Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Hàn Phi Tử
biện 辨
đgt. phân biệt, biện biệt. Trường văn nằm ngả mấy thu dư, uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư”. (Mạn thuật 12.2)
thật 實
tt. thực. Ngọc lành nào có tơ vện, vàng thật âu chi lửa thiêu. (Tự thuật 116.4)‖ (Bảo kính 171.3). x. thà.
trào 嘲
dt. trào lộng. Ngâm sách “thằng chài” trong khuở ấy. Tiếng trào dậy khắp Thương Lang (Ngôn chí 9.8). Khuất Nguyên trong Sở Từ viết: “Khuất Nguyên bị phóng trục, lang thang khắp sông đầm, vừa đi vừa thở than trên bờ, nhan sắc tiều tuỵ, thân hình khô héo. Ngư phủ thấy nên hỏi rằng: ‘ngài chẳng phải là tam lư Đại phu đó sao? sao lại đến nông nỗi này?’ Khuất Nguyên rằng: ‘đời này đều đã đục cả rồi, riêng mình ta trong, chúng nhân đều say hết, còn riêng ta tỉnh, cho nên mới bị đi đày.’ ngư phủ nói: ‘thánh nhân chẳng câu nệ vào vật mà phải biết thay đổi theo thời cuộc. Người đời đều đục, sao ngài chẳng quật bùn tung sóng? chúng nhân đều say, sao ngài chẳng xơi bã khà rượu? hà cớ gì cứ phải sống cao nghĩ sâu, tự làm khổ mình?’ Khuất Nguyên trả lời: ‘ta nghe nói, mới gội đầu xong thì giũ dải mũ, mới tắm xong thì sửa xiêm y; sao có thể đem tấm thân sạch sẽ này mà hứng lấy những vật bẩn thỉu cho được? thà chơi cõi giang hồ, gửi xác nơi bụng cá còn hơn. Sao có thể lấy cái thanh sạch của mình mà đỡ lấy cái cặn bã của thế tục?’ ngư phủ nhếch mép cười mà đi mất, gõ mái chèo ca rằng: nước Thương Lang trong a, có thể gột dải mũ; nước Thương Lang đục a, có thể để rửa chân. Bèn đi thẳng, chẳng nói nữa.”