Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Bạch Cư Dị
binh 兵
dt. lính, trỏ quân đội. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào khuở ích chưng dân. (Trần tình 37.7).
bình 瓶
dt. đồ gốm sứ miệng nhỏ dùng để đựng rượu hay cắm hoa. (Mạn thuật 31.8)‖Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ, có lòng bằng trúc mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.3). x. chử miệng tựa bình. (Tự thán 83.4, 86.8)‖ (Bảo kính 151.4).
chay 齋
◎ Nôm: 𭤕 AHV: trai. (tục tự của 夈 < 斎 < 齋).
dt. loại đồ ăn chỉ có thực vật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.4). trái thì trai: trái cây là đồ chay theo mùa.
cây cả nhàn ngồi 核哿閑𫮋
đc. <Nho> Phùng Dị 馮異 (? - 34), tự Công Tôn 公孫 là tướng của Lưu Tú (Hán Quang Vũ) có công lớn giúp Lưu Tú an định Hà Bắc, tính khiêm nhường. Trong khi các tướng khác tranh nhau khoe công thì dị ngồi tựa dưới một gốc cây lớn mà hóng gió. Quân lính từ đó gọi ông là đại thụ tướng quân. Sau khi Lưu Tú lên ngôi, ông được phong làm Dương Hạ Hầu 陽夏侯, nhậm chinh tây đại tướng quân. Đến đời Minh đế được liệt vào vân đài nhị thập bát tướng (Hậu Hán - Phùng Dị truyện). Kìa ai cây cả nhàn ngồi tựa, nẻo có công nhiều lọ phải tranh. (Bảo kính 131.7).
Pha lão 坡老
dt. <kính> ông pha. x. Tô Đông Pha. Trường Canh hỏi nguyệt, tay dừng chén, Pha lão chơi thu, khách nổi thuyền. (Tự thán 74.4). Dương Vạn Lý đời Tống có câu: “bình sinh thương Pha lão” (平生憐坡老 bình sinh liên Pha lão)
quan thanh bằng nước 官清朋渃
Thng dịch cụm quan thanh như thuỷ. Thẩm Quát trong Mộng khê bút đàm của dùng để khen Bao Chửng: “dùng ông quan trong như nước, sao địch lại trơn như dầu?” (任你官清如水, 怎敌吏猾如油). Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.6).
ảo hoá 幻化
tt. AHVhuyễn hoá, nghĩa gốc là “sự biến đổi”, trong đó huyễn = hoá (từ kép đẳng lập), như: “幻化也” (Quảng Vận). Liệt Tử phần chu mục vương ghi: “Những việc mà đến lúc cùng thì sẽ biến đổi, nhân theo hình mà thay đổi, đó gọi là hoá, gọi là ảo…… nên biết rằng việc ảo hoá không khác gì với việc sống chết.” (窮數達變,因形移易者,謂之化,謂之幻.…知幻化之不異生死也). Sau được dùng để dịch thuật nhữ māyā-upamatā của Phật giáo, trỏ vạn vật không có thực tính. Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “đời người tựa ảo hoá, thảy đều về hư vô” (人生似幻化,終當歸空無 nhân sinh tự ảo hoá, chung đương quy không vô). Toàn Đường Thi (q.806) bài Hàn san thi có câu: “phù sinh ảo hoá như đèn lụi, thân vùi dưới đất ấy hữu - vô” (浮生幻化如燈燼,塚內埋身是有無 phù sinh ảo hoá như đăng tận, trủng nội mai thân thị hữu vô). Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.3). ai ai sá cóc: bằng huyễn chiêm bao; xẩy tỉnh giấc hoè, châu rơi lã chã. Cóc hay thân huyễn, chẳng khác phù vân; vạn sự giai không, tựa dường bọt bã. [Trần Nhân Tông - Đắc Thú lâm tuyền 31a]. kinh kim cương có câu: “tất thảy phép hữu vi, như bóng bọt mộng ảo” (一切有爲法,如夢幻泡影 nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh).