‖ (Tự thuật 112.4, 119.7)‖ (Bảo kính 133.8, 143.5, 146.2).
tt. từ biểu thị trạng thái bao trùm hết lên phía trên vật từ bên này sang tận bên kia. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5).
đgt. đi đến một nơi nào đó. Qua đòi cảnh, chép câu đòi cảnh, nhàn một ngày, nên quyển một ngày. (Tự thán 75.5)‖ (Đào hoa thi 229.1).
tt. đgt. bỏ qua, vuột đi mất. “chẳng nhàn” xưa chép lời truyền bảo, khiến chử cho qua một đạo thường. (Bảo kính 128.8).
đgt. (thời gian đã) thuộc về quá khứ. Thuốc tiên thường phục tử hà xa, Bồng đảo khôn tìm ngày tháng qua. (Tự thuật 118.2).
tt. <từ cổ> quá, lắm, rất. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5)‖ Thế nước vị qua mềm. (Tự thuật 115.8).
tt. <từ cổ> hơn. Nhiều của ấy chăng qua chữ nghĩa, dưỡng người cho kẻo nhọc chân tay. (Bảo kính 146.5, 171.4), Già mặc số trời đất, dấu ai qua vợ con. (Bảo kính 182.6, 183.1).
ruồi 𧋆
◎ So sánh với các đối ứng hruồi, huồi, ruồi (Mường) [NT Cẩn 1997: 126]. So sánh với các đối ứng mơrôoj² và pơrôoj² trong tiếng Rục [NV Lợi 1993: 155], raroi trong tiếng Katu [NH Hoành 1998: 297]. Kiểu tái lập: *hroi¹> ruồi. [TT Dương 2013b].
dt. côn trùng có cánh. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.4).
rưới 灑
AHV: sái. HHV: rảy [NN San 2003b: 178]. Các cặp gốc Hán tương ứng: rầu ~ sầu, rây ~ , rưới ~ rảy ~ sái.
đgt. tưới, rảy. Mưa thu rưới ba đường cúc, gió xuân đưa một rãnh lan. (Ngôn chí 17.5).
rượu 酒
◎ Nôm: 𨢇 / 󱶊 Đọc âm THV. AHV: tửu. Kiểu tái lập: oc *r- , đồng nguyên với 醪, âm HTC là *ru. [Schuesssler 2007: 321]. Tương ứng r- t: râu ~ tu ~ tua 鬚, rể ~ tế 婿, rửa ~ tả 瀉, rượu ~ tửu 酒. [NN San 2003: 79]. Ss đối ứng: raw4 (muốt), haw4 (nà bái), raw4 (chỏi), raw- (khẻn) PJ Duong 2012: 10].
dt. thức uống làm từ men gạo. (Ngôn chí 9.1)‖ (Mạn thuật 31.8)‖ Con cờ khảy, rượu đầy bầu, đòi nước non chơi quản dầu. (Trần tình 41.1, 43.1)‖ (Thuật hứng 61.2)‖ (Tự thán 76.5, 80.6, 86.8, 110.7)‖ (Tự thuật 121.4)‖ (Bảo kính 153.5) rượu đục. Ss Giang Yêm trong bài Đào trưng thi có câu: “Tuy rằng cày cuốc mỏi, rượu đục đà tự thích.” (雖有荷鋤倦,濁酒聊自適 tuy hữu hạ sừ quyện, trọc tửu liêu tự thích)‖ (Bảo kính 178.6, 186.7)‖ Túi đã không tiền, khôn chác rượu, vườn tuy có cúc, chửa đâm hoa. (Quy Côn Sơn 189.3). Uống rượu đánh bài. (Phật Thuyết 20b). Người thơ khách rượu rộn mời. (Hồng Đức 3a). Hết cơm hết rượu hết ông tôi. (Bạch Vân Am 16a). hảo tửu: rượu cực ngon nồng (CNNA 16a).
rảng rảng 浪浪
AHV: lãng lãng. Phiên khác: dăng dẳng (TVG, BVN); lừng lựng: có ý là từ không mà bày đặt ra, ví dụ nói lừng lựng cho người ta. Câu này ý là: chính là chuông mà người ta dựng đứng lên nói rằng đó là đá (ĐDA); lừng lửng (VVK). Nay theo Schneider.
tt. <từ cổ> “rảng: tiếng đồ đồng thau, đồ cứng khua động mà nghe thanh. rảng rảng: tiếng kêu thanh mà ròn (như lạc ngựa)” [Paulus của 1895: 861]. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.7).
rập khuôn 立囷
đgt. làm theo khuôn có sẵn, thuật ngữ từ ngành đúc đồng. Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều thì rập khuôn. (Bảo kính 148.2).
rắp 立
◎ âm THV của lập. Âm HTC: c-rjəp (Baxter). Lưu tích còn thấy trong cặp lập tâm 立心= rắp tâm.
đgt. HVVD định, toan. Rắp tới, đã chăng hay chốn tới; hầu đi, lại chửa biết đường đi. (Tự thán 100.5)‖ (Bảo kính 151.4).
thiên công 天工
dt. thợ trời, tạo hoá. Chân chạy, cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.8).
thèm thuồng 𩝎慵
◎ Ss đối ứng sεm (Mường, Thổ, Mày, Rục, Thà Vựng) [TT dõi 1996: 266]. Thanh phù sàm là gợi ý cho việc tái lập thuỷ âm: sèm suồng.
đgt. thèm lắm. La ỷ lấy đâu chăng lưới thưới, hùng ngư khôn kiếm phải thèm thuồng. (Thuật hứng 68.4).
thông đòi 通隊
đgt. <từ cổ> hiểu theo. Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách, đam dân mựa nỡ trật lòng dân. (Bảo kính 184.5).
thợ 署
dt. người có tay nghề. Nên thợ nên sày vì có học, no ăn no mặc bởi hay làm. (Bảo kính 173.3).
trường đào mận 場桃李
dt. chốn quan trường. Đến Trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.1). x. đào mận, đào lý, cửa mận tường đào.
tôi lành 碎冷
dt. hiền thần. Khi bão mới hay là cỏ cứng, khuở nghèo thì biết có tôi lành. (Bảo kính 131.6).
tửu binh 酒兵
dt. rượu. Tô Thức có câu: “Các ngài văn luật trùm tây kinh, lại dựng thi đàn dựa tửu binh.” (君家文律冠西京,旋筑詩壇按酒兵 quân gia văn luật quán tây kinh, toàn trúc thi đàn án tửu binh). Tào Dần trong bài Bắc hành tạp thi viết: “quanh mâm khách giang hồ, theo ai mượn tửu binh?” (满坐滄浪客,從誰借酒兵?mãn toạ Thương Lang khách, tòng thuỳ tá tửu binh?). Miệng khiến tửu binh pha luỹ khúc, mình làm thi tướng đánh đàn tao. (Tự thán 89.3).
vần chuyển 運轉
đgt. xoay vòng, đắp đổi. Lấy khi phú quý đắp cơ hàn, vần chuyển chăng dừng sự thế gian. (Bảo kính 133.2).
điếc 的
◎ Ss đối ứng tiək, diək (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 213].
tt. không còn nghe được. Sự thế dữ lành ai hỏi đến, bảo rằng ông đã điếc hai tai. (Ngôn chí 6.8). x. đắng.
điểm 點
dt. đồng nguyên với chấm, đốm. Tác ngâm song có mai và điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.3)‖ Lại có hoè hoa chen bóng lục, thức xuân một điểm não lòng nhau. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4)‖ (Trường an hoa 246.3)‖ (Trư 252.4).
đgt. chấm vài hạt. Tuyết sóc treo, cây điểm phấn, quỹ đông dãi, nguyệt in câu. (Ngôn chí 14.3)‖ Đình Thấu Ngọc tiên sanh tuyết nhũ, song mai hoa điểm quyển Hy Kinh. (Tự thán 107.4).
đuổi 追
◎ Nôm: 𧻐 AHV: truy. (ţwi) LH ţui OCM *trui [Schuessler 2007: 630]. Xét chữ “truy” có âm phiên thiết là “đôi”, làm thanh phù cho các chữ có âm đôi như 磓 (ném đá), 䭔 (các loại bánh) [x. NN San 2003b: 167]. Các sách Tập Vận, vận hội ghi âm phiên thiết: “đô lôi thiết, âm đôi” (都雷切,音堆). Ss đối ứng tuəj, duəj (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 217]. Như vậy, đây là từ hán Việt-Mường.
đgt. rượt theo, truy nã. Làm người mựa cậy khi quyền thế, có khuở bàn cờ tốt đuổi xe. (Trần tình 44.8).
đành 停
◎ Phiên khác: rành (BVN). Nay theo MQL.
đgt. thông tỏ [NQH 2006: 933], sáng rõ, lưu tích còn trong từ đành rành của thế kỷ XVII. “đành rành: clarè” [Taberd 1838: 420]. Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2).
Đát Kỷ 妲己
dt. thiếp của vua Trụ. Trụ mê say Đát Kỷ, làm nhiều điều bạo ngược. Vua Vũ Vương nhân cơ hội đó diệt Trụ. Trụ trật quốc gia vì Đát Kỷ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi. (Giới sắc 190.3). x. Trụ.
đại địa 大地
dt. <từ cổ> mặt đất. Đại địa dày, Nam Nhạc khoẻ, Cửu tiêu vắng, Bắc Thần cao. (Thuật hứng 66.3).
