Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry
ba thu 𠀧秋
dt. <từ cổ> ba tháng mùa thu. Kinh Thi có câu: “một ngày chẳng gặp, như ba thu chừ” (一日不見,如三秋兮 nhất nhật bất kiến, như tam thu hề).
dt. <từ cổ> ba năm, trỏ nhiều năm. Trường ốc ba thu uổng mỗ danh, chăng tài đâu xứng chức tiên sinh. (Ngôn chí 7.1), chế độ khoa cử đời Nhà Minh đặt lệ ba năm một khoa, năm trước thi hương, năm sau thi hội, cho nên các nhà Nho nước ta cũng nhân đó là nói vậy. [ĐDA 1976: 707 - 708]‖ Danh thơm một áng mây nổi, bạn cũ ba thu lá tàn. (Thuật hứng 63.4).
ba xuân 𠀧春
dt. <từ cổ> ba tháng mùa xuân, trỏ toàn bộ thời gian của mùa xuân, dịch chữ tam xuân. Ba xuân thì được chín mươi ngày, sinh vật lòng trời chẳng tây. (Tích cảnh thi 209.1).
ba đông 𠀧冬
dt. <từ cổ> mùa đông có ba tháng nên gọi vậy, giống như ba thu, ba xuân. Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, một mình lạt khuở ba đông. (Tùng 218.2).
ban 班
◎ “ban” chữ chỉ sự, giữa là bộ đao, hai bên là hai chữ ngọc, xưa cắt đôi miếng ngọc để hai bên cùng làm tin, như “cắt ngọc thuỵ để ban cho các vua chư hầu” (班瑞于群后) [Kinh Thư - thuấn điển]. Sau phái sinh sang nghĩa “ngôi, thứ, hàng, chỗ bách quan tụ hội chia ra từng ban để phân biệt trên dưới”, tiếng Việt còn có lưu tích như lưu ban (đúp lớp), đồng ban (cùng hàng), ban ngành, ban bộ, ban bệ. Từ nghĩa không gian, “ban” mở rộng sang nghĩa thời gian trỏ các “lớp thời gian được phân tách theo tri nhận của người bản ngữ”, ví dụ “ban” là khoảng thời gian được chia theo ca làm việc, như giao ban, ban ca, tiếng Hán có các cụm 三班倒;上夜班 (quãng đầu nửa đêm). “ban: c.n. hàng, sọc, phiên, thứ, đương lúc. Ban sơ: hồi đầu hết, trước hết. Ban đầu. id. ban ngày. Ban đêm. Ban mai. Ban hôm: buổi tối. Ban chiều. Ban trưa. Ban tối. [Paulus của 1895: 28].
dt. <từ cổ> buổi, khoảng thời gian nào đó trong ngày hoặc đêm. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.8)‖ Giữa giáp canh ban trống ba. (Hồng Đức QATT b.42)‖ Những khi bóng ác ban (đào duy từ- Tư Dung Vãn, c. 143).
dt. HVVD <từ cổ> khi, lúc, đứng trước tính từ, trỏ quãng thời gian nào đó của đời người. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.3)‖ Thương ôi tuổi tác kẻ ban già. (Bạch Vân Am b.93)‖ Đặng tuấn thế đã ban nghèo. (TNNL c. 2055).
bao nả 包拿
đt. <từ cổ> bao nhiêu, nghi vấn từ [Vương Lộc 2001: 9]. “bao nả: chừng nào, cho tới đâu” [Paulus của 1895: 37]. Còn có anh hùng bao nả nữa? đòi thì vậy dễ hơn nào. (Tự thán 89.7). Dùng bao nả, tiêu bao nả, ăn mấy mươi, mặc mấy mươi. (Hồng Đức b11).
binh 兵
dt. lính, trỏ quân đội. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào khuở ích chưng dân. (Trần tình 37.7).
biên 鬢
◎ Nôm: 边 / 邉 / 邊 biên là âm HHV của mấn (Ss ABK: bin). Âm THV đọc là mai, lưu tích trong từ tóc mai. Thuyết Văn giải tự: “mấn: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Thuyết Văn: “mai: tóc hai bên má” (鬢頰髮也). Bạch Cư Dị trong bài Mãi thán ông có câu: “đôi tóc mai bàng bạc mà mười ngón tay lại đen” (两鬢蒼蒼十指黑 lưỡng mấn thương thương thập chỉ hắc). AHV: mấn/ tấn, ABK: bīn. Tương ứng chung âm -j > -n như: mai > mấn, tươi > tiên, lãn > lười.
dt. <từ cổ> tóc mai. Phong sương đã bén biên thi khách, tang tử còn thương tích cố gia. (Quy Côn Sơn 189.5)‖ Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc, đầu bạc xưa nay có khuở xanh. (Tích cảnh thi 202.3, 203.1)‖ (Thuật hứng 50.3, 62.4)‖ (Tự thán 82.6, 87.3)‖ (Tự thuật 113.4).
biếc 碧
AHV: bích.
tt. màu xanh của nước, biếc đọc theo âm THV. Thuyền chèo đêm nguyệt, sông biếc, cây đến ngày xuân, lá tươi. (Ngôn chí 22.5)‖ (Bảo kính 153.3).
bo bo 逋逋
tt. “hà tiện, bỏn sẻn. giữ của bo bo là giữ của chằng chằng. Giữ bo bo: giữ chẳng chằng, giữ chặt, giữ khít ghim” [Paulus của 1895: 60], “giu bo bo: tenaciter custodire” [Morrone 1838: 196]. Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.5).
buồng the 房紗
◎ Nôm: 𢩣絁
dt. HVVT phòng có lụa the buông cho đẹp và kín đáo, trỏ phòng riêng của con gái nhà quyền quý xưa. Đi nào kẻ cấm buồng the kín, ăn đợi ai làm bàn soạn đầy. (Miêu 251.5).
buộc bện 縛緶
◎ Nôm: 纀𥾽 buộc: âm THV [Schuessler 1988: 247]. AHV: phược biền. Ss đối ứng: puôk⁵ (nguồn), puôk⁵ (Mường bi), dzăk² (Chứt), (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236]. x. bện.
đgt. HVVT <từ cổ> níu, kéo, lôi kéo, gò ép, ràng buộc, khống chế. Thế sự dầu ai hay buộc bện, sen nào có bén trong lầm. (Thuật hứng 70.7).‖ Hoặc ở lâu trong nước người chẳng hay cẩn thận, phải người mưu lừa sá quanh co, buộc bện, luống phải điều bắt cầm, ràng trói. (Phật Thuyết, 19b), dịch chữ câu khiên 勾牽.
bày 排
◎ Đọc âm HHV. AHV: bài. Ss đối ứng: báy (Tày) [HTA 2003: 32].
đgt. xếp ra, phô ra. (Tự thán 92.3)‖ Hoa chăng thay rụng, bày chi phấn, thông sá bù trì, mộng cột rường. (Tức sự 125.5).
báo 報
đgt. trả ơn. Bui một quân thân ơn cực nặng, tơ hào chửa báo hãy còn âu. (Mạn thuật 30.8)‖ (Thuật hứng 65.6)‖ (Tự thán 80.1).
báo bổ 報補
đgt. HVVT <từ cổ> báo đáp, “đền đáp công ơn” [Vương Lộc: 2001: 10]. Nợ cũ chước nào báo bổ, ơn sày, ơn chúa miễn ơn cha. (Tự thán 94.7)‖ Nền xã tắc là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ đào hang. (Nguyễn Đình Chiểu - thảo thử )‖ cn bổ báo. nghèo như nhà bậu mai rau chiều cháo, đây anh cũng ngồi mà nghĩ bổ báo đền ơn. cd
bát 扒
đgt. <từ cổ> chèo đi, “khiến thuyền đi bên tay mặt… cạy bát: thường nói về sự chèo ghe, khiến đi bên tay mặt, hay là bên mặt chèo mũi thì kêu là bát; khiến đi bên phía tay trái hay là bên cọc chèo bánh thì kêu là cạy”[Paulus của 1895: 41]. Chèo lan nhàn bát thuở tà dương, một phút qua một lạ dường. (Trần tình 42.1)‖ anh ơi sóng gió liên miên, ra công bát cạy cho thuyền tới nơi. cd
bát ngát 八歹
đgt. <từ cổ> lo nhớ mãi không thôi, “lo bát ngát: bị thúc bách bởi nhiều nỗi lo lắng” [Rhodes 1651 tb1994: 37] “áy náy, lo xa” [Paulus của 1895: 41], “u sầu, lo âu, nghĩ ngợi” [Génibrel 1898: 22, xem ý kiến khác của Huệ Thiên 2005: 425 - 431]. Giang san bát ngát kìa quê cũ, tùng cúc bù trì ấy của hằng. (Tự thán 77.5)‖ Bát ngát mặt ngừng chan giọt ngọc, dùng dằng chân ngại bước đường mây. (Hồng Đức QATT, b.34)‖ Cảnh li biệt nhiều phần bát ngát, mạch sầu tuôn ai tát cho vơi (lê ngọc hân - ai tư vãn c. 145).
báu 寶
AHV: bảo.
dt. quý, âm trại của bảo 寶. (Ngôn chí 10.8)‖ Lòng chẳng mắc tham là của báu, người mà hết luỵ ấy thân tiên. (Tự thán 74.5, 111.6)‖ (Bảo kính 130.3).
bén tục 变俗
đgt. dính tục. Tô Thức có câu: “có thể ăn không thịt, chẳng thể ở không trúc. Không thịt làm người gầy, không trúc khiến người tục. Người gầy có thể béo. Người tục không chữa được.” (寧可食無肉, 不可居無竹。無肉令人瘦, 無竹令人俗。人瘦尚可肥, 俗士不可医 ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc. Vô nhục lệnh nhân sấu, vô trúc lệnh nhân tục. Nhân sấu thượng khả phì, tục sĩ bất khả y). Huống lại dưng dưng chăng bén tục, trượng phu tiết cứng khác người vay. (trúc 222.3).
bình sinh 平生
dt. cả đời, cả một đời. Bạch Cư Dị trong bài Tì bà hành có câu: “dây dây tức tưởi tiếng tiếng sầu, như tỏ một đời bất đắc chí” (弦弦掩抑聲聲思,似訴平生不得志 huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ, tự tố bình sinh bất đắc chí). Bình sinh nhiễm được tật sơ cuồng, con cháu nhiều ngày chịu khó dường. (Thuật hứng 68.1)‖ (Tự thán 86.1).
bó 把
◎ Nôm: 布 Đọc âm PHV. AHV: bả, bá. Ss đối ứng pɔ, bɔ (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 179], tro? (Katu) [NH Hoành 1998: 249]. bả / bó , nắm gốc Hán, chét, ôm gốc Việt.
dt. (lượng từ) ôm, nguyên nghĩa gốc là lượng từ, trỏ một khối lượng sự vật trong lòng bàn tay, giống như chét trong chét lúa. Thuyết Văn ghi: “Bả: nắm tay” (把,握也). Sách Mạnh Tử ghi: (拱把之桐梓), chú rằng: “dùng một tay mà bốc” (以一手把之也). Dương Vạn Lý có câu: “tháng hai sơn thành chẳng có đến một bó rau” (二月山城無菜把). nhật dụng thường đàm ghi: “Hoả bả 火把: là bó đuốc” [Phạm Đình Hổ 1827: 39b]. Đạp áng mây ôm củi, ngồi bên suối gác cần câu. (Trần tình 41.3). x. nắm.
bóng 俸 / 䏾
◎ Ss đối ứng: bóng (tày ) [HTA 2003: 41].
dt. ánh sáng. Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.3, 14.1, 16.4, 21.6)‖ (Tự thán 77.4, 98.1)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.4).
dt. phản quang của vật xuống một bề mặt. Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc, nước chảy âu khôn xiết bóng non. (Thuật hứng 49.6, 51.4)‖ (Tự thán 76.6, 79.1, 84.4)‖ (Bảo kính 160.4, 165.6)‖ (Lão mai 215.4)‖ (Mai thi 225.4, 226.1).
dt. hình ảnh từ phía xa của một vật. Lại có hoè hoa chen bóng lục, thức xuân một điểm não lòng nhau. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.3)‖ (Thiên tuế thụ 235.1)‖ (Thái cầu 253.6).
dt. bóng che mát, ví với sự che chở. Tuy đà chưa có tài lương đống, bóng cả như còn rợp đến dân. (Lão dung 239.4)‖ (Hoè 244.4)‖ (Cam đường 245.1).
Bô tiên 逋仙
dt. ông tiên Lâm Bô. Gác Đông ắt đã từng làm khách, há những Bô tiên kết bạn chơi. (Mai thi 224.4). x. Lâm Bô, x. Tiên Bô.
bĩ thái 否泰
dt. tên hai quẻ trong Kinh Dịch, trời đất giao hoà, muôn vật hanh thông thì gọi là thái 泰, ngược lại bế tắc không giao hoà thì gọi là bĩ 否, hai quẻ biểu tượng cho sự đối lập tốt - xấu, thịnh - suy, bế tắc - hanh thông. Phan Nhạc đời Tấn trong tây chinh phú có câu: “há địa thế lúc an nguy, thực việc đời khi bĩ thái” (豈地勢之安危,信人事之否泰 khởi địa thế chi an nguy, tín nhân sự chi bĩ thái). Cho hay bĩ thái mấy lề cũ, nẻo có nghèo thì có an. (Bảo kính 144.7).
bước bước 北北
dt. mọi bước. Lòng người tựa mặt ai ai khác, sự thế bằng cờ, bước bước nghèo. (Mạn thuật 32.6). x. bước.
bượp 乏
◎ âm HTC *bap [Schuessler 1988: 234]. AHV: phạp.
tt. <từ cổ> thiếu, ít, “bượp gì: thiếu gì” [Rhodes 1651 tb1994: 44]. Nhà còn “thi lễ” âu chi ngặt, đời bượp văn chương uổng mỗ danh. (Mạn thuật 31.4)‖ Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7)‖ (Tự thán 103.5).
bạn bè 伴𤿤
dt. bạn cùng một bè, bạn đi cùng bè, “những kẻ theo mình, làm thuê cho mình. Thường nói về bạn chèo ghe” [Paulus của 1895: 30].
đgt. làm bạn với (xấu). Lân cận nhà chàu no bữa cốm, bạn bè kẻ trộm phải đau đòn. (Bảo kính 148.4). khng. bạn bè gì với mày.
bạo ngược 暴虐
đgt. tt. bạo: hung ác, ngược: tàn hại. Sử Ký phần Ngũ đế bản kỷ có câu: “chư hầu muốn xâm lăng, bạo ngược bách tính, mà thần nông thị chưa thể chinh phạt” (諸侯相侵伐,暴虐百姓,而神農氏弗能征). Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, có nhân có trí có anh hùng. (Bảo kính 132.5).
bất tài 不才
tt. không có tài năng. Vụng bất tài, nên kém bạn, già vô sự, ấy là tiên. (Bảo kính 163.3).
bầu 瓢
◎ Nôm: 䕯 AHV: biều. Ss đối ứng bu¹ (Mường), lapu² (Rục) [VĐ Nghiệu 2011: 60], kadhợk (Katu) [NH Hoành 1998: 248].
dt. loại cây ăn quả thuộc họ bí, thân leo, quả khô lấy vỏ làm đồ đựng nước, rượu. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.1, 12.5, 14.2)‖ Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, ắt đã tròn bằng nước ở bầu. (Trần tình 40.8, 41.1), Ss ở bầu thì tròn ở ống thì dài. Tng.‖ (Thuật hứng 51.3)‖ (Tự thuật 121.4)‖ (Bảo kính 148.1)‖ Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử. (Bảo kính 156.5). Sách Luận Ngữ: “Nhan Hồi hiền vậy thay! một giỏ cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẻm tồi tàn, kẻ khác không kham nổi cảnh khổ đó, mà hồi thì chẳng đổi niềm vui. Hồi hiền vậy thay!” (賢哉回也!一簞食,一瓢飲,在陋巷,人不堪其憂,回也不改其樂。賢哉回也!).
dt. <Đạo> bầu thế giới, bầu trời. đc. sách Vân Cáp Thất Tiêm ghi chuyện thi tồn người nước Lỗ theo học phép tiên, thường đeo bên mình một trái bầu to bằng nửa cái đấu. Bầu ấy là một bảo bối có thể thâu chứa cả trời đất, mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú. Đến tối, ông thường chui vào trong bầu ngủ. (Ngôn chí 19.6)‖ Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại, hai chữ “công danh” biếng vả vê. (Bảo kính 155.3).
dt. khối đất để trồng cây. Nào hoa chẳng bén khí đầm hâm, có mấy bầu sương nhuỵ mới đâm. (Cúc 240.2).
bầy 排
dt. quần thể động vật. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.6)‖ (Nhạn trận 249.2).
dt. <từ cổ> quần thể sự vật. Tính ắt nhiễm cùng bầy mộc thạch, lòng còn chạnh có thú yên hà. (Tự thuật 118.3).
dt. <từ cổ> quần thể người theo một tiêu chí nào đó. Chơi cùng đứa dại nên bầy dại, kết với người khôn học nết khôn. (Bảo kính 148.5). cn bầy thiền tử (Trần Nhân Tông – Cư Trần Lạc Đạo Phú 25b), Bầy tôi. (TKML i 13), Bầy tiên. (TKML i 54), Bầy yêu quái. (TKML i 54). x. bầy bạn.
bầy bạn 排伴
dt. <từ cổ> bầy = chúng, đám bạn, trỏ bè bạn nói chung. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 21.7).
bậc 匐
◎ Ss đối ứng: bắc (Tày) [HTA 2003: 32].
dt. <từ cổ> cấp độ. Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang. (Tự thuật 117.7).
bậu 部
◎ Ss đối ứng: pậu là “người ta, chúng nó”, từ để gọi bạn bè kém tuổi mình (Tày) [HTA 2003: 399], vậu [HTA 2003: 576-577], Phng. miền Trung: bậu là từ nam giới dùng để gọi vợ [Alves 2012: 4]. Phiên khác: mỗ bộ (TVG, MQL, PL), mấy bộ (ĐDA). Chú giải: “Nguyễn Trãi từng làm Thượng thư bộ lại, nay về ẩn, nên nói xin làm một bộ nào đó (bộ này không có trong cơ chế của triều đình) để quản lý núi sông, tức cảnh ẩn dật” [MQL 2001: 854]. Tồn nghi.
dt. <từ cổ> “bậu: bạn” [Rhodes 1651 tb1994: 37], trong bậu bạn, bậu gốc Việt, bạn (伴) gốc Hán. Xin làm mỗ bậu quản giang san, có biết đâu là sự thế gian. (Tự thán 95.1). Nghèo như nhà bậu mai rau chiều cháo, đây anh cũng ngồi mà nghĩ bổ báo đền ơn. cd
bếp 𤇮
◎ Ss đối ứng bep³ (Mường), tăpεh (Rục) [VĐ Nghiệu 2011: 60], pep, bep (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 178], tơpệh (Katu) [NH Hoành 1998: 248].
dt. vật dụng để đốt lửa, nấu nướng. Lều không, con cái hằng tình phụ, bếp lạnh, anh tam biếng hỏi han. (Bảo kính 139.6, 154.6)‖ (Miêu 251.3)‖ (Trần tình 38.3).
bốn dân 𦊚民
dt. bốn loại cư dân theo quan niệm thời xưa, dịch chữ tứ dân 四民, gồm: sĩ 士, nông 農, công 工, thương 商 (cổ 賈). Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng. (Tức sự 126.7).
Bồng đảo 蓬島
dt. tên ngọn núi huyền thoại. Tương truyền là nơi ở của tiên. Sách Sơn Hải Kinh thiên Hải nội bắc kinh ghi: “Núi Bồng Lai ở giữa bể” (蓬萊山在海中). Thuốc tiên thường phục tử hà xa, Bồng đảo khôn tìm ngày tháng qua. (Tự thuật 118.2).
bổng 俸
dt. trong lương bổng 糧俸. Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông, ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.2).
bới 摆
đgt. bươi ra, xới ra, gạt lớp phía che phủ bên trên để nhặt ra, chọn ra. Gà bới thóc. Bươi- xới- bới là chuỗi đồng nguyên. Bể học trường văn hằng nhặt bới, đường danh suối lợi hiểm khôn tìm. (Bảo kính 150.3). Chữ “bới” ở đây đồng nghĩa với chữ “xới”, “cày”. So sánh với câu: khoẻ cày ruộng thánh đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.5).
bởi vì 摆為
k. Như bởi ①. Động người hoa kháo tỏ tinh thần, ắt bởi vì hoa ắt bởi xuân. (Đào hoa thi 228.2). x. vì bởi.
bợ 把
◎ Phiên khác: bẻ cây = tỉa cây (ĐDA), bả cây: dựa vào cây (Schneider), bả cây: chăm nom (PL). Nay theo TVG, BVN.
