Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry An Nam dịch ngữ
chiếm 占
đgt. lấy làm vật sở hữu của mình. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.4)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Dương 247.1).
chầy 遲
◎ Nôm: 迡 Đọc âm THV.
tt. <từ cổ> chậm. Một phút khách chầy còn thấy hỏi, hai phen lần đến ắt chăng chào. (Bảo kính 167.3)‖ (Mạn thuật 25.2)‖ (Tảo xuân 193.3)‖ Tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.6).
tt. <từ cổ> lâu dài. Muốn ăn trái, dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy. (Bảo kính 137.2, 171.8, 177.8)‖ (Mai thi 225.1)‖ Ngày chầy. (Trường an hoa 246.3).
tt. <từ cổ> khẽ khàng, nhẹ nhàng, chậm chậm. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.3)
Dao Trì 瑤池
dt. <Đạo> nơi ở của Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn. Sử Ký phần Đại uyển liệt truyện luận có đoạn: “Côn Lôn cao hơn hai ngàn năm trăm dặm, nơi nhật nguyệt cùng ngơi nghỉ mà giấu sáng. Trên đó có lễ tuyền và Dao Trì.” (崑崙其高二千五百餘里,日月所相避隱為光明也。其上有醴泉、瑶池). mục thiên tử truyện có đoạn: “Năm ất sửu, thiên tử dâng rượu cho Tây Vương Mẫu ở trên Dao Trì.” (乙丑,天子觴西王母於瑶池之上). Yến thửa Dao Trì đà có hẹn, chớ cho Phương Sóc đến lân la. (Đào hoa thi 231.3).
suốt 律
◎ Kiểu tái lập: *kruot⁵ [TT Dương 2013b], chuẩn đối với blọn (trọn).
dt. cả, trỏ sự việc diễn ra không nghỉ trong quãng thời gian dài. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4).
sào 篙
◎ Nôm: 高 Văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi ký khắc năm 1157 ghi “nhị bán cao” nghĩa là “hai sào rưỡi” [văn bia thời lý 2010]. Phiên khác: cao (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, BVN, MQL, NTN, PL). TV Giáp còn đề xuất cách hiểu “cao” viết nhầm từ “膏” nghĩa là “mỡ tức là mực, ý nói con trâu ở trong cái nghiên mực, được bồi dưỡng nhiều về chất béo của văn chương” (1956: 180). Xét, “sào văn” chuẩn đối với “ruộng thánh”. Nay đề xuất. Ss đối ứng k’aw (20 thổ ngữ Mường), ʂaw (5), t’aw (1), p’aw (1) [NV Tài 2005: 266].
dt. đơn vị đo lường ruộng đất thời xưa, mười sào bằng một mẫu. Nguyên nghĩa là “đồ đo ruộng có 15 thước mộc” sau dùng “sào mẫu, sào đất, sào ruộng” [Paulus của 1895: 903]. Về văn tự, “sào” có chính tự là 篙 (cây sào). Như vậy, có thể xác định, “sào” (cây gậy để đo) là một từ gốc Hán, cho nên “sào” (đơn vị đo lường) là một từ gốc Hán Việt dụng. Về ngữ âm, AHV có thuỷ âm k-, âm nôm có thuỷ âm s-, có thể tái lập ngữ âm là *krao². Quá trình biến âm từ Hán sang Việt sẽ là cao > *krao² > sào. Âm s- bắt đầu từ thế kỷ XVI về sau. Khoẻ cày ruộng thánh đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.6).
sất sơ 󰦕踈
◎ (suất sơ). Phiên khác: xác xơ (TVG), suất xơ: tiêu sơ, tiêu điều (ĐDA), thoắt xơ: đột nhiên xơ xác (Schneider, PL). Nghĩa khá tập trung, chỉ khác về phương án phiên. Cách phiên “xác” không hợp với thanh phù “suất” của chữ Nôm. Cách phiên “thoắt” của Schneider khắc phục được điều này, nhưng tỏ ra ép nghĩa. Xét cách ghi âm, đây là một từ láy thuỷ âm. Nên phiên là “sất sơ”, từ thế kỷ XVII về sau đọc là “thất thơ”.
tt. <từ cổ> xơ xác. Chữ “thất thơ” sau cho một biến thể láy khác: “thất thơ thất thưởng: bộ đi lưởng thưởng, yếu đuối như cò ma, chó đói” [Paulus của 1895 t2: 377]. Phồn hoa một đoạn tỉnh mơ, mẽ chuông tàn cảnh sất sơ. (Tự thán 108.2).
thế 勢 / 󰟨
dt. tình hình, trạng thái của động tác. Mui thác trăng dương thế hứng, Buồm nhân gió, mặc khi phiêu. (Tự thán 101.3)‖ (Tự thuật 115.8).
dt. sức mạnh, uy lực. Bằng rồng nọ ai phen kịp, Mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8).
tri kỉ 知己
dt. người bạn hiểu rõ mình. Trượng phu non vắng là tri kỉ, tiên khách nguồn im ấy cố nhân. (Tự thán 81.5)‖ (Bảo kính 161.7).
trung hiếu 忠孝
dt. đức trung với vua và hiếu với cha. Tôi ngươi thì một lòng trung hiếu, mựa để nghìn đời tiếng hổ hang. (Tự thán 93.7, 100.7, 111.5)‖ (Bảo kính 158.7, 187.7)‖ (Ngôn chí 10.6).
trách 責
đgt. trách cứ. (Thuật hứng 58.7)‖ (Tự thán 86.2)‖ Mựa trách thế gian lòng đạm bạc, thế gian đạm bạc đấy lòng thường. (Tức sự 125.7)‖ (Tích cảnh thi 210.3).
trêu tức 嘹𠺒
◎ Thanh phù: liệu 嘹, tức 息. Phiên khác: giéo giắt (TVG), déo dắt (ĐDA, VVK), leo lét (MQL), réo tức (Schneider, PL), cách phiên này đúng mặt chữ Nôm, nhưng như vậy coi “réo tức” là tiếng kêu của chim đỗ quyên. Xét Từ Nguyên, “trêu” vốn là chữ 撩 (AHV: liêu), ví dụ: trêu râu hùm (撩虎鬚), trêu ong phải nọc (撩蜂吃螫). Kiểu tái lập: kleu¹.
đgt. chọc giận. Thục Đế để thành, trêu tức, phong vương đắp luỹ, khóc rân. (Điệp trận 250.5). “khóc rân” là trỏ tâm trạng của bướm khi bị đàn ong thợ chặn không cho vào tổ ăn mật, cho nên “trêu tức” cũng vẫn có chủ thể là bướm (chứ không phải là của Thục Đế như trước nay vẫn hiểu). Lý Thương Ẩn trong bài Cẩm sắt có câu: “Trang sinh tỉnh mộng mê là bướm, Vọng đế lòng xuân mượn cuốc kêu.” (莊生曉夢迷蝴蝶,望帝春心託杜鵑 trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên). Trang Chu tỉnh giấc mộng rồi vẫn còn băn khoăn rằng mình là Trang Chu hoá bướm hay giờ đang là ở một giấc mộng khác: bướm hoá Trang Chu. Thục Đế mất nước, tiếc nhớ đế vị, cũng như chim đỗ quyên kêu xót vì nhớ tiếc cả mùa xuân đã qua. Sự đan cài các điển nghĩa ở đây cho thấy sự chồng ghép các ý tưởng thơ: mất nước - tiếc xuân - và tất cả chỉ là giấc mộng. Nguyễn Trãi đã dịch gộp cả hai câu thơ của Lý Thương Ẩn: Thục Đế đã bỏ thành quốc ra đi, chỉ còn lại đây đàn bướm xuân mộng mị và nhởn nhơ như đang trêu tức con người.
trùng dương 重陽
dt. tết trùng cửu. Trùng dương mấy phút khách thiên nha, kịp phen này được đỗ nhà. (Quy Côn Sơn 189.1)‖ (Cúc 217.8).
trọng 重
◎ Thiết âm: trụng.
đgt. trái với khinh. Người tham phú quý người hằng trọng, ta được thanh nhàn ta sá yêu (Mạn thuật 24.3)‖ (Tự thán 99.7)‖ (Bảo kính 145.3)‖ (Giới sắc 190.2)‖ (Mai thi 225.2).
ủy khúc 委屈
đgt. <từ cổ> khúc mắc, ngoắt ngoéo. Lỗi thác sá toan nơi ủy khúc, hoà hưu thì khiến nõ tù mù. (Bảo kính 152.5).
kỳ 騏
dt. ngựa có vằn xanh vằn đen, thuộc loại ngựa tốt, thiên lý mã. Kỳ, ký, nô, thai đà có đấy, Kẻ dìn cho biết lại khôn thay! (Tự thuật 112.7).