đẩy xe 底車
◎ Ss đối ứng của “đẩy”: tɤj, dɤj (20 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 212].
dt. lễ tiến cử, hay nhậm chức của tướng soái thời cổ. Sách Sử Ký phần Trương thích chi - phùng đường liệt truyện ghi: “Thần từng nghe, vua thời thượng cổ khi sai tướng, thì tướng quỳ mà đẩy xe, vua nói: ‘việc trong triều thì do quả nhân xử lý; việc ngoài triều thì do tướng quân xử trí. Các việc quân công tước thưởng đều quyết bên ngoài, khi nào về rồi hãy tâu cũng được.’” (臣聞上古王者之遣將也,跪而推轂,曰閫以內者,寡人制之;閫以外者,將軍制之。軍功爵賞皆決於外,歸而奏之后因以稱任命將師之禮).
đgt. <từ cổ> tiến cử, dịch chữ thôi cốc 推轂 (đẩy xe tiến lên). Sử Ký phần Nguỵ kỳ vũ an hầu liệt truyện ghi: “Nguỵ kỳ và vũ an đều mê Nho thuật, tiến cử triệu quan làm ngự sử Đại phu.” (魏其、武安俱好儒术,推轂趙綰為御史大夫). Dương tràng đường hiểm khúc co que, quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe. (Tự thán 73.2). ở đây có lẽ còn hàm ý khác.
đền 填 / 田
◎ Tày: tèn [HTA 2003: 502].
đgt. trong Đền đáp. (Ngôn chí 15.7)‖ Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5).
đỏ 朱
◎ Nôm: 堵 AHV: chu, âm HTC: tjug (Lý Phương Quế), tjo (Baxter, Phan Ngộ Vân, Trịnh Trương Thượng Phương). Đối ứng c- (AHV) ɗ- (THV): 舟 chu đò, 燭 chúc đuốc [NĐC Việt 2011: 10]. Ss đối ứng to⁴ (nguồn), to⁴ (Mường bi), to⁴ (Chứt), kusai (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 237].
dt. tt. màu son. Thệu lệu hiên còn phun thức đỏ, hồng liên đìa đã tịn mùi hương. (Bảo kính 170.3, 187.7), lòng đỏ dịch chữ đan tâm 丹心‖ Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ, rỡ tư mùa một thức xuân (Trường an hoa 246.3). cn hồng quần.
đục đục 濁濁
AHV: trọc trọc.
tt. HVVT <từ cổ> nhiều vẩn, nhiều cấn. Sau trại âm thành đùng đục và phái sinh theo nghĩa khác. Chớ người đục đục, chớ ta thanh, lấy phải thì trung, đạo ở kinh. (Bảo kính 156.1). x. chớ người đục đục.
sơ 初
p. <từ cổ> hơi, mới bắt đầu, ban đầu (thường đứng trước động từ). Am rợp chim kêu hoa xảy động, Song im hương tịn khói tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Trần tình 40.6)‖ (Bảo kính 137.5)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Giá 238.1).
nhẫn 忍
tt. nỡ, làm việc bất thiện mà không mảy may lo sợ, không chút từ tâm. Dắng dỏi bên tai tiếng quản huyền, Lòng xuân nhẫn động ắt khôn thìn. (Tích cảnh thi 201.2).
tích 癖
dt. <từ cổ> thói nghiện. Chơi nước chơi non đeo tích cũ, Qua ngày qua tháng, dưỡng thân nhàn. (Thuật hứng 46.3).
mất 沒
AHV: một. 末. Ss đối ứng văt3 (Muốt), bət3* (Nà bái), vət3/6 (Chỏi), bət4 (Khẻn) [PJ Duong 2012: 9].
đgt. HVVD. hỏng, sai.Nguyên chữ một nghĩa là chìm (Thuyết văn), rồi dẫn thân thành “hết” (Kinh thi), tiếng Việt chuyển nghĩa thành mai một (tiêu hao) và mất (chết, không còn). Người cười dại khó ta cam chịu, Đã kẻo lầm cầm miễn mất lề. (Bảo kính 141.8)‖ Bằng rồng nọ ai phen kịp, Mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8). phb. trật, thất.
vàng 黃
◎ Nôm: 黄, 鐄
dt. màu vàng. (Thuật hứng 49.8)‖ Tiền sen tích để bao nhiêu thúng, Vàng cúc đam cho biết mấy bình. (Tự thán 83.4): vàng cúc có ý nước đôi, vừa là màu vàng hoa cúc, vừa ý nói cái phẩm chất ưu trội của hoa cúc quý như vàng, chuẩn đối với chữ tiền sen‖ (Bảo kính 129.4, 157.6, 164.3).