đgt. <từ cổ> “nâng phía dưới mà đỡ lên. bợ lấy: chịu lấy, nâng lên” [Paulus của 1895: 9], dấu tích còn trong từ bợ đỡ (bợ = đỡ, sau mới có nghĩa phái sinh là trỏ những kẻ hay đi hầu hạ phục dịch để lấy lòng người khác). ở đây trỏ việc nâng niu chiêm ngưỡng bông hoa. Xét, muốn “hớp nguyệt” thì phải “nghiêng chén”, cũng vậy muốn “xem hoa” thì phải “bợ cây”, như vậy là chuẩn đối, các hành động đều hướng về một đối tượng. Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, ngày vắng xem hoa bợ cây. (Ngôn chí 11.4).
bụi 蓓
◎ Ss đối ứng pul, buj, bun, pun (21 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 181].
dt. thường dịch các chữ trần 塵, cấu 垢. Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, giơ tay áo đến tùng lâm. (Ngôn chí 5.1). loài người hãy nhớ mày là bụi, thì mày lại trở ra bụi mà chớ [Morrone 1838: 200].
chi 枝
dt. cành. Vạn diệp thiên chi. (Bảo kính 145.2)‖ Giữa mùa đông trỗi thức xuân, nam chi nở cực thanh tân. (mai 214.2).
chi phấn 脂粉
dt. <từ cổ> son phấn. chi: mỡ, phấn: bột. chi phấn: đồ trang điểm của phụ nữ, sau trỏ những thứ đẹp đẽ. Hoa chăng thay rụng, bày chi phấn, thông sá bù trì, mộng cột rường. (Tức sự 125.5).
chiêm bao 占包
dt. giấc mộng. Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.4, 51.2, 52.8)‖ (Tự thán 71.7)‖ (Tự thuật 122.2).
chiếm 占
đgt. lấy làm vật sở hữu của mình. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.4)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Dương 247.1).
chiếu chăn 詔𧜖
dt. hai đồ để nằm và đắp. Nằm có chiếu chăn cho ấm áp, ăn thì canh cá chớ khô khan. (Bảo kính 134.5).
chiền 禪
AHV: thiền. Đọc theo âm THV. Đối ứng c- ~ tʰ- như thị ~ chợ, … [NĐC Việt 2011]. x. chua, x. chùa chiền.
dt. <từ cổ> chùa, nói tắt của chùa chiền < thiền tự. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng (Tự thuật 117.6). chuông dộng coong coong mái nọ chiền (Hồng Đức 29a).
chiềng 呈
◎ Nôm: 廛 AHV: trình, âm phiên thiết: trành, đọc âm THV [An Chi 2006 t5: 148]. Phiên khác: gìn (PL), nhìn (ĐDA).
đgt. <từ cổ> tâu lên cho biết. Chiềng cho biết nay dường ấy, chẳng thấp thì cao ắt được dùng. (Bảo kính 132.7).
chuột 𤝞
◎ Ss đối ứng cuət (7 thổ ngữ Mường), hre, he, re (21 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 198].
dt. loài gặm nhấm. Khó miễn sang chăng nỡ phụ, nhân chưng chận chuột phải nuôi mày. (Miêu 251.8).
chày 椎
◎ Nôm: 持 AHV: truỳ, ABK: zhuī, chuí. Âm đầu ch- < tr- , do xoá nhãn. Đối ứng vần -uy -ây: khuy khuây, duy dây. Ss đối ứng kʼăj (21 thổ ngữ Mường), hra (1 thổ ngữ), ʂăj (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 190].
dt. trái với cối, dùng để giã. Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt, khoan khoan những lệ ác tan vầng. (Tích cảnh thi 199.3). thạch truỳ: chày đá đâm nghiền nhỏ thay (CNNA 40b).
chác 卓 / 斫
đgt. <từ cổ> đổi, lưu tích còn trong đổi chác [Taberd 1838: 52]. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.4). Phiên khác: chước (TVG, Schneider, PL), chác: chuốc (BVN), chuốc (VVK). Nay theo ĐDA, MQL. Khi tóc đã bạc thì không thể đổi lại thành xanh như thời trẻ được, ý nói thời gian không thể quay lại, đời người chỉ có một lần.
đgt. <từ cổ> mua, [Rhodes 1651 tb1994: 55], lưu tích còn trong bán chác, mua chác. “chac. mua chac: emere. ban chac: vendere” [Morrone 1838: 214]. (Tự thán 76.4)‖ Danh chăng chác, lộc chăng cầu, được ắt chẳng mừng, trật chẳng âu. (Tự thuật 121.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.3). mặc ai chác lợi mua danh, miễn ta học đặng đạo lành thì thôi. cd [Taberd 1838: 52].
chác cầu 卓求
AHV: trác cầu. Phiên khác: chuốc cầu (TVG).
đgt. <từ cổ> chác: mua, cầu 求: tìm; tìm mua. “chác 卓: n. mua, chịu lấy… mua chác: mua. Bán chác: bán. Đổi chác: đổi. Chác lấy: mang lấy, lãnh lấy, chịu lấy. Kiếm chác: kiếm tìm” [Paulus của 1895 t1: 113]. Giang san mắt thấy nên quen thuộc, danh lợi lòng nào ước chác cầu. (Trần tình 41.6). x. chuốc.
cháu 𡥙
◎ Ss các đối ứng tʼon, (13 thổ ngữ Mường), son, sun (13 thổ ngữ Mường), caw (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 190]. Cho thấy, tʼon, son, sun (< 孫, AHV: tôn, ABK: sun) là các từ Hán Mường, caw là từ Việt-Mường.
dt. x. con cháu. (Ngôn chí 10.7)‖ (Bảo kính 130.2).
chân chạy cánh bay 眞𧼋𦑃󱗟
đc. <Đạo> thú và chim. Huyền Thông Chân Kinh thiên Đạo nguyên viết: “Đạo cao không thể đo, sâu không thể lường, bao trùm trời đất, bẩm thụ vô hình, nguồn chảy ào ào, rỗng mà không đầy,…, ước giản mà có thể mở rộng, u ẩn mà có thể sáng rõ, nhu nhược mà có thể cương kiện, nuốt âm nhả dương, làm tỏ tam quang; núi vì thế cao, vực vì thế sâu, thú vì thế chạy, chim vì thế bay, lân vì thế chơi, phượng vì thế lượn, tinh tú vì thế đắp đổi.” (夫道者,高不可極,深不可測,苞裹天地,稟受無形,原流泏泏,沖而不盈,…,約而能張,幽而能明,柔而能剛,含陰吐陽,而章三光;山以之高,淵以之深,獸以之走,鳥以之飛,麟以之遊,鳳以之翔,星曆以之行). Chân chạy cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.7).
chén tử hà 盞紫霞
◎ Nôm: 󱋓紫霞
dt. loại chén quý có màu tía (tử) như ráng mây (). Ngon mùi đạo phiến hoàng quyển, rửa lòng sầu chén tử hà. (Tự thuật 114.6).
chông mác 蔠鏌
dt. chông và mác, hai vũ khí thời xưa. Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh. (Bảo kính 136.3).
chúa xuân 主春
dt. chủ tể quản lý mùa xuân. x. đông quân. (Trúc thi 223.4)‖ Chúa xuân dìu dặt dư ba tháng, mắng cầm ve mới đỗ quân. (Điệp trận 250.7).
chúa Đông Quân 主東君
dt. tên thần mặt trời, thần quản mùa xuân. Sách Quảng Nhã ghi: “Đông Quân, mặt trời vậy” (東君,日也). Quách Mạt Nhược trong bài Khuất Nguyên có câu: “Người thứ bảy là Đông Quân, thần mặt trời, tượng nam, mặt đỏ, tay cầm cung tên, áo xanh xiêm trắng.” (第七人為東君,太陽神,男像,面色赤,手執弓矢,青衣白裳). Tân Khí Tật đời Tống trong bài từ mộ xuân có câu: “Khá hận Đông Quân, đem xuân đi xuân lại không tăm tích.” (可恨東君 ,把春去春來無迹 khả hận Đông Quân, bả xuân khứ xuân lai vô tích). Mới trách thanh đồng tin diễn đến, bởi chưng hệ chúa Đông Quân. (Tích cảnh thi 210.4).
chưa 諸 / 渚
p. phủ định từ, nhưng hàm ý vẫn có khả năng xảy ra. (Ngôn chí 2.1)‖ Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu, miễn là phỏng dạng đạo tiên nho. (Ngôn chí 3.1, 8.7, 12.7, 20.8)‖ (Mạn thuật 33.2)‖ (Trần tình 37.2)‖ (Thuật hứng 50.4, 51.8, 63.8, 65.6, 66.8)‖ (Tự thán 72.4, 80.1, 86.1)‖ (Tự thuật 122.2)‖ (Bảo kính 140.2, 151.4, 179.2)‖ (Tảo xuân 193.3)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 201.3, 203.4)‖ (Lão dung 239.3)‖ (Trư 252.5).
p. nghi vấn từ. chép hết bao nhiêu sự thế ưa, ai ai đà biết được hay chưa? (Bảo kính 179.2)
chưng 蒸
đgt. nấu. x. hoài chưng.
chước 䂨 / 斫
dt. <từ cổ> mưu lược, kế sách, lưu tích trong mưu ma chước quỷ. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào khuở ích chưng dân. (Trần tình 37.7)‖ Chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6, 161.6). x. mười chước.
②. dt. <từ cổ> cách, phương cách. Nợ cũ chước nào báo bổ, ơn sày, ơn chúa miễn ơn cha. (Tự thán 94.7)‖ (Bảo kính 171.4)‖ (Miêu 251.4).
chước toan 斫算
đgt. <từ cổ> chước: mưu, toan 算: tính. Chước toan chưa dẹp nẻo bình sinh, đến khuở già lại trách mình. (Tự thán 86.1).
chạnh 鄭
đgt. <từ cổ> rung động, vui thích, “chạnh: cảm động. chạnh nhớ: cảm nhớ. chạnh lòng: động lòng. chạnh tưởng: nhớ tưởng, chạnh thương: động lòng thương. chạnh gan vàng: động lòng.” [Paulus của 1895: 124]. Tính ắt nhiễm cùng bầy mộc thạch, lòng còn chạnh có thú yên hà. (Tự thuật 118.4)‖ (Tức sự 123.1). Nay chỉ dùng trong cụm “chạnh lòng”.
chảy 沚
◎ Ss đối ứng căj, căn (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 190].
đgt. trôi. Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc, nước chảy âu khôn xiết bóng non. (Thuật hứng 49.6).
chất 質
đgt. <từ cổ> xếp, đặt. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.6).
chận 瞋
◎ Nôm: 陣 AHV: trận. Xét, đối ứng gi- (HHV) ~ s- (AHV), như: giường ~ sàng 床 , giò (gà-) ~ sồ 雛 (con so, con non). Ss đối ứng gện [Rhodes 1651], chjấn (Lâm La), chẩn (bái đính), chân (tân ly), chơn (Hạ Sữu, uy lô, Thái Thịnh) [Gaston 1967: 142]; quá trình ch- > gi- diễn ra sau thời điểm soạn An Nam dịch ngữ [NN San 2003: 205]. Chuỗi đồng nguyên: sân giận trong tiếng Việt, vốn xuất phát từ 瞋. Xét, chữ “瞋” nghĩa gốc là “trừng mắt” (張目也) [Thuyết Văn] sau cho nghĩa “giận dữ” (Quảng Vận). Xét, ở thế kỷ XVII, ngữ tố này có thuỷ âm c- (như Rhodes và các thổ ngữ Mường). ở thế kỷ XV, có thể là một thuỷ âm kép. Kiểu tái lập: *kcan⁶. Quá trình du nhập từ tiếng Hán sang tiếng Việt như sau: sân > *kcan > chận > giận. Trong đó, *kcan là âm HHV ở thế kỷ XV, giận là âm HHV ở thế kỷ XVIII đến nay. Ngoài ra, các đối ứng có c- ở tiếng Mường đều là các âm Hán Mường. Chữ “giận hờn” dịch từ chữ “sân hận”.
đgt. tức. Chận làm chi, tổn khí hoà, nào từng hữu ích, nhọc mình ta. (Giới nộ 191.1)‖ (Miêu 251.8).
chằm 箴 / 針
◎ Nôm: 沉 Đọc theo âm Việt hoá. AHV: châm (kim, khâu). Sách Hoài Nam Tử thiên Thuyết sơn có câu: “khâu thành màn” (針成幕). Đồng nguyên với chặm.
đgt. <từ cổ> xâu, khâu các lớp mỏng lại với nhau cho dày dặn. “chằm: may kết bằng chỉ to, bằng kim đục. Chằm nói. Chằm buồm. Chằm áo tơi. Chằm lưới. Chằm vá. Chằm khíu. Chằm mo. Chằm gàu” [Paulus của 1895: 118]. Chốn ở, chái căn lều lá, mùa qua, chằm bức áo sen. (Tức sự 124.4)‖ (Bảo kính 134.3). Hoặc chằm hoặc trải (Trần Nhân Tông - Cư Trần Lạc Đạo ) [TT Dương, NH Vĩ 2012h].
chẳng chẳng 拯拯
đgt. <từ cổ> bất cần, xua tay từ chối hết, không thiết đến cái gì, trái với quyền quyền. Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.1).
chỉ 紙
dt. sợi nhỏ dùng để khâu. Vì ai cho cái đỗ quyên kêu, tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.2).
chỉ thư 旨書
dt. <Tngls> các loại sổ sách giấy tờ công vụ của triều đình. Đao bút phải dùng tài đã vẹn, chỉ thư nấy chép việc càng chuyên. (Bảo kính 183.4).
chỉn 只
◎ Nôm: 㐱 / 軫 AHV: chỉ. Vận hội tiểu bổ do Phương Nhật Thăng nhà Minh ghi: “只: chương nhẫn thiết, âm chẩn” (只章忍切,音軫).
p. <từ cổ> chỉ có. Say rượu, no cơm cùng ấm áo, trên đời chỉn ấy khách là tiên. (Bảo kính 186.8)‖ (Đào hoa thi 230.3).
p. HVVD <từ cổ> vẫn, chỉ một mực. Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ, có lòng bằng trúc mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.3).
p. HVVD <từ cổ> nên. Dịch chữ tu 須, thiết 切 (nên). vốn không tướng nam nữ, nào chỉn ra chấp tướng < 本無女何須著相 [Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 25b3], ấy đều lấy những sự đã nghiệm mà nghĩ xem chưng nhân nào, trong mình ta chỉn mựa ra chưng lòng tuyết bỏ < 此皆以驗而因由,切莫自生於退屈 [Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 24b5]. Chỉn sá lui mà thủ phận, lại tu thân khác, mặc “thi thư”. (Mạn thuật 34.7)‖ (Tự thán 100.1)‖ (Tự thuật 115.3).
chịu 受
◎ Nôm: 𠺥 / 召 chịu là âm THV của thụ. Tày: chiệu, chịu [HTA 2003: 76, 78]. Mối quan hệ tʰ ~ c-, xin xem chiền, chợ, chua.
đgt. <từ cổ> phải gánh vác việc gì. Kim Cốc phong lưu nỡ để hoang, hôm mai uổng chịu nhọc toan đang. (Thuật hứng 55.2)‖ Ăn lộc nhà quan chịu việc quan, chớ tham tiểu lợi phải gian nan. (Bảo kính 144.1)‖ Bạn tác dể duôi đà phải chịu, anh em trách lóc ấy khôn từ. (Bảo kính 180.5).
đgt. nhẫn mình ở trong tình trạng không tốt. (Thuật hứng 68.2)‖ (Tự thán 82.6)‖ Vũ Tử lui tuy chịu dại, Bá Di lánh mới nên thanh. (Bảo kính 166.5).
đgt. phải công nhận là. Ở thế thì cho ta những thiệt, khoe mình khá chịu miệng rằng lành. (Tự thuật 113.6).
đgt. <từ cổ> nhận. Đâu đâu cũng chịu lệnh đông quân, nào chốn nào chẳng gió xuân. (Tích cảnh thi 211.1).
chốc mòng 矚望
◎ Nôm: 祝夢 Đọc theo âm THV. AHV: chúc vọng.
đgt. <từ cổ> trông mong, mong ước [Paulus của 1895: 150; xem ĐDA: 737; Vương Lộc 1997: 33]. nhọc lòng ta nhớ chốc mòng lắm < 勞我情懷矚望深 (TKML- long cung). Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng, chiêm bao ngỡ đã đến trông. (Thuật hứng 51.1). chóc mòng.
chờ 侍
◎ Nôm: 徐 / 除 x. chiền.
đgt. đợi. Ngỏ cửa Nho chờ khách đến, trồng cây đức để con ăn. (Mạn thuật 27.5)‖ (Tự thán 88.3)‖ (Bảo kính 155.2)‖ (Cúc 216.2).
chủ 主
◎ Ss đối ứng cu⁴ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 196].
dt. trái với khách. (Ngôn chí 5.6)‖ Đến trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.2)‖ (Bảo kính 177.7).
chứa 貯
AHV: trữ. Âm THV (Early Sino Vietnamese) PJ Duong 2013: 143].
đgt. đựng. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.5)‖ Bẻ chứa mây. (Mạn thuật 28.4)‖ (Tự thán 72.8).
chừ 時
◎ Nôm: 諸 Đọc âm THV. Mối quan hệ ch- (THV) ~ th- (AHV), x. chua. Nguyên chữ thì nghĩa là “thời giờ”, lưu tích còn trong bây chừ (= bây giờ). Sau, thì được hư hoá, (như thời, thì), cũng như vậy, chừ đã được hư hoá khá sớm. Phiên khác: chữ (ĐDA), chưa (BVN), chờ (TVG, MQL). PL (2012: 223) phiên “chừ” với nghĩa “giờ, thời điểm đang nói (Génibrel 1898). chừ rắp để bình: giờ sắp sửa cho vào bình”.
p. <từ cổ> từ đệm giữa câu, thường dùng để dịch chữ “hề” trong phú cổ. Cành khô gấp bấy nay nên củi, hột chín phơi chừ rắp để bình. (Bảo kính 151.4). Chữ “chừ” chuẩn đối với “bấy”, đều là hai hư từ, làm từ nước ở giữa câu.
chừa 除
◎ Đọc âm HHV. AHV: trừ.
đgt. bỏ, tránh. Kim ngân ấy của người cùng muốn, tửu sắc là nơi nghiệp há chừa? (Bảo kính 179.4). Tiếng Việt hiện còn bảo lưu trong các ngữ “chết vẫn không chừa”, “chừa cái mặt tao ra”, và “chừa” để mắng trẻ con.
chữ nghĩa 字義
◎ Nôm: 𡦂義
dt. HVVT văn tự và những ý nghĩa nội dung được ký tái qua vỏ văn tự đó, sau trỏ chung cho học vấn. Nhiều của ấy chăng qua chữ nghĩa, dưỡng người cho kẻo nhọc chân tay. (Bảo kính 146.5).
chực 直
đgt. chầu, hiện còn lưu tích trong chầu chực. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.3)
đgt. giữ. Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.5, 186.2).
đgt. đợi. x. Chong đèn chực tuổi. (Trừ tịch 194.5).
cuốc cày 󱃨𦓿
đgt. hành động tự cày cấy của các ẩn sĩ. Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc, cuốc cày là thú những xung xăng. (Trần tình 38.6).
các 各
◎ Ss đối ứng: các (Tày) [HTA 2003: 48], bại [HV Ma 1984: 66].
đt. từng, mỗi, đều, mỗi một cá thể đều, ai nấy đều, mỗi nơi đều. Thương Chu bạn cũ, các chưa đôi, sá lánh thân nhàn, khuở việc rồi. (Ngôn chí 2.1)‖ (Tự thán 101.2). Mưa chăng lệ, nắng nào âu, các cứ làm, nên nón đội đầu. HĐQA‖ Thì để đất hoan châu, ái châu các một hòm至今存每餘則歡愛各一凾. Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục.
cái 個
◎ Nôm: 丐 AHV: cá. Ss đối ứng -a (AHV) -j (THV): ma mài, cá cái, ngoã - ngói [Baxter 1992: 294], nga ngài [Norman 1988: 212], quá trình -ar > -aj > a [Baxter 1992: 293-294]. x. kẻ.
dt. <từ cổ> loại từ cho một số vật. Bẻ cái trúc hòng phân suối, quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3)‖ Cái quạt chè. (Tự thán 79.4)‖ Cái râu bạc (Tự thán 99.5, 114.4)‖ (Bảo kính 150.6, 155.5).
dt. HVVD <từ cổ> loại từ cho một số động vật nhỏ như chim chóc, sâu bọ. Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, hòn đất hầu lầm, mất cái chim. (Bảo kính 150.5)‖ Cái đỗ quyên. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.1)‖ Cái vẹt. (Tự thán 90.5).
cánh 󰰍
◎ {更 cánh + 羽 vũ}. Âm PVM: kεŋ [VĐ Nghiệu 2011: 46]. Ss đối ứng: kɛɲ, kăɲ, kɛŋ (18 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
dt. bộ phận dùng để bay của một số loài động vật. Chân chạy, cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.7)‖ (Lão hạc 248.5)‖ (Điệp trận 250.2). x. chân chạy cánh bay.
cáo 𤞺
◎ Ss đối ứng: kaw (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 186].
dt. con cáo. Chim có miệng kêu, âu lại ngậm, cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ. (Tự thán 108.4). Chưa rõ điển tích.
Cô Dịch 姑射
dt. tên núi tại huyện Lân Phân tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Sách Trang Tử thiên Tiêu diêu du có đoạn: “thấy núi Cô Dịch có thần nhân ở đó, da như băng tuyết, yểu điệu như gái chưa chồng, không ăn ngũ cốc, hớp gió uống sương. Cưỡi khí mây, ngồi rồng lượn mà chơi ngoài bốn bể. Khi thần khí tụ lại khiến muôn vật không bị bệnh tật mà mùa màng bội thu.” (藐姑射之山,有神人居焉,肌膚若冰雪,淖約若處子,不食五穀,吸風飲露。乘雲氣,御飛龍,而遊乎四海之外。其神凝,使物不疵癘而年穀熟). Thơ văn đời sau thường lấy Cô Dịch làm biểu tượng cho người đẹp có phẩm cách cao khiết hay trỏ chung cho thần tiên. Vương Chu đời Ngũ Đại trong bài Đại thạch linh dịch mai hoa có câu: “Cõi tiên Cô Dịch đón Dao Cơ, hoá trận thanh hương ấp ngả mờ.” (仙中姑射接瑶姬,成陣清香擁路岐 tiên trung Cô Dịch tiếp Dao Cơ, thành trận thanh hương dụng lộ kỳ). Tô Thức có câu: “Bên bờ biển gặp nàng Cô Dịch, khẽ nghiêng chào miệng chúm chím hoa.” (海邊逢姑射,一笑微俯首). Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch, kề nước cầm đưa tiếng cửu cao. (Mạn thuật 35.3)‖ (Mai 214.3)‖ (Lão mai 215.3).
công 功
dt. công sức. (Mạn thuật 34.2)‖ Có thân thì cốc khá làm sao, lảng bảng công hư, tuổi tác nào. (Thuật hứng 47.2, 59.8)‖ (Tự thuật 117.8)‖ Kìa ai cây cả nhàn ngồi tựa, nẻo có công nhiều lọ phải tranh. (Bảo kính 131.8, 135.8, 186.2).
căn 間
◎ Nôm: 閒 AHV: gian. Đọc theo âm THV. Ss âm HTC: kăn (Karlgren), kean (Vương Lực).
dt. khoảng cách giữa hai hàng cột cái chịu lực trong một ngôi nhà, sau chuyển thành loại từ trỏ các kiến trúc nhỏ. Góc thành nam, lều một căn, no nước uống, thiếu cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.1, 1.8)‖ (Ngôn chí 15.6)‖ (Mạn thuật 27.4)‖ (Tự thán 102.1, 105.2, 110.4)‖ (Tức sự 124.3, 123.1)‖ (Bảo kính 157.8).
cũ 舊
◎ Nôm: 𪧘 Đọc theo âm PHV. AHV: cựu. Ss đối ứng ku (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 202].
tt. xưa. Thương Chu kiện các chưa đôi, sá lánh thân nhàn, khuở việc rồi. (Ngôn chí 2.1, 7.5, 13.3, 16.5, 18.3, 18.7)‖ (Mạn thuật 32.2, 33.1, 35.1)‖ Bạn . (Thuật hứng 46.1, 46.3, 49.3, 50.2, 50.7, 51.1, 53.4, 63.4, 70.3)‖ (Tự thán 72.3, 77.5, 94.7, 98.5, 102.3)‖ (Tự thuật 117.2)‖ (Bảo kính 135.4, 140.4, 141.5, 144.3, 144.7, 156.7, 158.2, 158.7, 169.7)‖ Huống lại vườn còn hoa trúc , dồi thức tốt lạ mười phân. (Tích cảnh thi 211.3)‖ (Cúc 217.6). bạn cũ dịch chữ cố nhân 故人. quê cũ dịch chữ cố hương 故鄉.
cơm áo 𩚵襖
dt. Như áo cơm, trỏ hai nhu cầu vật chất tối thiểu của cuộc sống. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5)
cưỡng 強
đgt. cố tình làm trái. Thế gian đường hiểm há chăng hay, cưỡng còn đi ấy thác vay. (Tự thuật 112.2). gượng.
cạn 乾
◎ Nôm: 𣴓 AHV: can. Âm cạn là âm PHV. Đồng nguyên với chữ hạn 旱, lưu tích âm này còn thấy trong thanh phù can 干. 旱 và 乾 là các đồng nguyên tự, lần lượt được tái lập là: kan , *kân và ganᴮ, *gân? [Schuessler 1988: 249]. Chuỗi đồng nguyên: hạn - khan - khàn - cạn. Ss đối ứng: kan (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
tt. nông (do rút bớt lượng nước). Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.5)‖ (Thuật hứng 69.3)‖ (Tự thán 109.3)‖ (Bảo kính 153.5).
cạnh 競
◎ Tục tự: 𧡟
đgt. tranh, cạnh còn có âm HHVganh. Lợi tham hết lấy nhiều thì cạnh, nghĩa phải đam cho ít chẳng phường. (Bảo kính 128.3). x. tranh cạnh.
cả lòng 嘏腸
đgt. HVVT quyết ý, “làm gan, không sợ, cả quyết”. Cả quyết: quyết chắc, lấy làm chắc, dốc một lòng.” [Paulus của 1895: 87]. (Bảo kính 141.6) Ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng. (Tích cảnh thi 208.4). x. lòng.
cảnh 景
◎ Ss đối ứng: cảnh (Tày) [HTA 2003: 51].
dt. hình ảnh của sự vật trước mắt. Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, có thân chớ phải lợi danh vây. (Ngôn chí 11.1)‖ Cày chống tuyết ngâm đòi cảnh, cuốc chơi xuân khắp mọi đồi. (Ngôn chí 13.5, 19.2)‖ (Mạn thuật 35.7)‖ (Trần tình 42.4)‖ (Thuật hứng 51.1, 62.8, 62.8)‖ (Tự thán 75.5, 88.1, 107.2, 108.2)‖ (Tự thuật 117.6)‖ (Tức sự 123.6, 125.1)‖ (Bảo kính 158.2)‖ Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. (Tích cảnh 201.4). Thấy cảnh lòng thơ càng vấn vít. (Tích cảnh 206.3, 207.1, 210.2).
dt. Hoàn Cảnh. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.3).
cấu 構
đgt. <từ cổ> tạo nên. Đất dư dưỡng được khóm hoàng tinh, cấu phương lành để dưỡng mình. (Hoàng tinh 234.2). non cương cấu lạ, đất dải gây thiêng. (thận trai - quan phu tử: 3b). Ngao cực gây thiêng, hồ tinh cấu rạng (Nguyễn Bá Lân - Trương Lưu ).
cần 竿
◎ Nôm: 芹
dt. ngọn trúc dùng làm cán của dụng cụ câu cá. Vườn còn thông trúc đương năm mẫu, câu ước công danh đổi một cần. (Mạn thuật 33.6).
cầu hiền 求賢
đgt. <Nho> tìm người hiền. Bài Quyển nhĩ tự trong sách Kinh Thi có đoạn: “bài quyển nhĩ, viết về cái chí của hậu phi, muốn phụ giúp nhà vua tìm được người hiền, xét được quan tốt, biết được nỗi vất vả của bề tôi” (《卷耳》,后妃之志也,又當輔佐君子,求賢審官,知臣下之勤勞). Lưu Hướng trong sách Thuyết Uyển ghi: “Cho nên, bậc minh quân ở trên, cẩn thận ở chuyện chọn lựa kẻ sĩ, chăm chú ở chuyện tìm kiếm người hiền” (故明君在上,慎於擇士,務於求賢). Cầu hiền chí cũ mong cho được, bất nghĩa lòng nào mựa nỡ toan. (Bảo kính 144.3).
cật 詰 / 𦛋
dt. <từ cổ> lưng. Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng, cật chưng hồ hải đặt chưa an. (Tự thán 72.4)‖ Áo bô quen cật vận xênh xang. (Tức sự 126.6)‖ Áo mặc miễn là cho cật ấm, cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon. (Huấn Nam Tử 192.5). chung lưng đấu cật. Tng. no cơm ấm cật .Tng.
cỏ 𦹵 / 𦹯
◎ Ss đối ứng kɔ⁴ (Mường), kɔh¹ (Rục), kɔh (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60], kɔ⁴ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 199].
dt. loài thực vật nhỏ. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.4, 12.1, 15.6)‖ (Mạn thuật 23.5)‖ (Thuật hứng 69.4)‖ (Tự thán 73.3, 93.5)‖ (Tự thuật 120.6, 121.8)‖ Hài cỏ. (Tức sự 126.5)‖ Cỏ cứng. (Bảo kính 131.5, 157.8)‖ Đìa cỏ. (Vãn xuân 195.6).
cố công 固功
đgt. HVVT gắng sức. Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang. (Tự thuật 117.8).
cốt nhục 骨肉
dt. xương thịt, trỏ mối quan hệ huyết thống. Văn Vương thế tử ghi: “Tình thân cốt nhục chớ có đoạn tuyệt.” (骨肉之親無絕也). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).
cội 檜
dt. gốc. (Thuật hứng 54.1)‖ Tựa cội cây ngồi hóng mát, leo heo ta hãy một leo heo. (Thuật hứng 67.7)‖
② (bóng) trỏ nguồn gốc. Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.2, 151.2).
cội rễ 檜𣑶
dt. gốc và rễ. Cội rễ bền dời chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3).
của 𧵑 / 古
◎ Ss đối ứng kuə⁴ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. trong của cải, tài sản. (Mạn thuật 31.7)‖ Song viết lại toan nào của tích, bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 49.7, 61.1, 56.7)‖ (Tự thán 111.3)‖ (Tự thuật 117.7)‖ (Bảo kính 130.1, 133.5, 138.5, 146.5, 171.8, 175.3, 177.8). của chầy: của tồn tại mãi mãi (bóng). (Bảo kính 179.3, 186.1)‖ (Liên hoa 243.4).
dt. <từ cổ> đồ, thứ. Quê cũ nhà ta thiếu của nào, rau trong nội, cá trong ao. (Mạn thuật 35.1)‖ (Tự thán 74.5)‖ Của hằng. (Tự thán 77.6, 86.7) của cởi buồn: dịch chữ vong ưu vật‖ (Tự thán 105.7)‖ (Bảo kính 134.8, 135.3, 149.1, 163.5, 171.5, 182.8).
dt. <từ cổ> việc. Rày mừng thiên hạ hai của: tể tướng hiền tài, chúa thánh minh. (Thuật hứng 65.7)‖ Của yêu đương. (Tự thán 81.7, 99.7, 115.1)‖ (Bảo kính 184.7)‖ Nghĩ quy y Phật đương nguyện cho chúng sinh cóc hay trong đại đạo phát lòng có của trên. (Phật Thuyết 46b).
dt. k. từ trỏ quan hệ sở hữu. Phúc của chung, thì hoạ của chung, nắm thì hoạ khỏi phúc về cùng. (Bảo kính 132.1)‖ Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.4). Đây là hai ngữ cảnh có dấu hiệu chứng tỏ từ “của” đang chuyển từ thực từ sang hư từ vào giai đoạn thế kỷ XV.
cửu giang 九江
dt. chín con sông, nguyệt cửu giang: trăng in trên chín con sông, dù ở sông nào thì cái bản thể của nó vẫn không thay đổi. Nước đào giếng, cơm cày ruộng, thảy thảy dường bằng nguyệt cửu giang. (Bảo kính 129.8).
dang 揚
◎ Phiên khác: ruồng (TVG), duồng (ĐDA, VVK). Nay theo MQL, PL.
đgt. <từ cổ> lui ra, xích ra [Paulus của 1895: 222]. Lành người đến, dữ người dang, yêu xạ vì nhân mùi có hương. (Bảo kính 147.1). rắn ông tồn ngang thế giới, người thấy ắt dang. (Trần Nhân Tông – Cư Trần Lạc Đạo Phú).
danh phận 名分
dt. danh tiếng và địa vị trong xã hội (có ý thấp kém). Tội ai cho nấy cam danh phận, chớ có thân sơ mới trượng phu. (Bảo kính 152.7).
Dao Trì 瑤池
dt. <Đạo> nơi ở của Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn. Sử Ký phần Đại uyển liệt truyện luận có đoạn: “Côn Lôn cao hơn hai ngàn năm trăm dặm, nơi nhật nguyệt cùng ngơi nghỉ mà giấu sáng. Trên đó có lễ tuyền và Dao Trì.” (崑崙其高二千五百餘里,日月所相避隱為光明也。其上有醴泉、瑶池). mục thiên tử truyện có đoạn: “Năm ất sửu, thiên tử dâng rượu cho Tây Vương Mẫu ở trên Dao Trì.” (乙丑,天子觴西王母於瑶池之上). Yến thửa Dao Trì đà có hẹn, chớ cho Phương Sóc đến lân la. (Đào hoa thi 231.3).
day day 移移
◎ Phiên khác: dày dày (TVG,1956), dây dây (ĐDA 1976), “dày dày: ngời ngời” [PL 2012: 324, 329]. Xét, “dày dày” không thấy từ điển nào ghi nhận với nghĩa “ngời ngời”, chứng tỏ nghĩa này được dịch giả tự gán cho âm, bởi “dày” hoặc “dầy” nghĩa là “nhiều lớp”. Với âm “dầy dầy”, chỉ có nghĩa là “tiếng người đông chào rào” [Paulus của 1895: 218]. Mặt khác, âm “dày” thường được ghi bằng chữ Nôm “苔”. Chữ “移” có các âm phi Hán Việt là “dời” và “day”. “day: dời, trở qua, xây hướng. Day động: dời động, dây động”. Xét tự dạng, đây là một từ láy toàn phần, một kiểu láy phổ biến của giai đoạn thế kỷ XV, như “phơi phơi”, “tấp tấp”, “nồm nồm”, “pháy pháy”.
tt. HVVT <từ cổ> lay lay, khẽ đưa qua đưa lại. Môi son bén phấn day day, đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay. (Mạt lị hoa 242.1), chữ day day hô ứng với chữ đưa ở dưới‖ Chiếm được thiều quang chín mươi, day day hoa nở tốt hoà tươi. (Dương 247.2).
Di Tề 夷齊
dt. Bá Di 伯夷 và Thúc Tề 叔齊 là con vua nước cô trúc - quốc gia chư hầu nhà Thương. Vua cha muốn lập người em thứ 3 là Thúc Tề. Sau khi cha mất, Thúc Tề nhường lại ngôi vua cho Bá Di nhưng ông không nhận, nói rằng phải theo mệnh lệnh của cha và bỏ trốn. Thúc tề thấy ông bỏ khỏi nước cô trúc cũng đi theo ông. Người trong nước bèn lập á bằng 亞憑- người em của Bá Di và anh của Thúc Tề lên ngôi. Nghe tin tây bá cơ xương là người trọng đãi hiền sĩ, anh em Bá Di tìm đến. Nhưng khi hai người đến nơi thì cơ xương đã qua đời, con là cơ phát lên thay, mang quân đánh vua trụ tàn bạo. Bá di cùng em đến trước ngựa của cơ phát can rằng: ‘cha chết không chôn lại gây việc can qua có thể gọi là hiếu không? là bầy tôi giết vua có thể gọi là nhân không?’ cơ phát không nghe. Những người hộ vệ của cơ phát định giết anh em Bá Di nhưng khương tử nha ngăn lại và đỡ anh em ông dậy và cho đi nơi khác. Cơ phát mang đại quân cùng các chư hầu đánh vua trụ. Vì trụ tàn bạo mất lòng người nên bị đại bại ở trận mục dã, tự thiêu mà chết. Cơ phát lên ngôi thiên tử, lập ra nhà Chu, tức là chu Vũ Vương. Các chư hầu đều tôn thờ nhà Chu. Riêng Bá Di và Thúc Tề bèn cùng nhau thề không ăn thóc nhà Chu. Bá di và Thúc Tề lên núi thú dương, hái rau vi ăn qua bữa, cuối cùng ông và Thúc Tề đều chết đói tại núi thủ dương. Trước khi qua đời, Bá Di và Thúc Tề làm bài ca: lên núi tây chừ hái rau vi, lấy bạo đổi bạo chừ có hay chi? thần nông, ngu, hạ chìm cả rồi, ta biết nơi nào đi? đời sau thường dùng hình ảnh di, tề để nói về việc đi ở ẩn. Khiêm nhường ấy mới biêu quân tử, ai thấy Di Tề có thửa tranh. (Tự thuật 113.8).
diện 面
đgt. <từ cổ> đối diện với, hướng mặt về, xây mặt về, như trong câu nam diện nhi thiên hạ trị (hoàng đế xây mặt về nam mà thiên hạ trị). Hơn chó được ngồi khi diện bếp, tiếc hùm chẳng bảo chước leo cây. (Miêu 251.3).
doanh 營
◎ âm phiên thiết: duynh.
dt. trại đóng quân, dinh quan. Nội hoa táp táp vây đòi hỏi, doanh liễu khoan khoan kháo lữa lần. (Điệp trận 250.4). dinh.
duềnh 溋
◎ Các từ điển cổ đều không thấy ghi nhận từ này.
dt. <từ cổ> dòng nước tự nhiên [Hoàng Phê 2000: 260], các ngữ liệu hiện còn cho phép phân xuất nghĩa “vùng nước” lúc trỏ đầm ao, lúc trỏ sông, lúc trỏ biển. Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, lẻo lẻo duềnh xanh con mắt mèo. (Tự thán 101.6). Duềnh thua bích hải duềnh quanh quất (vb.vô đề, 7881), Trẻ từng vả đấng khoa danh, già lên cõi thọ tìm doành Bụt tiên (CNNA, 1), Thuận dòng xuôi thuở duềnh là lá bay. (CNNA, 31), Cấn tượng thiên nhiên khéo sẵn duềnh. (văn bia, 34482). doành.
dài hàm nhọn mũi 𨱽含銳𪖫
đc. con lợn, dịch chữ Trường chuỷ tướng quân 長嘴將軍 (tướng quân mõm dài) trong sách Cổ Kim Chú [TVG,1956: 178]. Câu này tác giả chơi chữ. x. cứng lông. (Trư 252.1)
dám 敢
đgt. đủ dũng cảm vượt qua điều kiện khách quan để thực hiện việc gì đó. Phồn hoa chẳng dám, ngặt yên phận, trong thế, anh hùng ấy mới biêu. (Tự thuật 116.7).
dáng 樣 / 羕
AHV: dạng.
dt. vẻ, kiểu. Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, Xấu tốt đều thì rập khuôn. (Bảo kính 148.1). Tng. ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
dâng 𤼸
đgt. đưa lên, tiến hiến. An lạc một lều dầu địch, thái bình mười chước ngại dâng. (Bảo kính 161.6).
dìu dặt 教習
◎ Phiên khác: giáo tập (TVG, ĐDA, VVK, PL), dìu dập (MQL).
đgt. <từ cổ> như dặt dìu, “thết đãi trọng hậu” [Paulus của 1895: 225]. Chúa xuân dìu dặt dư ba tháng, mắng cầm ve mới đỗ quân. (Điệp trận 250.7)‖ Đình hương dìu dặt chén mồi (hoa tiên nhuận chính, c. 385)‖ Động phòng dìu dặt chén mồi (Nguyễn Du- Kiều, c. 3135).
dò 徒
đgt. lần thử đường đi. “dò lòng sông: vadum fluminis experiri” [Taberd 1838: 110]. trúc xông qua làn suối, tìm mai theo đạp bóng trăng. (Tự thán 77.3).
dòm 󱩿
◎ (thanh phù diêm). “Dòm: ngó nhìn kĩ, như nhìn qua lỗ nhỏ.” [Rhodes 1651 tb1994: 77]. Phiên khác: lẽ (TVG), xem (ĐDA). Nay theo Schneider.
đgt. <từ cổ> nhòm, xem ra. Cùng đạt dòm hay nơi có mệnh, đòi cơ tạo hoá mặc tự nhiên. (Bảo kính 163.7).
dòng 𣳔
dt. khối nước chảy đi. (Tự thán 72.2)‖ (Tự thán 90.4, 97.6)‖ Thấy bể triều quan đà ngại vượt, trong dòng phẳng có phong ba. (Bảo kính 168.8)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.8).
dt. loại, nguồn. Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.6).
dư 餘
tt. chỉ số lẻ sau số nguyên. Bề sáu mươi tám chín thu, lưng gày da sảy, tướng lù cù. (Ngôn chí 15.1)
tt. thừa ra, dôi ra. Toan cùng người với, thì chẳng đủ, xử một ta nay ắt có . (Bảo kính 180.4)‖ (Hoàng tinh 234.1)‖ (Cam đường 245.2).
tt. nhiều hơn so với số lượng đã nhắc đến. Xuân nhiều tuổi đã kể nghìn. (Thiên tuế thụ 235.2)‖ (Điệp trận 250.7).
tt. dài hơn so với quãng thời gian đã nhắc đến. Trường văn nằm ngả mấy thu , uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư”. (Mạn thuật 34.1).
dương hoà 陽和
dt. khí lành ấm áp của trời xuân. Sử Ký phần Tần thuỷ hoàng bản kỷ có câu: “Vào năm thứ mười chín, đương giữa mùa xuân, khí ấm đang dấy.” (維二十九年,時在中春,陽和方起 duy nhị thập cửu niên, thì tại trung xuân, dương hoà phương khởi). Hoa có ý thì xuân có ý, đâu đâu cũng một khí dương hoà. (Đào hoa thi 229.4, 230.1).
dt. mùa xuân. Lưu Nghĩa Khánh trong sách Thế Thuyết Tân Ngữ có đoạn: “tuy hơi xuân đã bủa, ưng hoá làm cưu, đến như thức giả, còn cay con ngươi” (雖陽和布氣,鷹化為鳩,至於識者,猶憎其眼 tuy dương hoà bố khí, ưng hoá vi cưu, chí ư thức giả, do tăng kỳ nhãn). Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.4).
dại 曵
tt. trái với khôn. (Tự thán 90.2)‖ Hết kính hết thìn bề tiến thoái, mựa tham mựa dại nết anh hùng. (Tự giới 127.4)‖ (Bảo kính 141.2, 148.5, 157.1, 161.3, 166.5)‖ Khôn phải lo lường, dại được an. (Bảo kính 185.2)‖ (Tích cảnh thi 204.3).
dại dột 曵悅
tt. ngốc, u mê [Paulus của 1895: 215], “dại dột. id” [Taberd 1838: 99]. Dưới công danh đeo khổ nhục, trong dại dột có phong lưu. (Ngôn chí 3.6)‖ (Tự thán 106.2)‖ (Tự thuật 115.2)‖ (Bảo kính 180.2).
dại ngơ 曵𬏝
tt. ngốc nghếch và ngơ ngác. Bằng rồng nọ ai phen kịp, mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8). dại ngây. “ngơ” là biến âm của “ngây’.
dạm 淡
đgt. <từ cổ> vẽ. Giang san dạm được đồ hai bức, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 19.5) ‖ Mấy người dạm được hình dung ấy (HĐQA, b. 27).
dạng 樣
◎ Nôm: 羕
dt. <từ cổ> mặt chữ, như trong tự dạng 字樣. Chữ học ngày xưa quên hết dạng, chẳng quên có một chữ “cương thường”. (Tự thán 82.7).
dt. <từ cổ> loại, kiểu. Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính 137.4).
dạy 𠰺
đgt. truyền đạt kiến thức. Tơ hào chẳng có đền ơn chúa, dạy láng giềng mấy s nho. (Ngôn chí 15.8).
dảy 𧿆
◎ Thanh phù: dĩ.
đgt. <từ cổ> nhảy, nhẩy. Lẽ có chim bay cùng cá dảy, mới hay kìa nước nọ hư không. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.7).
dấu 鬪 / 酉
◎ Mày, Mã Liềng: azu, aju; Sách: zu, ju. Phiên khác: dầu (TVG), giàu (ĐDA), dậu: no đủ (Schneider). Nay theo nhóm MQL.
đgt. <từ cổ> yêu, lưu tích còn trong yêu dấu. “Dấu: amare. Yêu dấu. Dấu yêu” [Taberd 1838: 105]. Non lạ nước thanh trộm dấu, đất phàm cõi tục cách xa. (Thuật hứng 54.3)‖ (Bảo kính 182.6)‖ Áng nạ lòng thực dấu (Phật Thuyết) ‖ Sinh con niệm niệm dấu chưng con. (Hồng Đức QATT, b.42).
dầm 淫
dâm: nghĩa gốc là bị thấm nước, ướt quá độ. dâm vũ (淫雨/霪雨): mưa nhiều ngày liền không dứt, lưu tích còn trong từ mưa dầm.
tt. <từ cổ> ướt nước. Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm, bén phải Đông Hoa bụi bụi xâm. (Tự thuật 119.1).
dần nguyệt 寅月
dt. tháng giêng theo lịch nhà Hạ. Tháng một trong nông lịch thường được gọi là tháng giêng, (chính nguyệt). Nhà Hạ lấy tháng 1 (Dần) làm tháng đầu tiên của năm; nhà Thương ân lại lấy tháng 12 (sửu) làm tháng đầu; nhà Chu thì lấy tháng 11 (tí). Mỗi triều đại mỗi khi đổi lịch thì chọn một tháng khởi đầu, gọi là “cải chính” thứ tự, nên mới gọi là “chính nguyệt”. Từ hán vũ đế về sau thì nhất loạt đều theo tháng lịch nhà Hạ. Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi, ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài? (Trừ tịch 194.8). Ý nói xem tháng giêng năm ấy là tháng đủ hay tháng thiếu.
dầu 由
◎ Nôm: 油
đt. <từ cổ> như vậy. Con cờ khảy, rượu đầy bầu, đòi nước non chơi quản dầu. (Trần tình 41.2) ‖ (Bảo kính 154.8, 159.2) “cũng dầu: cũng như vậy,… Phận dầu dầu vậy cũng dầu kiều” [Paulus của 1895: 227]
dầu chưng 油蒸
đgt. <từ cổ> dịch chữ tuỳ ư 隨於 (tuỳ ở). Ai ai đều có hai con mắt, xanh bạc dầu chưng mặt chúng ngươi. (Tự thuật 120.8).
dầu lòng 油𢚸
đgt. <từ cổ> tuỳ lòng, tuỳ ý [Rhodes 1651 tb1994: 73], “mặc ý, mặc thích” [Paulus của 1895: 227]. (Thuật hứng 64.2)‖ Chàu những của tự nhiên ấy, khỏng khảnh dầu lòng ở đất nghiêu. (Tự thán 105.8).
dầu … dầu 由 … 由
k. ví thử có là cái này hay là cái khác. Thân nhàn dầu tới dầu lui, thua được bằng cờ, ai kẻ đôi. (Ngôn chí 13.1)‖ (Mạn thuật 28.7)‖ (Bảo kính 165.7, 154.8).
dẫn 引
đgt. đưa vào. Dẫn suối nước đầy cái trúc, quẩy trăng túi nặng thằng hề. (Bảo kính 155.5).
dẫy 汜
đgt. <từ cổ> dâng tràn, “đầy lên, tràn ra” [Paulus của 1895: 218], lưu tích còn trong đầy dẫy. Trướng 漲: dẫy [ngũ thiên tự]. Nước dẫy triều cường, cuối bãi đầy. (Nhạn trận 249.1). Hứng dẫy vườn xuân chim thuở kêu (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân Am thi tập, b. 37)‖ Bãi hôm tuôn dẫy nước triều mênh mông. (Chinh Phụ Ngâm, c. 140). rẫy.
dặm 琰
dt. đơn vị đo lường cổ, bằng 444,44 mét. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.2)‖ (Tự thán 94.5)‖ (Tự thuật 115.5)‖ (Bảo kính 155.1, 169.8)‖ (Lão hạc 248.7).
dặm mây xanh 琰𩄲撑
dt. x. dặm thanh vân. (Bảo kính 158.1)
dẹp 枼
◎ Phiên khác: đẹp: êm đẹp, chu đáo, cả câu ý nói công việc ngày thường chưa tính toán được êm đẹp chu đáo (TVG, BVN, Schneider, VVK, PL). PL dẫn Paulus của 1895: “đẹp: ưng ý”, và diễn nghĩa: “mọi toan tính từ trước đến nay đều chưa được ưng ý” (2012: 146).
đgt. bỏ sang một bên. Chước toan chưa dẹp nẻo bình sinh, đến khuở già lại trách mình. (Tự thán 86.1). Ý câu này nói, cả đời không dẹp bỏ được những toan tính, cho nên bây giờ về già mình lại tự trách mình. Cây trúc kia chẳng ưa tấm lòng bạc bẽo của khách, [nhìn] cây mai già ta hãy học lấy cái tính thanh cao. Nói về chuyện công danh thì ta đã quay về cung đường “vô sự”, vả lại trong chốn giang san non nước này còn nhiều chỗ hữu tình để ta đi. Thì đây, ta còn có những vật tiêu sầu, ấy là thơ và rượu.
dế 󱸿
◎ Ss đối ứng tiəl, diəl, tiən, diən (23 thổ ngữ Mường), ʑe (1 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 206].
dt. loại côn trùng. Lan Đình tiệc họp, mây ảo, Kim Cốc vườn hoang dế cày. (Trần tình 45.4).
dể 易
◎ Nôm: 易 Đọc âm HHV.
đgt. <từ cổ> coi rẻ, coi khinh, trong khinh dể, dể duôi. dể nay viết là rẻ. “dể 易: contemnere. Dể duôi. Khinh dể. Dể ngươi. id.” [Taberd 1838: 106]. Sách Lễ Ký thiên Nhạc kí ghi: “Cái lòng khinh rẻ tự nảy sinh” (易慢之心入之矣), chú rằng: “dị: khinh rẻ” (易,輕易也). Hán Thư có câu: “quan dân đều khinh rẻ hắn” (吏民慢易之). Liễu Tông Nguyên đời Đường trong bài Đồng khu kí truyện có câu: “giặc coi thường ông” (賊易之). Khong khảy kẻ cười cùng kẻ thốt, khó khăn người dể miễn người duôi. (Tự thán 106.6).
dể duôi 易唯
◎ Phiên khác: rạch ròi (TVG), rẻ roi (ĐDA). Như vậy, “dể” gốc Hán, “duôi” có khả năng là gốc Việt, nhưng hiện chưa tìm thấy đối ứng.
đgt. <từ cổ> khinh miệt [Rhodes 1651 tb1994: 73], “khinh de duoi” [Morrone 1838: 228], khinh dể [Paulus của 1895: 228]. Bạn tác dể duôi đà phải chịu, anh em trách lóc ấy khôn từ. (Bảo kính 180.5). dể duôi cha mẹ [Rhodes 1651 tb1994: 73], …chịu khốn chịu khó người ta dể duôi, cho đến già cả… (phép giảng tám ngày: 127).
dỉ 𠯇
◎ Thanh phù .
đgt. <từ cổ> nói nhỏ cho biết. “dỉ. nói dỉ. nói di dỉ: nói điều bí mật gần tai” [Rhodes 1651 tb1994: 75]. Nay thường đọc và viết là “rỉ tai”. Dỉ bảo. (Tích cảnh thi 209.3)‖ Dỉ sứ chim xanh đừng chốc lối, bù trì đã có khí hồng quân. (Đào hoa thi 228.3). rỉ.
dịn 忍
◎ “Dịn: dung thứ. Nhịn, dịn dục, nhịn nhục: cùng một nghĩa. Hay dịn: nhẫn nại. Hay nhịn: cùng một nghĩa.” [Rhodes 1651: 76].
đgt. <từ cổ> chịu, nhường, âm cổ của nhịn. Ở thế dịn nhau muôn sự đẹp, cương nhu cùng biết hết hai bên. (Bảo kính 142.7, 176.2)‖ (Giới nộ 191.8).
dỏi 唯 / 准
đgt. <từ cổ> vang, kêu. “dỏi: một mình ít dùng” [Paulus của 1895: 240], lưu tích còn trong dắng dỏi. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.3)‖ (Thuật hứng 60.7)‖ (Tức sự 123.8).
dỗ 諭
◎ Nôm: 𠴗 AHV: dụ .
đgt. nhủ, khuyên nhủ. Làm người thì chử đạo Trung Dung, khắn khắn răn dỗ thửa lòng. (Tự giới 127.2). răn dỗ dịch chữ huấn dụ 訓諭.
dợ 𬘂
◎ (thanh phù dự).
dt. <từ cổ> dây, lưu tích trong từ dây dợ, dây nhợ. “nhợ: chỉ gai xe nhỏ, người ta hay dùng mà chằm lưới. Nhợ gai: nhợ bằng vỏ gai. Đánh nhợ, xe nhợ: làm ra dây nhợ. Nói có dây có nhợ: nói dai quá, nói như đánh dây” [Paulus của 1895: 748]. đầu dây mối dợ (Tng.). Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính 137.3). Sách Thượng Thư có ghi bài Ngũ tử chi ca rằng: “vua cha ta dạy, dân khá gần, chớ coi nhẹ, dân là gốc nước. Ta thấy ngu phu ngu phụ trong thiên hạ thảy đều hơn ta, nhỡ có ai đôi ba lần thiệt thòi, thì há cái lầm lỡ ấy có được làm sáng rõ ra chăng? ta nay đến với muôn dân, phải răn dè như giong sáu ngựa bằng sợi cương mục nát. Làm vua sao có thể không cẩn thận cho được!” (皇祖有訓,民可近,不可下,民惟邦本,本固邦寧。予視天下愚夫愚婦一能勝予,一人三失,怨豈在明,不見是圖。予臨兆民,懍乎若朽索之馭六馬,為人上者,奈何不敬). Dợ nọ có dùi nào có đứt, cây kia toan đắn lại toan đo. (Bảo kính 176.3), từ câu tục ngữ: già néo đứt dây. nhợ.
dứt 𢴑
đgt. hết, thôi. Hoạn nạn nhiều thu tổn khí hào, lâm tuyền chưa khứng dứt chiêm bao. (Tự thuật 122.2). x. đứt.
dừng ngăn 停垠
◎ Nôm: 亭垠
đgt. HVVT <từ cổ> ngăn cách. Vườn quạnh dầu chim kêu hót, cõi trần có trúc dừng ngăn. (Tự thán 110.6).
giang hồ 江湖
dt. sông hồ. Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7).
gieo 招
◎ Thanh phù: chiêu.
đgt. thả xuống, buông xuống. Thiên thai hái thuốc duyên gặp, Vị Thuỷ gieo câu tuổi già. (Thuật hứng 54.6).
giăng 張
AHV: trương, ABK: zhang. chăng, giương.
đgt. chăng lên, treo lên. Tranh giăng vách nài chi bức, đình thưởng sen nừng có căn. (Tự thán 110.3).
gạch 甓
◎ 󰍮, tục tự của bích 甓 (gạch), là chữ Nôm đọc nghĩa, chữ này đồng nguyên với bích 壁 (vách: cái xây bằng gạch). Kiểu tái lập: ?gak⁶ (a- gạch). Về ?g- [xem HT Ngọ 1999: 58, 61, 111, 114, 115]. Shimizu Masaaki cho rằng các ví dụ gày, gõ thuộc cấu trúc song âm tiết [2002: 768]. “gạch” (với *?g-) chuẩn đối với “sừng” (với *kr-) và đều được song tiết hoá.
dt. viên đất nung dùng để xây nhà. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3). Các bản khác đều phiên “gạch quẳng”, cho là điển “phao chuyên dẫn ngọc 拋磚引玉 (ném gạch ra để dẫn dụ ngọc đến) để nói về chuyện làm thơ [cụ thể xem TT Dương 2013c]. ở đây phiên “gạch khoảng nào bày với ngọc” dẫn điển 瓦玉集糅 (ngoã ngọc tập nhu) tương đương với thành ngữ “vàng thau lẫn lộn” trong tiếng Việt. Vương Sung đời Hán trong sách Luận Hành viết: “Hư vọng lại mạnh hơn chân thực, quả là loạn trong đời loạn, người chẳng biết đâu phải đâu trái, chẳng phân biệt màu đỏ màu tía, chung chạ bừa bãi, gạch ngói chất bừa, ta lấy tâm ta mà nói về những chuyện đó, há lòng ta có thể chịu được chăng?’” (虛妄顯於真實誠亂於偽世人不悟是非不定紫朱雜厠瓦玉集糅以情言之豈吾心所能忍哉). Nguyễn Trãi đã dùng thành ngữ này để đối với một thành ngữ khác ở câu dưới là “sừng mọc quá tai”, thành ngữ sau là một thành ngữ thuần Việt, gần nghĩa như câu hậu sinh khả úy. x. khoảng.
gấm 錦
◎ Đọc âm HHV. AHV: cẩm. Xuất hiện trong câu thơ có sáu chữ. Kiểu tái lập: *?gam⁵. gấm (*?g-) chuẩn đối với mây (*km-), dưa (*kd-).
dt. lụa vải thêu hoa văn đẹp (Thuật hứng 56.6, 67.6)‖ Muối miễn dưa dầu đủ bữa, thao cùng gấm mặc chưng đời. (Tự thán 104.4).
gặp 及
◎ Nôm: 趿 AHV: cập âm HTC: g(r)jip [Baxter 1992: 558]. Còn có âm đồng nguyên nữa là kịp. Xét, trong số 7 lần xuất hiện, “gặp” 5 lần ở câu sáu chữ, 2 lần ở câu đủ bảy chữ. Như vậy, thế kỷ XV có song thức ngữ âm. Kiểu tái lập: *?gap⁶ (*a- gặp). x. gầy, x. gánh. Ss đối ứng kăp, kʼăp, ɤăp (23 thổ ngữ Mường), tol, dol, don (5 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 221]. Như vậy, “gặp” gốc Hán, “tới” gốc Việt-Mường. .x tới.
đgt. <từ cổ> tìm thấy. Thiên Thai hái thuốc duyên gặp, Vị Thuỷ gieo câu tuổi già. (Thuật hứng 54.5).
đgt. vào lúc mà có được, vào dịp mà thấy được, đến khi, đến lúc, dịch chữ cập kỳ 及期. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.1)‖ (Tự thán 99.1)‖ (Bảo kính 135.7)‖ Gặp tiết lương thần. (Vãn xuân 195.1)‖ Gặp xuân. (Đào hoa thi 230.4).
hay chưa 咍渚
ht. nghi vấn từ, hỏi đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Chép hết bao nhiêu sự thế ưa, ai ai đà biết được hay chưa? (Bảo kính 179.2).
hay đủ hay dừng 咍杜咍停
Thng <Đạo> dịch câu tri chỉ tri túc tự lạc 知止知足自樂 (biết đâu là điểm dừng, biết đâu là đủ, thì sẽ tự vui). Trong tạo hoá có cơ mầu, hay đủ hay dừng, mới kẻo âu. (Bảo kính 153.2). Đạo Đức Kinh: “danh với thân, cái nào thiết thực hơn? thân với tài vật, cái nào nhiều hơn? được với mất, cái nào kém hơn? cho nên, thích lắm thì tốn lắm; chứa nhiều thì mất nhiều. Biết đủ thì chẳng nhục, biết dừng thì chẳng lỗi, có thể dài lâu.” (名與身孰親?身與貨孰多?得與亡孰病?是故甚愛必大費;多藏必厚亡。知足不辱,知止不殆,可以長久).
hiếu 孝
dt. đạo của con cái đối với cha mẹ. (Ngôn chí 10.6)‖ Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.7).
hiền 賢 / 䝨
dt. <Nho> kẻ sĩ. Cầu hiền chí cũ mong cho được, bất nghĩa lòng nào mựa nỡ toan. (Bảo kính 144.3, 160.7, 183.2)‖ (Tích cảnh thi 204.3).
tt. <Nho> biết sống theo đạo lý. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.3, 186.1) , dịch chữ hiền nhân.
hiểm 險
tt. nguy, khó vượt qua. Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết, ghê thay thế nước vị qua mềm. (Tự thuật 115.7). Ss Trang Tử thiên Liệt ngự khấu có câu: “Khổng Tử rằng: ‘thường thì, lòng người hiểm hơn núi sông, còn khó hơn cả biết trời’” (孔子曰:凡人心險於山川,難於知天)‖ (Bảo kính 150.4)‖ (Tự thán 73.1). đng nghèo.
tt. khó lường, nham hiểm, hay hại người. Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, bui một lòng người cực hiểm thay. (Mạn thuật 26.8)‖ (Tự thuật 112.1)‖ (Bảo kính 179.8).
hiểm hóc 險旭
tt. <từ cổ> nguy hiểm, khó đi, khó vào, hiểm = hóc. Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn, thanh nhàn án sách hãy đeo đai. (Ngôn chí 6.3, 20.5)‖ (Mạn thuật 27.2).
hoa 花
◎ Ss đối ứng hwa, va (5 thổ ngữ Mường), poŋ, boŋ (23 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 227].
dt. cơ quan sinh thực của thực vật. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.5, 4.6, 5.3, 11.4, 17.3, 18.6, 21.2)‖ (Mạn thuật 32.3, 35.5)‖ (Thuật hứng 47.7, 48.3, 51.4, 52.3, 56.6, 59.6)‖ (Tự thán 82.3, 85.5, 95.5, 102.6, 105.5, 107.4).
tt. có thêu hoa, có khi chữ dùng cho đẹp lời. Nợ quân thân chưa báo được, hài hoa còn bện dặm thanh vân. (Ngôn chí 12.8)‖ (Tự thuật 118.8, 119.2)‖ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi. (Tự thuật 120.6)‖ (Tức sự 123.4, 124.5, 125.5)‖ (Bảo kính 154.1, 160.4, 164.8)‖ (Quy Côn Sơn 189.4)‖ (Tảo xuân 193.4)‖ Vườn hoa. (Vãn xuân 195.5)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ Hoè hoa. (Hạ cảnh tuyệt cú 197.3)‖ (Tích cảnh thi 202.2, 207.4, 211.3)‖ (Lão mai 215.1)‖ (Cúc 216.3)‖ Hoa liễu. (Trúc thi 221.1)‖ (Mai thi 24.1)‖ (Đào hoa thi 227.1, 228.1, 229.2, 229.3, 230.2, 231.2)‖ (Mộc cận 237.1)‖ (Cúc 240.1)‖ Hoa nở. (Dương 247.2)‖ Nội hoa. (Điệp trận 250.3)‖ (Thái cầu 253.6).
hoa mộc môn 花木門
dt. tên của nhóm bài thơ viết về các loại hoa cỏ và cây cối, chủ yếu thuộc về loại thơ vịnh vật, tức cảnh. Ví dụ như các bài về hoa mai, hoa cúc, tùng, đào, trúc, mẫu đơn, hoàng tinh, thiên tuế thụ, ba tiêu, mộc cận, mía, cây đa. x. môn.
Huyền Minh 玄冥
dt. tên thần, thần mùa đông. Sách Lễ Ký thiên Nguyệt lệnh viết: “Vua mùa đông là Chuyên Húc, thần mùa đông là Huyền Minh.” (其帝顓頊 ,其神玄冥). Sở Từ bài Viễn Du của Lưu Hướng có câu: “Đón Chuyên Húc mà bày lời chừ, xét Huyền Minh ở không tang.” (就顓頊而敶詞兮,考玄冥於空桑). Vương dật chua: “Huyền Minh là thần mặt trăng” (玄冥,太陰之神). Lý Bạch trong bài Đại chạp phú có đoạn: “Ấy như: mùa đông thảm thiết, khí lạnh căm căm, chẳng muốn gió về, Huyền Minh ném tuyết.” (若乃嚴冬慘切,寒氣凛冽, 不周來風, 玄冥掌雪). Huyền Minh đồng thời trỏ thần phương bắc. Sách Hán Thư phần Dương Hùng truyện thượng, Nhan Sư Cổ chú dẫn ưng thiệu rằng: “Chuyên Húc, Huyền Minh, đều là thần phương bắc, chủ việc giết chóc.” (顓頊、玄冥,皆北方之神,主殺戮也). Hắc Đế, Huyền Minh đà đổi ấn, sóc phong, bạch tuyết hãy đeo đai. (Trừ tịch 194.3). x. Hắc Đế.
huyện hoa 縣花
dt. đc. dịch chữ hoa huyện 花縣. Phan Nhạc đời Tấn làm Huyện lệnh huyện Hà Dương, cho người trồng hoa đào khắp nơi. Mọi người khen: “Hà Dương một huyện hoa.” (河陽一縣花) (xem bạch Khổng lục thiếp q.17), sau dùng chữ huyện hoa, hay hoa huyện là để trỏ cảnh thịnh trị thái bình. Lý Hạ trong bài Xuân trú có câu: “Bình dương cụm hoa, Hà Dương huyện hoa.” (平陽花塢,河陽花縣 bình dương hoa ổ, Hà Dương hoa huyện). Diếp huyện hoa còn quyến khách, rày biên tuyết đã nên ông. (Thuật hứng 62.3).
Hy Dịch 羲易
dt. tức Chu Dịch, vì Phục Hy viết ra bát quái trong sách này nên gọi vậy. Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc phong. (Bảo kính 178.3).
hài 鞋
◎ Tày: hái [HTA 2003: 196].
dt. giày, giày là âm THV của hài [Alves 2009: 625]. (Ngôn chí 12.8)‖ Miệt bả hài gai khăn gốc, xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân. (Mạn thuật 33.7)‖ (Tức sự 126.5).
há 呵
tr nào có, có lẽ đâu, liệu có phải. (Thuật hứng 49.5)‖ chẳng biến dời cùng thế thái, những âu tây tối có thần minh. (Tự thán 96.3, 100.8)‖ (Tự thuật 112.1, 116.5)‖ (Bảo kính 130.4, 143.2, 162.2, 179.4, 181.4, 188.1)‖ (Mai thi 224.4)‖ (Đào hoa thi 230.1)‖ (Đào hoa thi 232.2).
hái 𦷫
◎ Ss đối ứng hải (Tày) [HTA 2003: 196].
đgt. ngắt. (Mạn thuật 31.6)‖ Hái cúc ương lan, hương bén áo. Tìm mai đạp nguyệt, tuyết xâm khăn (Thuật hứng 60.5, 54.5)‖ (Tự thán 95.3).
Hán Tần 漢秦
đc. theo Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm ghi chuyện người dân ở nguồn Đào hoa nói : “Đời trước tránh loạn nhà tần, đem vợ con và người trong ấp đến tuyệt cảnh này, chẳng ra nữa, cách ly hẳn với người ngoài, hỏi nay thuộc đời nào, thì chẳng biết đến nhà Hán, huống chi bàn đến nhà Nguỵ nhà Tấn.” (自云先世避秦時亂,率妻子邑人來此絕境,不復出焉,遂與外人間隔。問今是何世,乃不知有漢,無論魏晉). Cày ăn đào uống yên đòi phận, sự thế chăng hay đã Hán Tần. (Tự thán 102.8).
hân 欣
tt. <từ cổ> mừng, cười vui. Thuyết Văn: “Hân: cười vui.” (欣,笑喜也). Nhĩ Nhã: “hân: vui” (欣,樂也). Kinh Thi: “Rượu ngon vui vẻ.” (旨酒欣欣). hân hân được Việt hoá thành hớn hớn, hơn hớn. Mọi việc dừng, hân hết mọi âu, điền viên lánh mặc ta dầu (Bảo kính 159.1).
hè 夏
◎ Đọc âm THV. AHV: hạ. Ss đối ứng ha, hɛ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 226].
dt. mùa nóng. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa , kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Trần tình 45.6)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.2)‖ (Hoè 244.3).
hèn 閑
◎ pb nhàn. “閑” có âm phiên thiết đời Đường là “hàn”, cứ liệu: “hộ nhàn thiết” (戸閒切) (Đường vận) hoặc “hà nhàn thiết” (vận hội).
tt. <từ cổ> kém cỏi, không đáng gì. Bảy tám mươi bằng một bát tay, người sinh ở thế mới hèn thay. (Trần tình 45.2) (Tự thán 94.4).
tt. <từ cổ> nghèo, trái với phú; có địa vị thấp kém, trái với quý, lưu tích còn trong nghèo hèn, dịch chữ bần tiện. Lấy biêu phú quý đổi biêu hèn, có kẻ thì chê có kẻ khen. (Tức sự 124.1). (Thuật hứng 46.4). Kẻ dân hèn đều làm binh ← 甿隸皆兵 (TKML i 4), dân hèn dịch chữ manh lệ (dân đen), Thiếp hèn ở bên trời hãy còn có chưng lòng muông ngựa ← 天涯孽妾尚有犬馬之情 (TKML ii 11), thiếp hèn dịch chữ nghiệt thiếp (người thiếp có địa vị thấp kém).
tt. <từ cổ> sơ sài, thấp và nhỏ. Lều hèn vô sự ấy lâu đài, nằm ở chăng từng khuất nhiễu ai. (Tự thán 48.1). đng tiện (trong lều tiện).
hóng 烘
đgt. hứng. Tựa cội cây ngồi hóng mát, leo heo ta hãy một leo heo. (Thuật hứng 67.7)‖ (Bảo kính 170.1).
Hạ cảnh tuyệt cú 夏景絕句
dt. tên bài thơ số 197. Hạ cảnh tuyệt cú là bài thơ tuyệt cú (bốn câu) về cảnh mùa hè.
Hải Nhược 海若
dt. thần biển, theo bài Viễn Du trong Sở Từ. Hải Nhược chiết nên cành quế tử, Giang Phi chiếm được chước thiềm cung. (Thuỷ trung nguyệt 212.3)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.3).
hẩm 錦
tt. trong cơm hẩm. x. gẩm.
Hắc Đế 黑帝
dt. vị thần chủ phương bắc. Thời xưa có lễ cổ gọi là lễ nghinh đông. Mùa đông ứng với phương bắc, màu đen. Cho nên vào ngày lập đông, thiên tử dẫn trăm quan ra ngoài thành phía bắc làm ễ tế thần Hắc Đế để đón mùa đông đến. Sách Lễ Ký thiên Nguyệt lệnh ghi: “Ngày lập đông, thiên tử đích thân dẫn tam công cửu khanh Đại phu ra nghinh đông ở bắc giao.” (立冬之日,天子親師三公九卿大夫以迎冬於北郊). Sách hậu Hán Thư thiên Tế tự chí trung: “Ngày lập đông, đón mùa đông ở bắc giao, tế Hắc Đế, Huyền Minh, cờ xe quần áo đều màu đen cả.” (立冬之日,迎冬于北郊,祭黑帝玄冥,車旗服飾皆黑). Hắc Đế, Huyền Minh đà đổi ấn, sóc phong, bạch tuyết hãy đeo đai. (Trừ tịch 194.3).
hằng 恒
p. tt. <từ cổ> thường, luôn, mãi. Liêm, cần tiết cả tua hằng nắm, trung, hiếu niềm xưa mựa nỡ dời. (Ngôn chí 10.5, 12.3, 16.6, 18.3)‖ (Mạn thuật 24.3)‖ (Trần tình 38.3)‖ của hằng: dịch chữ hằng sản. (Tự thán 77.6, 92.4)‖ (Bảo kính 130.1, 133.7, 139.2, 139.5, 150.3, 184.4). x. sản hằng.
hằng lề 恒例
dt. thói thường, dịch chữ thường lệ 常例 (lệ thường, quy tắc thường thấy, quen dùng). Sách Bắc Tề Thư ghi: “Tài cao chẳng theo lệ thường” (才高不依常例). Chàu người họp, khó người tan, hai ấy hằng lề sự thế gian. (Bảo kính 139.2).
hẹn 限
AHV: hạn. x. ngần.
dt. sự ước định trước với ai đó sẽ làm việc gì. Làm quan thơ dại, tài chẳng đủ, về ở thanh nhàn, hẹn đã hòng. (Thuật hứng 61.6)‖ (Tự thán 107.5), Nguyễn Trãi trong bài Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác có câu: “Lâm tuyền có hẹn sao nỡ phụ, bụi đất cúi đầu ta tự thương.” (林泉有約那堪負, 塵土低頭只自憐 lâm tuyền hữu ước na kham phụ, trần thổ đê đầu chỉ tự lân)‖ (Tự thán 109.6)‖ (Tích cảnh thi 202.1)‖ (Đào hoa thi 231.3).
đgt. ước hẹn. Đông phong từ hẹn tin xuân đến, đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi. (Xuân hoa tuyệt cú 196.3).
hết hoà 歇和
đt. <từ cổ> tất cả. Mấy của yêu đương đà chiếm được, lại mong chiếm cả hết hoà xuân. (Tự thán 81.8).
hồng cúc 紅菊
dt. hoa cúc đỏ. Tên bài số 217 trong QATT.
hồng hộc 鴻鵠
dt. chim thiên nga, thường bay rất cao nên được ví với chí hướng hoài bão của kẻ sĩ, cũng nói hồng hộc chi chí 鴻鵠之志. Say hết tấc lòng hồng hộc, hỏi làm chi sự cổ câm (kim). (Thuật hứng 70.5). Tư Mã Thiên trong Sử Ký phần Trần thiệp thế gia có câu: “chim én chim sẻ kia sao biết được chí của chim hồng chim hộc” (燕雀安知鴻鵠之志 yến tước an tri hồng hộc chi trí).
hữu tình 有情
tt. có tình cảm. Ai hay, ai chẳng hay thì chớ, bui một ta khen ta hữu tình. (Tự thán 83.8)‖ (Tích cảnh thi 207.1)‖ (Trúc thi 221.1).
tt. đẹp đẽ khiến níu chân người. Dưỡng nhàn miễn được qua ngày tháng, non nước còn ghe chốn hữu tình. (Tự thán 78.8, 86.6).
hữu ích 有益
đgt. tt. có ích. Chận làm chi, tổn khí hoà, nào từng hữu ích, nhọc mình ta. (Giới nộ 191.2).
im 隂 / 庵 / 阴
tt. lặng, không có tiếng động. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Thuật hứng 56.5)‖ (Tự thán 81.6).
tt. không lay động. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.2)‖ (Bảo kính 150.1).
kham 堪
đgt. <từ cổ> có thể, đủ để. “kham: khá, chịu nổi, có sức” [Paulus của 1895: 478]. Lầm nhơ chẳng bén, tốt hoà thanh, quân tử kham khuôn được thửa danh. (Liên hoa 243.2)
đgt. <từ cổ> đáng [Vương Lộc 2001: 85]. Nghìn dặm trời dầu đủng đỉnh, kham cười anh vũ mắc chưng lồng. (Lão hạc 248.8).
kho 庫
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003b: 179]. AHV: khố.
dt. dịch chữ thiên phủ 天府 (kho nẫm thiên nhiên, sản vật phong nhiêu). Tam Quốc Chí phần Gia Cát Lượng truyện có câu: “Đất của kho trời.” (天府之土 thiên phủ chi thổ). Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5) ‖ (Tự thán 78.4)‖ kho vô tịn dịch chữ “vô tận tàng” (Bảo kính 146.7). Tô Đông Pha trong tiền xích bích phú có đoạn: “Gió mát bên sông, trăng thanh trên núi, tai nghe nên tiếng, mắt thấy nên màu, lấy không ai ngăn, dùng không hết xuể, đó là kho lẫm tạo hoá vậy.” (惟江上之清風,與山間之明月,耳得之而為聲,目遇之而成色, 取之無禁,用之不竭,是造物者之無盡藏也 duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tàng dã).
khoe khoang 誇矜
◎ Nôm: 誇光
đgt. khoe mẽ. “khoe khoang: vanè ostentare, jactare” [Morrone 1838: 267]. khoe khoang là âm Việt hoá của khoa căng. Sử Ký phần Hoá thực liệt truyện ghi: “Lòng khoe khoang vẻ vinh hoa quyền lực” (心誇矜势能之荣). Bền đạo Trung Dung chẳng khuở tàng, màng chi phú quý nhọc khoe khoang. (Bảo kính 129.2).
khong khảy 啌𠳚
◎ Phiên khác: khống khẩy (TVG), khóng khảy: vui vẻ, mừng rỡ (ĐDA, BVN). Nay theo Schneider, MQL.
tt. <từ cổ> “bộ thong dong, phong lưu” [Paulus của 1895: 500], “mou, délicat” [Génibrel 1898: 366]. Khong khảy kẻ cười cùng kẻ thốt, khó khăn người dể miễn người duôi. (Tự thán 106.5)‖ Khong khảy thái bình đời thịnh trị, nghiệp khai sáng tựa nghiệp trung hưng. (Bảo kính 188.7).
khoảng 爌
◎ Là tục tự của 曠 [Vương Lực 1982: 344 - 347]. Phiên khác: “gạch quẳng: viên gạch vất đi” [TVG,1956: 92]. “hòn gạch đã vỡ mà quẳng đi lại còn đem bày với ngọc được sao?” [ĐDA 1976: 426, 762]. “quẳng” [Bùi Văn Nguyên 1994: 90], “une brique jetée ne peut être placée à côté du jade” [Paul Schneilder 1987: 163]. “viên gạch vỡ vất (quẳng) đi. Đời Đường, nhà thơ nổi tiếng hiệu hà qua đất ngô. Tiến sĩ thường kiến biết hà sẽ đi qua chùa linh nham, bèn đề trước lên vách hai câu thơ. Khi hà đến, quả nhiên đề tiếp thành bài tứ tuyệt tuyệt hay. Mọi người bảo đó là ‘ném gạch dụ dẫn ngọc’, ý chỉ lấy cái thô thiển để lôi kéo cái cao minh. Sau thành điển phao chuyên dẫn ngọc” [MQL 2001: 848].
tt. quãng, khi (từ dùng để hỏi thời gian), khoảng nào nghĩa là “khi nào”. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3). Phiên là “khoảng” vì những lý do như sau. Thứ nhất, đọc lại cả bài thơ chúng ta sẽ thấy bài Tự thuật này không có cứ liệu nào hé mở về chuyện Nguyễn Trãi đang bàn đến việc “phao chuyên dẫn ngọc” trong khi làm thơ. Bài thơ đậm chất thể nghiệm về cuộc sống, với mật độ dày đặc của các từ ngữ, điển cố, thành ngữ nói về cuộc sống, nhân sinh, đạo đức, tư văn của nho gia. Này là chuyện “tranh giành thời cơ”, chuyện được mất tình cờ trong cuộc sống, này là chuyện ăn ở ở đời, chuyện làm lành làm dữ, chuyện đức chuyện tài… Chúng ta không thấy con người thi nhân đâu cả, mà chỉ thấy một Nguyễn Trãi ưu thời trong cõi thế thái nhân tình. Thứ hai, về luật đối, chúng ta thử đọc lại câu thơ trong liên thơ của nó: gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. Chữ “khoảng nào” đối với chữ “hằng những”. Nếu phiên “quẳng” thì sẽ phạm lỗi ngữ pháp, “quẳng” không đối với “hằng” được. Thứ ba, về ngữ liệu: câu 3 dùng điển 瓦玉集糅 (ngoã ngọc tập nhu) tương đương với thành ngữ “vàng thau lẫn lộn” trong tiếng Việt. Vương sung đời Hán trong sách Luận Hành viết: “hư vọng lại mạnh hơn chân thực, quả là loạn trong đời loạn, người chẳng biết đâu phải đâu trái, chẳng phân biệt màu đỏ màu tía, chung chạ bừa bãi, gạch ngói chất bừa, ta lấy tâm tình ta mà nói về những chuyện đó, há lòng ta có thể chịu được chăng?’” (虛妄顯於真實誠亂於偽世人不悟是非不定紫朱雜厠瓦玉集糅以情言之豈吾心所能忍哉). Nguyễn Trãi đã dùng thành ngữ này để đối với một thành ngữ khác ở câu dưới là “sừng mọc quá tai”, thành ngữ sau là một thành ngữ thuần Việt, gần nghĩa như câu hậu sinh khả úy. dân gian có chuyện, có anh học trò đi xin ăn, gặp ông quan, ông quan bảo: nay mười tư mai lại hôm rằm, học trò không làm, học trò đói ngàn năm. Anh học trò bảo: nay mồng một mai lại mồng hai, sừng không mọc, sừng mọc qua tai. Ý chuyện này nói rằng: cái sừng vốn mọc sau nhưng lại dài hơn tai, cũng như kẻ thiếu niên thường hay muốn vượt lên trên những người đi trước [chuyển ý ĐDA 1976: 762]. Dầu thấy hậu sinh thì dễ sợ, sừng kia chẳng mọc mọc hơn tai. (Bạch Vân )‖ Hay đâu tai mọc qua sừng, mới biết da kia hơn ruột (Sơn Hậu, 8).
khuyết 缺 / 鈌
đgt. lẹm bớt khiến không còn đầy như nguyên trạng. Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.8).
khuâng khuâng 傾傾
tt. <từ cổ> bâng khuâng, nao nao thương tiếc. Hầu nên khôn lại, tiếc khuâng khuâng, thu đến đêm qua cảm vả mừng. (Tích cảnh thi 199.1).
khuây 虧
◎ Nôm: 亐 AHV: khuy.
đgt. <từ cổ> giảm, nguôi, từ hiện đang dần ít dùng, lưu tích còn trong khuây khỏa. (Mạn thuật 25.6)‖ Đường thông khuở chống một cày, sự thế bao nhiêu vuỗn đã khuây. (Mạn thuật 28.2).
đgt. <từ cổ> quên, biến âm trong quên khuấy. Có chẳng có tài dùng chẳng đến, mựa rằng thánh đức có nơi khuây. (Bảo kính 137.8, 151.8).
khuất 屈
tt. chắn tầm nhìn, trong ẩn khuất 隱屈 (chen lấp khó thấy được, nghĩa dẫn thân là kín đáo). Chăng cài cửa, tiếc non che khuất, sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ. (Tự thán 108.5).
khá 可
AHV: khả.
đgt. <từ cổ> có thể, (khả năng). Thân đà hết luỵ, thân nên nhẹ, Bụt ấy là lòng, Bụt khá cầu. (Mạn thuật 30.6)‖ (Thuật hứng 47.1)‖ (Tự thán 72.6, 87.8)‖ (Bảo kính 183.1, 183.7)‖ (Cúc 217.6, 217.8)‖ (Đào hoa 232.4).
đgt. <từ cổ> hãy. Ở thế thì cho ta những thiệt, khoe mình khá chịu miệng rằng lành. (Tự thuật 113.6)‖ (Bảo kính 186.6, 137.6).
khách 客
dt. trái với chủ. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.6, 5.6)‖ (Mạn thuật 27.5, 35.5)‖ (Thuật hứng 48.3, 52.3, 56.7, 62.3)‖ (Tự thán 83.5, 90.6, 105.3)‖ (Bảo kính 167.3, 177.7)‖ (Tích cảnh thi 206.2).
đt. đại từ phiếm chỉ, trỏ người nào đó (nhiều khi trỏ chính tác giả). Dương tràng đường hiểm khúc co que, quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe. (Tự thán 73.2, 86.3)‖ (Bảo kính 141.3), dịch chữ hiền nhânKhách bàng quan. (Bảo kính 185.1, 186.8)‖ (Tảo xuân 193.7)‖ (Trần tình 43.2)‖ (Thuật hứng 65.2)‖ (Tự thán 101.2)‖ (Tự thuật 119.1, 120.4)‖ (Bảo kính 153.4, 163.6)‖ (Vãn xuân 195.7)‖ (Tích cảnh 200.3)‖ Khách thi nhân. (Tích cảnh 210.1)‖ Khách văn chương. (Cúc 216.4)‖ (Tùng 218.3)‖ Khách tri âm. (Trúc thi 222.2)‖ (Mai thi 224.3)‖ Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.3).
dt. sứ thần. Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang. (Ngôn chí 9.4).
đt. đại từ ngôi thứ ba. Pha lão chơi thu, khách nổi thuyền. (Tự thán 74.4)‖ Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng, đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. (Tích cảnh thi 208.1).
dt. người làm quan. Lồng chim ao cá từ làm khách, ngòi nguyệt ngàn mai phụ lệ nhà. (Tự thuật 118.5).
đgt. làm khách. Trùng dương mấy phút khách thiên nha, kịp phen này được đỗ nhà. (Quy Côn Sơn 189.1).
khê 溪
tt. (cơm) bị quá lửa, nên cháy sém hay hoá than, có mùi khét. “cơm khê. id” [Taberd 1838: 226]. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, cơm đói nài chi gẩm miễn khê. (Bảo kính 141.4). Cơm sôi cả lửa thì khê. (ca dao 36).
khí hoà 氣和
dt. dịch chữ hoà khí 和氣. Chận làm chi, tổn khí hoà, nào từng hữu ích, nhọc mình ta. (Giới nộ 191.1).
khó 苦
◎ Nôm: 庫 AHV: khổ. Ss đối ứng khỏ (Tày) [HTA 2003: 249], kʼɔ (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 231]. Đây là từ hán Việt-Mường, Hán Việt tày.
tt. vất vả, lao khổ. (Ngôn chí 8.2)‖ (Thuật hứng 66.2, 68.2)‖ Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2).
tt. <từ cổ> nghèo. Sách Quảng Nhã ghi: “khổ: bần cùng vậy.” (苦,窮也 khổ, cùng dã). (Ngôn chí 10.1)‖ Sự có cầu người nên rẻ mặt, phận tuy rằng khó miễn yên lòng. (Thuật hứng 56.4): dịch chữ bần nhi anKhó miễn vui. (Thuật hứng 58.7): dịch chữ bần nhi lạc‖ (Tự thán 77.1)‖ (Bảo kính 133.6, 143.3, 144.5, 172.7, 174.5, 176.7)‖ (Miêu 251.7). x. nghèo.
khó bền 庫卞
tt. <Nho> dịch chữ cố cùng 固窮 (cùng: khó; cố: bền). Luận Ngữ thiên Vệ linh công có đoạn: “khi Khổng Tử ở nước trần thì bị hết lương thực, các đệ tử đi theo sinh bệnh, không dậy được. Tử Lộ lo lắng hỏi: ‘quân tử mà cũng có lúc khốn cùng thế này sao?’ Khổng Tử trả lời: ‘quân tử lúc khốn cùng vẫn bền chí giữ tiết, tiểu nhân khốn cùng thì làm bậy’” (在陳絕糧,從者病,莫能興。子路慍見曰:“君子亦有窮乎?”子曰:“君子固窮,小人窮斯濫矣). Khó bền, mới phải người quân tử, mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
khó khăn 苦艱
◎ Nôm: 庫巾
tt. HVVT gian nan, vất vả, khổ sở. (Mạn thuật 27.1)‖ (Trần tình 38.8)‖ (Thuật hứng 57.2, 66.1)‖ (Tự thán 79.5, 106.6, 110.8)‖ (Tự thuật 115.1)‖ (Bảo kính 149.2, 175.4, 180.2)‖ Khó khăn, phú quý, học Tô Tần, miễn đức hơn tài được mỗ phần. (Bảo kính 187.1).
khóc 哭
AHV: khốc. Ss đối ứng ɲam (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 231].
đgt. trái với cười. Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ, đường cùng Nguyễn Tịch khóc làm chi. (Thuật hứng 57.6)‖ (Bảo kính 151.6)‖ (Vãn xuân 195.5).
khóc cười 哭唭
đgt. khóc và cười, trỏ trạng thái xúc cảm đối lập trước sự thăng trầm, thịnh suy, vui buồn của sự thế. Ở thế nhiều phen thấy khóc cười, năm nay tuổi đã ngoại tư mươi. (Tự thuật 120.1).
khóm 坎
dt. <từ cổ> khoảnh, khoảng không gian rộng [NH Vĩ 2010]. “đồng nhất khóm nhị sào” [bia 07208 năm 1487]. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1)‖ Khóm ruộng. (Bảo kính 150.7)‖ Thương Lang mấy khóm. (Ngôn chí 19.1)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.5). khóm đất, khóm ruộng, khóm nước, khóm Thương LangLàu làu muôn khóm pha lê (thuý sơn, 1), Thức xuân rước gió như cười, chòm thanh khóm dật khác vời chân du (Mai đình mộng ký, c. 153). x. cụm.
khô khan 枯乾
◎ Nôm: 枯刊 AHV: khô hạn. Khan: dùng ʂ- ghi kʰ-, là một cách ghi chứng tỏ mối liên hệ giữa hai âm này.
tt. <từ cổ> khô, không có nước, khô khan= khô hạn, hạn đọc khan, là do đồng hoá ngược về thanh. “kho khan: siccus, a, um. An no kho khan: victus frugalis” [Morrone 1838: 263]. Nằm có chiếu chăn cho ấm áp, ăn thì canh cá chớ khô khan. (Bảo kính 134.6).
khúc 曲
dt. đoạn (được xác định bằng một đoạn uốn cong). Dương tràng đường hiểm khúc co que, quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe. (Tự thán 73.1)‖ (Tự thuật 117.1)‖ (Bảo kính 154.3).
dt. đoạn nhạc, đoạn thơ. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8, 65.4)‖ (Tự thán 96.6).
khăng khăng 康康
tt. khư khư, không chịu rời. Giữ khăng khăng ai nỡ phụ, bù trì mựa khá để thon von. (Tự thán 87.7).
khắc 刻
dt. vết khắc vạch trên gỗ biểu thị một quãng thời gian đã qua, sau mỗi vạch là một đơn vị thời gian trong đồng hồ nước (cát), một khắc tương đương 14,4 phút theo giờ hiện đại, 100 khắc thì trọn một ngày một đêm. Sau khắc được dùng trỏ thời gian ngắn nói chung. thiên thơ án sách qua ngày tháng, một khắc cầm nên mấy lạng vàng (Thuật hứng 55.8).
khắc khoải 嘓󰬚
đgt. “tiếng chim kêu giéo giắt” [Paulus của 1895: 476]. Thư nhạn rạc rời khi gió, tiếng quyên khắc khoải khuở trăng. (Tự thán 98.4).
khốn 困
dt. <từ cổ> khốn cùng, quẫn bách. Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2), khốn hay hanh: Ss cùng tắc biến biến tắc thông 窮則變變則通 trong Kinh Dịch, do câu bần tiện ưu thích ngọc nhữ vu thành (nghèo hèn lo thương rèn dũa cho mình thành công). Ý nói càng gặp phải khốn khổ càng rèn dũa được tinh thần, và bĩ cực Thái Lai, rồi sau mới được hanh thông” [TVG,1956: 118].
kinh 經
dt. <Nho> sách vở, kinh điển của nho gia. Chớ người đục đục, chớ ta thanh, lấy phải thì trung, đạo ở kinh. (Bảo kính 156.2, 166.1, 166.7). canh [Rhodes 1651]
kép 夾
◎ Nôm: 甲 AHV: giáp
tt. có hai lớp, trái với đơn, như: Giáp y (夾衣) Áo kép kéo đi càng dài (CNNA 19). Đông hiềm giá lạnh chằm mền kép, hạ lệ mồ hôi kết áo đơn. (Bảo kính 134.3).
kết 結
đgt. khâu, dệt các sợi mà thành. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.5)‖ (Bảo kính 134.4). đng chằm.
đgt. làm bạn với, đánh bạn với. Chơi cùng đứa dại nên bầy dại, kết với người khôn học nết khôn. (Bảo kính 148.6)‖ (Mai thi 225.1). đng bạn.
kề 掑
tt. sát, gần với. Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch, kề nước cầm đưa tiếng cửu cao. (Mạn thuật 35.4)‖ (Thuật hứng 67.4).
đgt. kê cho gần, nằm sát với. Ngày nhàn gió khoan khoan đến, sát sát kề song chước hoè. (Tự thán 79.8, 97.4)‖ (Bảo kính 158.4).
kể 計
AHV: kê. Đồng nguyên tự: (- đơn, - khai) và kể (-lể, -chuyện).
đgt. kê ra, tính ra. Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.7, 36.3)‖ (Tự thán 72.6, 76.3, 102.5)‖ (Tích cảnh thi 203.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.2) trong Toan kể (Đào hoa thi 230.3).
lai 來
đgt. đến, lại, tới. Ngày ngày đã có tiên làm bạn, đưa thuốc tiên lai chẳng phải xin. (Thiên tuế thụ 235.4).
Lan Đình 蘭亭
dt. tên đình ở tây nam huyện thiệu hưng tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, nơi thư Pháp Gia nổi tiếng đời Tấn là Vương Hi Chi thường họp bạn khách bút mực văn chương để uống rượu ngâm thơ. Chính ở đây ông viết Lan Đình tập tự- tập thư thiếp nổi tiếng bậc nhất thời xưa, là khuôn mẫu cho thư pháp muôn đời. Lan Đình tiệc họp, mây ảo, Kim Cốc vườn hoang dế cày. (Trần tình 45.3).
lao xao 牢敲
tt. tiếng ồn ào từ xa vọng lại. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. (Bảo kính 170.5).
liêm 廉
tt. trong sạch, ngay thẳng, không tham của. Liêm cần tiết cả tua hằng nắm, trung, hiếu niềm xưa mựa nỡ dời. (Ngôn chí 10.5).
liệng 翎
◎ 翎 có AHV là “linh” (nghĩa: lông vũ).
đgt. chao cánh bay lượn. Phượng những tiếc cao diều hãy liệng, hoa thì hay héo cỏ thường tươi. (Tự thuật 120.5).
lo 慮
◎ Nôm: 卢 / 󱳮 Đọc âm HHV.
đgt. lo lắng, ưu tư, âu lo dịch từ ưu lự. Nẻo có ăn thì có lo, chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. (Ngôn chí 20.1)‖ (Tự thán 108.8)‖ (Bảo kính 172.7, 176.6).
lo toan 慮算
◎ Nôm: 󱳮算
đgt. HVVT lo lường, lo toan là âm HHV của lự toán. Cắp nắp làm chi hỡi thế gian, có thì ăn mặc chớ lo toan. (Bảo kính 134.2).
loàn 亂 / 乱
◎ Đọc âm THV, mối quan hệ giữa thanh hai (THV) và thanh sáu (AHV): 類 loài ~ loại, 露 lồ ~ lộ, 墓 mồ ~ mộ, 媚 (nhu) mì ~ (nhu) mị, 泥 nề (hà) ~ nệ (câu), 念 niềm ~ niệm, 讓 nhường ~ nhượng,… [Huệ Thiên 2006: 385]. AHV: loạn.
đgt. tt. <từ cổ> loạn, không có trật tự, không chính đáng. Vận trị cùng loàn, chỉn mặc thì, bằng ta sinh uổng có làm chi. (Tự thán 100.1)‖ (Bảo kính 133.4). x. loạn.
luỵ 累 / 纍
dt. những mối lo vướng víu, bó buộc cuộc đời. Nghĩa gốc là “dùng dây mà trói lại” [Karlgren 1923: 171; Schuessler 1988: 366]. (Mạn thuật 30.5)‖ Lòng chẳng mắc tham là của báu, người mà hết luỵ ấy thân tiên. (Tự thán 74.6, 108.8).
đgt. nhờ vả, nhờ cậy, gây liên luỵ đến, làm phiền tới. Nhà ngặt, bằng ta ai kẻ vì, khó khăn phải luỵ đến thê nhi. (Thuật hứng 57.2).
đgt. bị trói vào, vướng vào. Thiếu niên trường ốc, tiếng hư bay, phải luỵ vì danh, đã hổ thay! (Tự thán 75.2)‖ (Bảo kính 156.4, 158.6, 166.4,184.8).
là 羅
đgt. động từ quan hệ (hệ từ). Lảo thảo chưa nên tiết trượng phu, miễn phỏng dạng đạo tiên nho. (Ngôn chí 3.2, 13.8, 17.8)‖ (Mạn thuật 24.2, 24.7, 30.6, 31.7)‖ (Trần tình 38.6 39.8)‖ (Thuật hứng 48.5, 53.6, 60.8)‖ (Tự thán 74.5, 81.5, 83.5, 88.8, 91.7, 93.5, 95.2, 99.7)‖ (Tự thuật 115.1)‖ (Tức sự 124.7)‖ (Bảo kính 131.5, 145.3, 149.1, 158.5, 163.4, 177.7, 178.6, 179.4, 179.7, 186.8, 190.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.5)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.4)‖ (Mai 214.4)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Dương 247.4).
làn 𡔔 / 󱞉
dt. dòng (suối). Dò trúc xông qua làn suối, tìm mai theo đạp bóng trăng. (Tự thán 77.3).
dt. <từ cổ> đợt, tầng. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.2), ba làn: dịch chữ tam điệp 三疊 (?).
láng giềng 廊溋
dt. hàng xóm, người sống xung quanh ngay gần nhà mình. (Ngôn chí 15.8)‖ (Thuật hứng 57.4, 64.5)‖ Láng giềng một áng mây bạc, khách thứa hai nghìn núi xanh. (Bảo kính 169.5). đng lân cận.
lãng đãng 浪蕩
đgt. rong chơi khắp nơi, lang thang. Khương Quỳ đời Tống trong khiết đan ca có câu: “cả xuân lãng đãng chẳng về nhà, tự có mái lều lánh gió mưa” (一春浪蕩不歸家,自有穹廬障風雨 nhất xuân lãng đãng bất quy gia, tự hữu khung lư chướng phong vũ). Ấy còn lãng đãng làm chi nữa, sá tiếc mình chơi áng thuỷ vân. (Mạn thuật 29.7)‖ (Trần tình 45.7)‖ Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.8). x. lưởng thưởng, lững thững, lang thang.
lão hạc 老鶴
dt. con hạc già, tên bài thơ số 248 trong QATT. Hạc là con vật có tuổi thọ, bay cao, thường được coi là loài chim thiêng, là vật cưỡi của các vị tiên trong truyền thuyết của Đạo giáo.
lìa 離
◎ Nôm: 离 Đọc âm THV. AHV: li.
đgt. rời, rời xa. Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.2)‖ (Tự thuật 118.7)‖ (Bảo kính 135.4).
đgt. HVVD mất. Trụ trật quốc gia vì Đát Kỷ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi. (Giới sắc 190.4).
lòng 腸
◎ Nôm: 𢚸 AHV: tràng, trường (ruột, lõi, nhân bên trong). tròng = lòng, lòng trắng, tròng mắt, áp tròng. “tlão tlứng: lòng trắng trứng” [Rhodes 1651 tb1994: 231]. Xem thêm [Huệ Thiên: 415]. *tlaòng >rụng tiền tố [t-] >lòng, *tlaòng > hoà đúc > tròng. tlaòng là âm HHVH của giai đoạn xvii trở về trước. lòng được ghi bằng 車󱗲, kiểu tái lập *klaòng, ngữ cảnh: lòng nết chăng hay tối mò chăng lo áng nạ có ơn đức cả < 心行昆蒙不思爺娘有大恩德 (Phật Thuyết 17a). Trong khi đó, 腸 có âm HTC đọc *drjang (Lý Phương Quế), *l’ang (Trịnh Trương Thượng Phương), *g-ljaŋ (Baxter). Kiểu tái lập: *klɔŋ². [TT Dương 2012c].
dt. tâm. Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài. (Ngôn chí 6.6)‖ (Ngôn chí 7.6, 8.7, 10.3, 11.1, 11.7, 12.1, 19.7, 22.8)‖ (Mạn thuật 23.4, 26.8, 30.6, 32.5, 34.4, 34.6)‖ (Trần tình 39.8, 43.3, 49.5)‖ (Thuật hứng 50.7, 58.6, 59.2, 60.3, 63.5, 64.2, 68.7, 69.7, 70.5)‖ (Tự thán 74.5, 77.2, 79.4, 83.1, 86.3, 93.7, 96.5, 97.7, 100.7, 105.8, 106.3, 108.4, 109.5, lòng thắm: dịch chữ đan tâm‖ 110.8, 111.2)‖ (Tự thuật 112.5, 114.6, 115.6, 117.6, 118.4, 121.6)‖ (Tức sự 123.5, 125.7) lòng thường: dịch chữ hằng tâm‖ (Tự giới 127.2)‖ (Bảo kính 128.6, 135.5, 137.5, 138.1, 138.7, 140.5, 141.6, 143.1, 144.4, 145.8), lòng tây: dịch chữ tư tâm‖ (Bảo kính 146.3, 147.5, 156.5, 161.7, 165.3, 167.6, 169.8, 173.8, 178.2, 179.8)‖ Quân tử, thánh hiền lòng tựa nước, càng già càng ngẫm của bùi ngon. (Bảo kính 182.7) dịch câu đạm nhược thuỷ‖ (Bảo kính 184.6, 187.5, 187.7, 188.5)‖ (Vãn xuân 195.6)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4)‖ (Tích cảnh thi 201.2, 206.3, 208.4, 209.2, 210.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ (hoa mẫu 233.3)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Thái cầu 253.2, 253.4, 253.6)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.3).
dt. đáy, phần phía dưới. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3).
lòng người tựa mặt 𢚸𠊚似𩈘
đc. Thng nhân tâm như diện 人心如面. Tả Truyện có câu: “Lòng người khác nhau, như mặt mỗi người vậy.” (人心不同如其面焉 nhân tâm chi bất đồng như kỳ diện yên). Lòng người tựa mặt ai ai khác, sự thế bằng cờ, bước bước nghèo. (Mạn thuật 32.5).
lông 󱲧 / 𬖅
◎ Ss đối ứng loŋ (29 thổ ngữ Mường), suk (1 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 235]. “lông” là từ gốc Việt-Mường, “tóc” là từ gốc Nam Á. x. tóc.
dt. sợi mọc ngoài da động vật. Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông, ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.1)‖ (Trư 252.1).
lú 屡
◎ Phiên khác: cũ (TVG), lủ: lủ khủ, lụ khụ (ĐDA), lủ: như lú (BVN), lụ (VVK). Nay theo Schneider.
tt. lãng trí, đầu óc chậm chạp. “lú: người kém trí phán đoán” [Rhodes 1651 tb1994], lưu tích trong lú lẫn, gà lú. Già hoà , tủi nhiều hành. (Tự thán 80.2). Công danh bịn rịn già , tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.5).
lúc nhúc 六辱
tt. vẻ chen chúc. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.5).
lưng 𦝄
◎ Ss đối ứng lɣŋ (4 thổ ngữ), lɯŋ (18 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 236].
dt. cái lưng. (Ngôn chí 15.2)‖ Con mắt hoà xanh đầu dễ bạc; lưng khôn uốn lộc nên từ. (Mạn thuật 36.6), lấy ý từ câu nói của Đào Tiềm, bất vị ngũ đẩu mễ nhi chiết yêu (chẳng vì năm đấu gạo mà khom lưng đi làm quan). Đào Tiềm trong bài Cảm sĩ bất ngộ phú viết: “Thà cố cùng để giữ chí, chớ khom lưng mà luỵ thân.” (寧固窮以濟意,不委曲而累己 ninh cố cùng dĩ tế ý, bất ủy khúc nhi luỵ kỷ). Mạc Đĩnh Chi trong bài Quá bành trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư có câu: “Đấu gạo khá khom lưng? cởi ấn thà bỏ lộc.” (斗米肯折腰, 解印寧辭祿 Đẩu mễ khẳng chiết yêu, Giải ấn ninh từ lộc).
lương thần 良辰
dt. buổi đẹp trời. Nguyễn Tịch đời Tam Quốc trong bài Vịnh hoài có câu: “Hôm nao là buổi đẹp trời, áo khăn ta đọng sương trời chan chan.” (良辰在何許,凝霜霑衣襟 lương thần tại hà hứa, ngưng sương chiêm y khâm). Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai mà no chín tuần. (Vãn xuân 195.1).
lưới trần 䋥塵
dt. dịch chữ trần võng 塵網, ý nói con người sống trên đời luôn bị nhiều trói buộc, giống như con cá bị mắc vào lưới, cho nên những hệ luỵ cuộc đời được gọi là lưới trần. Đông Phương Sóc trong bài Dữ hữu nhân thư có câu: “Chớ để cho lưới trần giàm danh trói gò, sung sướng cười hoài, du chơi khắp thập châu tam đảo.” (不可使塵罔名韁拘鎖,怡然長笑,脱去十洲三島 bất khả sử trần võng danh cương câu toả, di nhiên trường tiếu, thoát khứ thập châu tam đảo). Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “Rơi nhầm vào lưới trần, thoắt cái ba mươi năm.” (誤落塵網中, 一去三十年 ngộ lạc trần võng trung, nhất khứ tam thập niên). Ngại ở nhân gian lưới trần, thì nằm thôn dã miễn yên thân. (Thuật hứng 60.1)‖ Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.2).
lạc 落
đgt. không tìm được lối về, trong lạc đường, cũng có thể hiểu theo nghĩa lạc là ở, trong toạ lạc. Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ, quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư. (Mạn thuật 34.5)‖ Ngày xem hoa rụng chăng cài cửa, tối rước chim về mựa lạc ngàn. (Tự thán 95.6).
Lạc Dương 洛陽
dt. kinh đô cổ của Trung Quốc, nằm bên bờ sông lạc, nổi tiếng là cảnh đẹp vào mùa xuân và hoa mẫu đơn. Lạc Dương khách ắt thăm thinh nhọc, sá mựa cho ai quảy đến bên. (Tảo xuân 193.7).
lạnh lùng 冷滝
tt. <từ cổ> lạnh, còn có biến âm lạnh rùng. Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng, đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. (Tích cảnh thi 208.2).
lạt 辣
◎ (AHV: lạt). Kiểu tái lập: *mlạt. *mlạt > rụng [m-] > lạt, *mlạt >hoà đúc > nhạt, *mlạt > rụng [-l-]> mạt (khinh mạt). [NN San 2004: 72]. Rượu mlạt. Hèn mlạt  [Rhodes 1651 tb1994: 150], “blat: insulsus. cuoi blat vel nhat: insulsè ridere” [Morrone 1838: 200]. Lưu tích còn trong tiếng Việt thế kỷ XIX: “nói mạt: nhiếc móc, nói bỏ xó, chê dể. chê mạt. Id.” [Paulus của 1895: 635], nghĩa này còn phảng phất thấy trong chữ cười nhạt. Ss đối ứng lac, lat (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 234].
tt. nhạt, trái với mặn. Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình (Tự thán 80.4).
tt. nhạt, sơ sài dịch chữ đạm (đạm bạc). Quân tử nước giao, âu những lạt, hiền nhân rượu thết, lọ là nồng! (Bảo kính 178.5): dịch câu quân tử chi giao đạm nhược thuỷ 君子之交淡若水 (sự giao đãi của quân tử với nhau vốn nhạt như nước [nhưng lại vững bền]) (Trư 252.5).
đgt. coi thường, lưu tích còn trong khinh lạt, khinh mạt. Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, một mình lạt khuở ba đông. (Tùng 218.2), dịch chữ lăng hàn 凌寒 (coi thường cái rét).
lấy chi 𥙩之
đgt. khng. làm chi. Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc, ấy còn bìu rịn lấy chi vay! (Tự thán 75.8)
lấy đâu 󰟵兠
khng. đâu có. Chặm tự nhiên một tấm lều, qua ngày tháng lấy đâu nhiều. (Thuật hứng 67.2, 68.3)‖ (Tự thán 109.1)‖ (Bảo kính 172.6).
lập 立
◎ Chuỗi đồng nguyên tự: lập - rắp - rập x. rập
đgt. dựng, rắp (tâm). Trị dân sơ lập lòng cho chính, có nước thường in nguyệt khá rây. (Bảo kính 137.5).
lặn mọc 吝木
đgt. lên xuống (mặt trời, mặt trăng,…). Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc, cuốc cày là thú những xung xăng. (Trần tình 38.5).
đgt. dịch chữ xuất một 出沒 (nổi chìm, thăng trầm). Ban đầu trỏ nghĩa mặt trời mặt trăng đắp đổi, ví dụ: Hôm mai lặn mọc (Huyền Quang - Vịnh Hoa Yên 19). Sang cùng khó bởi chưng trời, lặn mọc làm chi cho nhọc hơi. (Ngôn chí 10.2). sông yêu lặn mọc biết mấy khuở cho thôi, nhà lửa nấu nướng biết ngày nào cho rồi < 愛河出沒幾時休,火宅憂煎何日了 [Tuệ Tĩnh - thiền tông 22a]. Phiên khác: lăn lóc [TVG,1953].
lặng 浪
tt. im, không lay động. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.2)
tt. im, không tiếng động. Người tri âm ít, cầm nên lặng, lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu. (Tự thuật 121.5).
lẹt lạt 劣辣
tt. <từ cổ> thấp kém. lẹt (劣) gốc Hán [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 368], lạt gốc Việt, lưu tích trong hèn mạt/ hèn lạt (hèn = lạt = kém).x. mạt. Tài lẹt lạt nhiều, nên kém bạn, người mòn mỏi hết, phúc còn ta. (Ngôn chí 8.5).
lề 例
AHV: lệ.
dt. thói, lưu tích: lề lối (quy tắc thanh luật), lề thói. Bá di người rặng thanh là thú, Nhan Tử ta xem ngặt ấy lề. (Thuật hứng 48.6)‖ (Tự thán 88.6)‖ (Bảo kính 141.8, 144.7). Thng đất lề quê thói.
đgt. <từ cổ> làm theo lệ theo thói cũ. Song viết hằng lề phiến sách cũ, hôm dao đủ bữa bát cơm xoa. (Ngôn chí 18.3)‖ (Bảo kính 139.2): hằng lề dịch chữ thường lệ.
lễ 禮
dt. những nghi tiết được hình thành từ quan niệm đạo đức và trở thành chuẩn tắc cho hành vi xã hội. Hỉ nộ cương nhu tuy đã có, nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây. (Mạn thuật 25.6).
lễ nhạc 禮樂
dt. lễ và nhạc. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào, Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng, Chu. (Ngôn chí 15.4).
lệ 戾
đgt. <từ cổ> sợ, ngại [Vương Lộc 2001: 98]. (Thuật hứng 48.8)‖ (Tự thán 103.5)‖ (Bảo kính 160.4)‖ Sầm xem mai, hay tuyết đến, say thưởng nguyệt, lệ thu qua. (Bảo kính 168.4)‖ (Tích cảnh 199.4, 205.2).
đgt. <từ cổ> e, ngại. Đông hiềm giá lạnh chằm mền kép, hạ lệ mồ hôi kết áo đơn. (Bảo kính 134.4, 137.2).
lệnh 令
dt. điều người trên sai làm. (Tích cảnh 211.1)‖ Thu phát lệnh nghiêm hàng đỗ gấp, sương thanh bảng nhặt tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.5).
lịch quan 歷官
dt. <Tngls> chức quan giữ việc lịch pháp thời xưa. Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi, ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài? (Trừ tịch 194.7). “lịch quan là một dấu hiệu của người tham chính. Khi còn tham chính, ông cũng hỏi lịch quan trong bài Trừ tịch… từ chối lịch quan là phủ nhận công quyền. Đến đây ông không cần vinh hạnh đó nữa vì đã có cách tính ngày theo kinh nghiệm nhìn con nước của dân gian khi ông về sống cuộc đời dân vạn đại.” [NH Vĩ 2010].
lịu điệu 了鳥
đgt. <từ cổ> cứ vất vả đeo bám mãi, không dứt ra được, cứ mắc míu mãi, âm cổ của lẽo đẽo. “lịu điệu. mắc vợ con lịu điệu.” [Paulus của 1895: 570], “Lịu điệu: bộ dìu dắc đem nhau đi, không được rảnh rang.” [Paulus của 1895: 298]. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.5). lịu điệu tìm thửa của cải chưng rất khinh mà chẳng kịp thôi. (Tuệ Tĩnh-Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục: 19b).
lồng 籠
◎ Nôm: 篭 AHV: lung. Ss đối ứng loŋ (11 thổ ngữ Mường), sɔŋ (4 thổ ngữ), rɔ (2 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 235]. Như vậy, “lồng” gốc Hán, “rọ” gốc Việt-Mường.
dt. dụng cụ bằng tre, để nhốt động vật. Hùm oai muông mạnh còn nằm cũi, khiếu hót chim khôn phải ở lồng. (Tự giới 127.6)‖ (Lão hạc 248.8). x. anh vũ mắc lồng.
đgt. in, có ánh sáng xuyên qua. Tác ngâm song có mai và điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.4)
lồng chim ao cá 篭𪀄泑𩵜
Thng dịch chữ 籠鳥池魚 lung điểu trì ngư. Phan Nhạc đời Tấn trong bài Thu hứng phú có câu: “Ví như chim lồng cá ao, còn mang lòng suối khe đầm núi.” (譬猶池魚籠鳥,有江湖山藪之思 thí do trì ngư lung điểu, hữu giang hồ sơn tẩu chi tư). Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “Chim mắc lưới luyến rừng xưa, cá nằm ao mơ vực cũ.” (羈鳥戀舊林,池魚思故淵 ky điểu luyến cựu lâm, trì ngư tư cố uyên). Sau, câu này còn dùng để ví với những tai hoạ không may gặp phải, hoặc ví với cảnh bị ràng buộc mất tự do, như trì ngư chi hoạ 池魚之禍 hay trì ngư chi lự 池魚之慮. Lồng chim ao cá từ làm khách, ngòi nguyệt ngàn mai phụ lệ nhà. (Tự thuật 118.5). ở đây tác giả đang nói đến chuyện bị cầm cố trong chốn quan trường.
lỗ tai 鲁𦖻
dt. bộ phận thu âm của tai, trỏ tai nói chung. Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khua na đắng lỗ tai. (Trừ tịch 194.6). x. tai.
lỗ tiền 魯錢
dt. chỗ khuyết vuông ở giữa tiền đồng. Của nhiều sinh chẳng được con hiền, ngày tháng công hư, chực lỗ tiền. (Bảo kính 186.2).
lời 󱊻
◎ Kiểu tái lập: *mlời> hoà đúc> nhời, *mlời > rụng [m-] > lời. “cãi mlời, cướp mlời…”[Rhodes 1651 tb1994: 150; xem HT Ngọ 1999: 109; TT Dương 2012a].
dt. câu nói. Chớ cậy sang mà ép nè, lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2)‖ (Bảo kính 128.7, 185.1).
lợi danh 利名
AHV: lị danh.
dt. danh và lợi nói chung. Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa sày, có thân chớ phải lợi danh vây. (Ngôn chí 11.2).
lục 綠
tt. xanh lá cây, xanh quan lục. Mấy kẻ công danh nhàn lững đững, mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu. (Tự thuật 121.8)‖ (Bảo kính 170.2)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.3)‖ (Thiên tuế thụ 235.1)‖ (Hoè 244.3).
tt. màu xanh nói chung. Đầu non Thiếu Thất đen bằng mực, dòng nước Liêm Khê lục nữa tràm. (Tự thán 97.6).
lục kinh 六經
dt. sáu bộ kinh điển chính của nho gia, gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, kinh Xuân Thu, kinh lễkinh nhạc (theo Nhan Sư Cổ). Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.4).
minh chúa 明主
AHV: minh chủ.
dt. minh quân, vị vua sáng. Ước bề trả ơn minh chúa, hết khoẻ phù đạo thánh nhân. (Trần tình 37.5).
miền 沔
dt. từ trỏ nơi chốn. Ngàn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương. (Trần tình 42.3).
mà 麻
lt. biểu thị mục đích, lưu tích trong để mà. (Trần tình 44.1)‖ Chỉn sá lui thủ phận, lại tu thân khác, mặc “thi thư”. (Mạn thuật 34.7)‖ (Bảo kính 152.2, 162.2).
lt. Như nếu, lưu tích trong nếu mà. Lòng chẳng mắc tham là của báu, người hết luỵ ấy thân tiên (Tự thán 74.6).
lt. Nhưng, trái lại. Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai no chín tuần. (Vãn xuân 195.2). Họ phùng thì chuộng thông họ từ thì giữ lễ. (TKML i 15).
màng 望
◎ Nôm: 恾 / 忙 Đọc theo âm THV. AHV: vọng. x. mường tượng, mong, chốc mòng.
đgt. mong, muốn. Những màng lẩn quất vườn lan cúc, ắt ngại lanh tranh áng mận đào. (Thuật hứng 52.5)‖ (Tự thán 84.5)‖ (Bảo kính 178.4, 186.4).
đgt. HVVT quan tâm. Chàu mấy kiếp, tham lam bấy, sống bao lâu, đáo để màng. (Thuật hứng 55.4, 66.1)‖ (Bảo kính 129.2, 147.4).
mãi mãi 買買
p. (kéo dài) không bao giờ dứt. Vệ nam mãi mãi ra tay thước, điện bắc đà đà yên phận tiên. (Bảo kính 183.5).
mèo 貓 / 猫
AHV: miêu.
dt. con mèo. Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, lẻo lẻo duềnh xanh con mắt mèo. (Tự thán 101.6). đng vằn.
mùa 務
◎ Đọc âm THV. Ss đối ứng muə (29 thổ ngữ ) [NV Tài 2005: 243].
dt. quãng thời gian được chia theo từng kỳ nhỏ trong một năm có thể ứng với một vụ cày cấy gieo trồng, mùa: đọc theo âm THV. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ (Tự thán 81.2)‖ (Tức sự 124.4)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.3)‖ (Mai 214.1)‖ (Trường an hoa 246.4).
mướn mung 慢夢
◎ Phiên khác: muộn mùng: muộn mằn, chậm trễ, lỡ thời (TVG), muộn màng (BVN), muộn mòng: thuê mướn (ĐDA), mượn mòng: thuê mướn (MQL, PL). Xét, “muộn” luôn được ghi bằng thanh phù 悶 trong lịch sử. Chữ “mượn” hơi khác nghĩa so với “mướn” dù là hai đồng nguyên tự. “mượn” nghĩa là “dùng nhờ đồ của người khác”, còn “mướn” là “chịu giá thuê mượn ít lâu” như thuyền mượn lái mướn [Paulus của 1895 t2: 59]. Ss đối ứng maɲ, muən (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 245].
đgt. thuê, âm “mướn mung” là một dạng láy theo khuôn “ung hoá”, như Lạnh lùng, sượng sùng, thẹn thùng, ngại ngùng… ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.2).
mạc 模
đgt. <từ cổ> hình dung ra [Nguyễn Quang Hồng 2006: 655]. Mạc được thú mầu trong khuở ấy, thế gian hay một khách văn chương. (Trần tình 42.7)‖ Tiêu sái mấy lòng đà mạc được, bảo chăng khứng mạc một lòng thơm. (Tự thán 97.7).
mạn thuật 謾述
dt. tên chùm bài từ số 23 đến số 36, gồm 14 bài thơ. Mạn thuật là những bài thơ ghi chép về những suy nghĩ tản mạn. Tưởng thân hư ảo nổi bằng bèo, chí cũ công danh vuỗn rã keo. (Mạn thuật 32.1).
mạy mọ 眉某
đgt. <từ cổ> rờ rẫm, lần mò, như máy mó, mọ: âm Việt hoá của chữ 摸, như mô ngư 摸魚 (mò cá), Phng. Thanh Hoá còn nói mọ cá, các biến âm: mày mò, mầy mò, máy mó, mó máy. “Mó máy: manus irrequietæ.” [Taberd 1838: 308]. Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.3).
mầu 牟
tt. <từ cổ> dịch chữ diệu 妙. Thú mầu. (Bảo kính 154.2), dịch chữ diệu thú 妙趣‖ Được thì xem áng công danh dễ, đến lẽ hay cơ tạo hoá mầu. (Bảo kính 162.6), dịch chữ diệu cơ 妙機.‖ Từ bén hơi xuân tốt lại thêm, đầy buồng lạ mầu thâu đêm. (Ba tiêu 236.2). Chữ lạ mầu dịch từ chữ kỳ diệu.
mật 蜜
dt. chất ngọt của nhị hoa, của mía hay của ong tạo nên, đồng nguyên với mứt. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5).
mắc 默
đgt. vướng phải. Lòng chẳng mắc tham là của báu, người mà hết luỵ ấy thân tiên. (Tự thán 74.5)‖ (Lão hạc 248.8).
mặn lạt 蔓辣
◎ Ss đối ứng của “mặn”: măn (13 thổ ngữ Mường), căm (15 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 237].
tt. mặn nhạt, (bóng) trỏ việc thân gần và xa lánh của người đời. Chông gai nhẻ đường danh lợi, mặn lạt no mùi thế tình. (Tự thán 80.4).
mếch 覔
◎ Kiểu tái lập: *mlếch. *mlếch > mếch (trong chếch mếch), *mlếch > lệch, *mlếch > nhếch (nhếch mép: cười lệch một bên mép).
tt. <từ cổ> lệch, lưu tích còn trong từ chếch mếch , “thiên trọng, trọng riêng” [ĐDA]. Taberd, Génibrel 1898 , “faveur paticulière” (biệt đãi) [Schneilder 1987]. Tiên Bô kết đã bấy thu chầy, ngẫm ngọt dường bằng mếch trọng thay. (Mai thi 225.2), mếch trọng dịch chữ thiên ái 偏愛.
mền 綿
◎ Nôm: 綿 AHV: miên, nghĩa: bông, sợi bông tinh. Âm HTC: men (Trịnh Trương Thượng Phương, Phan Ngộ Vân).
dt. vhvd. chăn, “mền chiếu, đắp mền” [Taberd 1838: 304]. Đông hiềm giá lạnh chằm mền kép, hạ lệ mồ hôi kết áo đơn. (Bảo kính 134.3). x. chăn.
mệnh 命
dt. vận số, theo khoa tử vi trong quan niệm truyền thống của người xưa. Phúc gặp ngần nào ấy mệnh, làm chi đua nhọc tốn công nhiều. (Bảo kính 135.7)‖ (Bảo kính 163.7, 175.4). x. số mệnh. (Tự thán 71.2)
mọc 木
đgt. ló lên. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.3)‖ (Tự thán 88.3, 92.4).
mối 䋦
dt. đầu sợi dây, (bóng) trỏ đầu các mối quan hệ xã hội, dịch chữ đoan 端. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.6).
mỗ 某
đt. <từ cổ> thường đứng trước danh từ, từ phiếm chỉ, nọ, nào đó, trỏ người hay sự vật nào đó chưa biết một cách rõ ràng xác định. Thuỷ chung mỗ vật đều nhờ chúa, động tĩnh nào ai chẳng bởi sày. (Mạn thuật 25.3)‖ (Tự thán 95.1, 100.4)‖ (Bảo kính 167.2).
đt. <từ cổ> trỏ đối tượng đã nhắc đến, hoặc đối tượng mà ai cũng đã biết. Sách Phật Thuyết có câu: Mày tuy là đệ tử cả tao, đi tu hành tuy rằng đà lâu ngày, hay sự mỗ chưa rộng. (tr. 7), sự mỗ tức các sự việc trong đời. Ở thế những hiềm qua mỗ thế, có thân thì sá cốc chưng thân. (Mạn thuật 33.3), mỗ thế: cuộc đời này‖ (Thuật hứng 59.3)‖ (Tự thán 73.7), mỗ phận: phận của mình (tức trỏ phận của các loài phi tẩu)‖ (Tự thán 98.8)‖ (Cúc 216.8), mỗ mùi hương: mùi hương của từng loài hoa (Cúc và lan).
đt. <từ cổ> ngôi tự xưng, ta, có thể dùng làm chủ ngữ, cũng có thể làm tính từ với nghĩa “của ta”. Vương An Thạch 王安石 đời Tống trong du bảo thiền sơn ký 游褒禪山記 viết: Vương Mỗ 王某 và tự chua rằng “Vương Mỗ tức Vương An Thạch tôi. Cổ nhân xưa khi biên soạn sách vở, khi viết đến tên mình, thường chỉ viết chữ mỗ để thay thế, hoặc viết chữ mỗ sau họ của mình. Sau khi viết xong, cho chép lại sách ấy thì mới chính thức viết danh tính”. Trong sách Phật Thuyết có đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất là mỗ giáp : tôi, ta (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít). Dịch từ chữ Hán tương ứng ngã 我 trong câu Ấy vậy mỗ giáp kĩnh lễ ← 是故我皈依 Phật Thuyết, 2b1 ‖ (Ngôn chí 7.1)‖ Phú quý chẳng tham thanh tựa nước, lòng nào vạy, mỗ hây hây. (Ngôn chí 22.8)‖ (Mạn thuật 29.4, 31.4, 34.4)‖ (Tự thán 94.4, 104.8, 106.2)‖ (Tự thuật 114.1, 115.2)‖ (Bảo kính 142.6, 157.7, 180.2)‖ Quý nương đà trở lại lê viên, lui gót mỗ dời chân dặm liễu. (đinh Lưu Tú 11).
dt. <từ cổ> trỏ số lượng nhỏ, chút, mảy may. Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục có câu: chẳng mỗ phút hơi, xẩy vậy cả mưa < 不瞬間忽然大雨. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.2, 38.1)‖ (Thuật hứng 52.2).
dt. <từ cổ> một. Khi mát về chiêm bao khách êm, chốn sơn phòng chẳng có mỗ việc < 涼回客夢清,山房無個事 (TKML). Trong tiếng Hán, “cá” là lượng từ chỉ đơn vị cá thể, đứng trước nó thường là từ chỉ số lượng. Trường hợp từ số lượng là “một”, thì không nhất thiết phải dùng. Do vậy “cá sự” có thể hiểu là “nhất cá cự”, có nghĩa là “một việc”, ở đây được giải âm là “mỗ việc”, thế thì “mỗ” phải là từ chỉ số lượng [NT Nhí 1985]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8) ‖ (Mạn thuật 33.8)‖ (Bảo kính 187.2).
mộc hoa 木花
dt. hoa mộc, tên bài thơ số 241. Mộc hoa là các gọi tắt từ mộc tê hoa 木樨花, là loại cây nhỏ, hoa thơm, có thể dùng ướp trà, ngâm rượu, hay làm nước gội đầu, nước hoa.
một cơm hai việc 蔑𩚵𠄩役
Thng ngày xưa thuê thợ, có 2 cách thuê: công nhật và công khoán. Công nhật làm theo ngày. Công khoán làm theo việc. Công khoán thường chỉ thuê những việc dễ kiểm tra về kết quả, khối lượng, những việc không cần nhờ tay nghề cao. Còn lại, những việc mộc nề đòi hỏi thời gian và chất lượng cao, người ta thuê công nhật. Người ta quan niệm công nhật vẫn tốt hơn công khoán. Những người thuê công khoán thường bị xã hội chê cười là dại và bủn xỉn. Khi thuê công nhật, luôn hợp đồng với nhau về một bữa cơm trưa. Như vậy là một bữa cơm và hai bữa (buổi) làm. Người ta gọi là “một cơm hai việc”. Vậy, “một cơm hai việc” để chỉ những người thạo nghề, tinh nghề, sõi nghề có thể chủ động đàm phán, kí kết. Cách nói này thì cũng như nói “tối rượu sâm banh sáng sữa bò” là chỉ công chức thuộc địa, chỉ ông thông ông phán. Cầm nghề tinh thông là “ăn cơm thiên hạ”, là “ruộng bề bề không bằng nghề cầm tay”. Điều đó ai cũng muốn mà xã hội cũng muốn [theo giải thích của NH Vĩ]. Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.5)
một mai 蔑埋
dt. rồi đây (tương lai gần), cấu trúc một mai = một sớm = một hôm. Đương cơ ai kẻ khứng nhường ai, thua được tình cờ có một mai. (Tự thán 92.2).
mới 買
lt. với. Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt, chưa dễ bằng ai đắn mới đo. (Ngôn chí 20.8)‖ Mắng cầm ve mới đỗ quân. (Điệp trận 250.8).
p. nhấn mạnh hệ quả của tiền đề đã nêu trước đó. Khỏi triều quan mới hay ơn chúa, sinh được con thì cảm đức cha. (Trần tình 39.5, 43.5)‖ (Thuật hứng 66.2)‖ (Tự thán 89.2, 102.6)‖ (Tự thuật 113.7, 116.8)‖ (Bảo kính 131.5, 135.5, 152.8, 153.2, 156.3, 157.3, 164.5, 166.6, 173.2, 174.8, 183.1)‖ (Giới nộ 191.7)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.8)‖ (Tùng 220.3)‖ (Trúc thi 222.2)‖ (Giá 238.4)‖ (Cúc 240.2).
p. từ đệm giữa câu, như rằng. (Trần tình 45.2)‖ Văn này gẫm thấy mới thon von, thương hải hay khao, thiết thạch mòn. (Thuật hứng 49.1).
p. đã, tỏ sự vỡ lẽ. Mới biết doanh hư đà có số, ai từng cải được lòng trời. (Tự thán 85.7)‖ Mới trách thanh đồng tin diễn đến, bởi chưng hệ chúa đông quân. (Tích cảnh thi 210.3).
p. vừa mới. Xuân chầy liễu thấy chưa hay mặt, vườn kín hoa truyền mới lọt tin. (Tảo xuân 193.4).
mởn mởn 𠽊𠽊
tt. <từ cổ> âm cổ của mơn mởn. Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.2).
nam 南
dt. trái với bắc. (Thủ vĩ ngâm 1.1, 1.8)‖ (Thuật hứng 64.2)‖ Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.2, 183.5)‖ nam chi (Mai 214.2), Ss thơ Lưu Vũ Tích có câu: mai hoa nhất dạ mãn nam chi (hoa mai một đêm đầy cành nam).
Nam Dương 南陽
dt. địa danh ở tỉnh hồ bắc, Trung Quốc ngày nay, là nơi Khổng minh Gia Cát Lượng dựng lều ở ẩn. Léo chân nằm vườn Độc Lạc, chặm lều ở đất Nam Dương. (Tức sự 125.4)‖ (Bảo kính 157.8).
Nghiêm Quang 嚴光
dt. (? - ?), vốn mang họ Trang, người đời sau vì kỵ huý vua Hán Minh Đế Lưu Trang mà cải họ, lại có tên là Tôn, tự là Tử Lăng , người Dư Diêu. Ông là người cùng học với Lưu Tú. Đời Đông Hán niên hiệu Kiến Vũ thứ nhất (25), Lưu Tú lên ngôi, tức Quang Vũ Đế, Nghiêm Quang bèn đổi họ đi ở ẩn ở bờ sông Phú Xuân (Đồng Lô, Hàng Châu, Chiết Giang), ngày ngày buông câu trên bờ, sau chỗ này gọi là nghiêm Tử Lăng điếu đài (đài câu Tử Lăng). Lưu Tú nhớ bạn hiền thuở xưa, sai người vẽ hình Tử Lăng cho tìm khắp thiên hạ, khi được tin liền sai sứ gióng xe ba lần vời về kinh đô Lạc Dương. Khi ấy có người quen cũ là hầu bá đang lĩnh chức tư đồ, sai người đến hỏi thăm, quang nói rằng: “Lòng nhân bỏ nghĩa thiên hạ vui, a dua theo chỉ thì sớm chết.” (懷仁輔義天下悦,阿諛順旨要領絕 hoài nhân phụ nghĩa thiên hạ duyệt, a du thuận chỉ yếu lĩnh tuyệt). Đến khi Lưu Tú đích thân tới thăm, Nghiêm Quang nằm không thèm dậy, vua bèn vỗ vào bụng nói, chà Tử Lăng, vì sao chẳng ra giúp ta? Tử Lăng hồi lâu mới giương mắt nhìn rồi đáp, kẻ sĩ vốn có chí, việc gì mà đến bức nhau thế? Lưu Tú đành lên xe về. Sau Quang Vũ Đế lại vời quang vào cung nói chuyện cũ, nằm chơi nói chuyện với nhau cả đêm. Tương truyền quang còn gác cả chân lên bụng vua. Vua định trao chức gián nghị Đại phu, nhưng Nghiêm Quang không chịu, lại về núi Phú Xuân cày cấy câu cá. Sau lại chuyển về quê, thọ tám mươi tuổi. Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến, Đồng Giang được nấn một đài câu. (Bảo kính 153.7). x. Tử Lăng.
Nghiễn trung ngưu 硯中牛
dt. trâu nằm trong cái nghiên mực. Tên bài số 254. Thời xưa, người ta thường khắc hình một con trâu nằm trong nghiên mực, dùng để trang trí. Nguyễn Trãi mượn lối vịnh vật để nói về đạo học của các nhà Nho.
nghĩ 擬 / 𢪀
đt. <từ cổ> dịch chữ tự 自 (tự tại, tự mình, một mình mình, không cần đến tha nhân tha vật). Chim đến cây cao chim nghĩ đỗ, quạt hay thu lạnh quạt sơ thâu. (Trần tình 40.5)‖ Đều nghĩ trở đầu lại mà soi trong lòng, mựa khiến rông lòng buông đi 各自廻光內照,毋令逐境外求各自廻光內照,毋令逐境外求 各自廻光內照,毋令逐境外求 (Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục 47b1). Sao bèn rông chưng lòng dục bời bời, nghĩ phen dâm rắn 胡乃容厭厭之欲,自效蛇淫胡乃容厭厭之欲,自效蛇淫胡乃容厭厭之欲,自效蛇淫 (TKML ii 16a).
nghĩ ngợi 擬艾
◎ Ss đối ứng của nghĩ: ŋj (17 thổ ngữ Mường), ŋăm (11 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 249].
đgt. ngẫm, suy lo. Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng, lá chưa ai quét cửa thông. (Thuật hứng 51.7).
nguyện xin 愿請
◎ Nôm: 願嗔
đgt. muốn thỉnh cầu theo nguyện vọng. Mọi sự đã chăng còn ước nữa, nguyện xin một thấy khuở thăng bình. (Tự thán 107.8).
ngáy 哎
◎ Thanh phù: ngải.
đgt. gáy. Nẻo có ăn thì có lo, chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. (Ngôn chí 20.2)‖ Hễ kẻ làm khôn thì phải khó, chẳng bằng vô sự ngáy pho pho. (Bảo kính 176.8).
ngã 我
đgt. trượt té khiến thân mình rơi xuống. Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.8)‖ (Bảo kính 185.6).
ngó 午
◎ Phiên khác: ngủ.
đgt. nhìn ra. Tác ngâm song có mai và điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.4). x. xem.
ngư tiều 漁樵
dt. ngư phủ và tiều phu, thuộc ngư tiều canh mục. Gưởi tính ngư tiều hai đứa lẫn, của ai non nước khiến ta bàn. (Tự thán 95.7, 102.4).
ngạc 萼
◎ Phiên khác: ngạt (TVG, ĐDA), ngắc (VVK).
tt. <từ cổ> tắc, “không thông” [Paulus của 1895: 693]. Đến trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.1).
ngả 我
đgt. nghiêng xuống thấp, lưu tích còn trong ngả nghiêng. Tà dương bóng ngả khuở giang lâu, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 14.1)‖ Trường văn nằm ngả mấy thu dư, uổng tốn công nhàn biện “lỗ ngư” (Mạn thuật 34.1).
ngọt 兀
◎ Ss đối ứng của nghĩ: ŋɔc, ŋɔt (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 250].
tt. trái với đắng. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.5).
tt. (bóng) ngon ngọt, xử thế khéo léo dễ chịu. ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng, quá chua liền ủng có ai màng. (Bảo kính 147.3).
nhà chàu 茹𢀭
dt. người có lắm tiền của. Lân cận nhà chàu no bữa cốm, bạn bè kẻ trộm phải đau đòn. (Bảo kính 148.3).
nhân luân 人倫
dt. các mối quan hệ cơ bản của con người theo học thuyết chính trị xã hội của nho gia. Điền địa chử tham hơn bỏ ải, nhân luân mựa lấy dưới làm trên. (Bảo kính 142.4).
nhân sinh 人生
dt. đời người. Tai thường phỏng dạng câu ai đọc: “rốt nhân sinh bảy tám mươi”. (Tự thán 76.8, 85.2)‖ (Bảo kính 138.8).
nhân tâm 人心
dt. lòng người. Nẻo đua khí huyết, quên nhân nghĩa, hoà thất nhân tâm, nát cửa nhà. (Giới nộ 191.4).
nhèn 閑
tt. <từ cổ> trại âm của nhàn. Ruộng nhiều quê tổ năm ba thửa, tạc tỉnh canh điền tự tại nhèn (Bảo kính 140.8). x. nhàn, pb hèn.
nhưng 仍
đgt. <từ cổ> dừng, hoãn, “huởn cho” [Paulus của 1895: 757]. Non cao Bạch Thạch nào đời Chuyển, nước cả Hoàng Hà há khuở nhưng. (Bảo kính 181.4).
đgt. <từ cổ> giảm bớt, dứt đi [Paulus của 1895: 757]. Vườn hoa khóc tiếc mặt phi tử, đìa cỏ tươi nhưng lòng tiểu nhân. (Vãn xuân 195.6). nhửng.
nhường 讓
đgt. trong nhường nhịn. Đương cơ ai kẻ khứng nhường ai, thua được tình cờ có một mai (Tự thán 92.1).
nhẫn dầu 忍油
k. <từ cổ> cho dù. Đạo quân thân nhẫn dầu ai lỗi, hổ xanh xanh ở trốc đầu. (Bảo kính 159.7).
nhậm 任
◎ Nguyên văn: 任, kính khuyết nhất bút, lệ kỵ huý thời Nguyễn [NĐ Thọ 1997: 152].
đgt. giữ chức vị được giao. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
nhắn bảo 忍保 / 𠴍保
đgt. gửi lời khuyên cho người khác. Này lời nhắn bảo khách bàng quan, khôn phải lo lường, dại được an. (Bảo kính 185.1)‖ Nhắn bảo phô bay đạo cái con, nghe lượm lấy, lọ chi đòn. (Huấn Nam Tử 192.1).
nhắn nhủ 認󱸺
đgt. gửi lời khuyên. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.5).
nhọc thân 辱身
tt. mệt thân. Mấy phen lần bước dặm thanh vân, đeo lợi làm chi luống nhọc thân. (Bảo kính 165.2)‖ (Tích cảnh thi 204.1).
nhỏ 𡮈
tt. trái với lớn. Chẳng ngừa nhỏ, âu nên lớn, nẻo có sâu, thì bỏ canh (Bảo kính 136.5).
nhờ 如 / 洳 / 茹
đgt. dựa vào, cậy vào. Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.5)‖ (Mạn thuật 25.3)‖ (Trần tình 38.3)‖ (Thuật hứng 68.6)‖ (Tự thán 90.3, 108.6)‖ (Tự thuật 112.6)‖ (Bảo kính 168.5)‖ (Lão mai 215.7).
nhục 辱
tt. trái với vinh. Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh (Tự thán 96.8). x. bao nhiêu.
đgt. <từ cổ> bị ghét. Yêu nhục nhiều phen vuỗn đã từng, lòng người sự thế thảy lâng lâng. (Bảo kính 161.1), yêu nhục: dịch chữ sủng nhục 寵辱. Thành ngữ: 寵辱不惊 sủng nhục bất kinh (chẳng sợ việc sủng ái hay bị ghét bỏ) ‖ (Bảo kính 166.8).
nhủ 乳
đgt. tự thầm nói với mình.Yên phận cũ chăng bằng phận khác, cả lòng đi mặc nhủ lòng về. (Bảo kính 141.6). x. nhắn nhủ.
no nao 奴󰅹
◎ Phiên khác: nọ nào (TVG, ĐDA).
dt. <từ cổ> no: khi; nao: nào. no ấy: khi ấy. no ấy, Bụt hầu đem đại chúng đi chính nam, thấy một đống xương khô, Bụt mới lạy năm thể đến đất, tạ lễ xương khô ấy. (Phật Thuyết: 6b9). “no nao: chớ chi, chừng nào” [Paulus của 1895: 764]. No nao biết được lòng tri kỉ, vạnh non tây nguyệt một vầng. (Bảo kính 161.8)‖ Loạn li lại cách nước non, no nao bóng nguyệt lại tròn như xưa (Thiên Nam Ngữ Lục, c. 979)‖ no nao ai tát bể sầu, kẻo còn dưới gác trên lầu luống trông (Chinh Phụ Ngâm, c. 123-124).
non 𡽫
◎ Ss đối ứng nɔn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 255]. An Chi cho nguyên từ là 巒 loan. Tồn nghi.
dt. núi. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 23.3, 26.3)‖ (Thuật hứng 46.3, 49.6, 51.1, 54.3, 59.8, 60.8, 65.1)‖ (Tự thán 71.7, 72.1, 81.5, 97.5, 98.1, 108.5)‖ (Tự thuật 121.3)‖ (Bảo kính 153.3, 169.3, 181.3)‖ (Huấn Nam Tử 192.8)‖ (Lão hạc 248.4).
non Bồng 𡽫蓬
dt. tức Bồng đảo, cảnh tiên. Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.8). Núi sông thiếu gì nơi vắng vẻ, cảnh thanh tĩnh cũng đủ rồi, cứ chi phải là nơi Bồng đảo.
nóc 耨
◎ Đối ứng nóc đốc. Ss nôm đôm [TXN Lan 1988], êm đềm êm nềm [NQ Hồng 1988], nọc độc, nệm đệm, nác đác (nước), nẫy đẫy (béo), nỗi đỗi [NN San 2003b: 186], nắm đấm, no đủ, nút đútSs đối ứng tɔk³ (Mường), kadɔk³ (Rục), kadɔk (Sách) [VĐ Nghiệu 2011: 62], nɔk (19 thổ ngữ Mường), dɔk (7 thổ ngữ), tɔk (1), rɔk (2) [NV Tài 2005: 254]. Kiểu tái lập cho proto Việt-Mường: *drɔp
dt. mái. nóc - đốc hiện còn lưu tích trong từ bít đốc (bịt nóc). Ngói bít đốc: ngói dùng để lợp bờ nóc, bờ dải trong kiến trúc cổ. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5).
năm 稔 / 年
◎ Nôm: 𢆥 AHV: nhẫm, nẫm, niên, đây đều là các đồng nguyên tự. Sách Quảng Nhã ghi: (稔年也). Sách Tả Truyện  tương công nhị thập thất niên ghi:  “Lời nói đó không tới năm năm.” (所謂不及五稔者 sở vị bất cập ngũ nhẫm giả). Ss đối ứng năm (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 245].
dt. trỏ quãng thời gian gộp của bốn mùa. Ở thế nhiều phen thấy khóc cười, năm nay tuổi đã ngoại tư mươi. (Tự thuật 120.2).
năm hồ 𠄼湖
dt. dịch từ Ngũ Hồ 五湖. Đồ thư bốn vách nhà làm của, phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền. (Bảo kính 163.6), đc. câu này nhắc tích Phạm Lãi sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn diệt nước Ngô, không làm quan mà cùng Tây Thi đi chơi khắp giang hồ sông nước.
nơi 尼
dt. chốn. Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7)‖ (Tự thán 79.6, 96.8, 100.8)‖ (Bảo kính 137.8, 138.3, 152.5, 158.6, 163.7, 179.4, 181.1, 187.3)‖ (Ba tiêu 236.4).
dt. <từ cổ> việc, sự. Ân tây là ấy yêu dường chúa, lỗi thác vì nơi luỵ bởi danh. (Bảo kính 158.6).
nấn 赧
đgt. <từ cổ> lưu tích còn trong từ nấn ná, thế kỷ XV còn dùng độc lập Rừng Nho quãng, nấn ngàn im, hột cải tình cờ được mũi kim. (Bảo kính 150.1). Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến, Đồng Giang được nấn một đài câu. (Bảo kính 153.8). nán.
nắm 捻
◎ Nôm: 稔 AHV: niếp
đgt. giữ, nắm. Thuyết Văn ghi: (指捻也) [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 1901]. Đỗ Mục trong bài Đỗ thu nương có câu: “nhàn nâng cây tiêu thổi” (閑捻紫簫吹). Danh từ cũng là nắm, như nắm đấm. Liêm cần tiết cả tua hằng nắm, trung hiếu niềm xưa mựa nỡ dời (Ngôn chí 10.5).
nắng 𪹷 / 󰪀
◎ Răŋ² (muốt), ɗăŋ³ (nà bái), răŋ³ (chỏi), dăŋ⁴ (khẻn) PJ Duong 2012: 9], dăŋ³ (nguồn), dăŋ³ (Mường bi), karaŋ¹ (Chứt), p’wak (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 234].
dt. trái với mưa. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the (Tự thán 79.1)‖ (Ngôn chí 21.3)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Giá 238.1).
nằm 𦣰
đgt. đặt thân mình xuống nghỉ, trái với đứng. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con (Ngôn chí 21.7)‖ (Mạn thuật 34.1)‖ (Thuật hứng 51.7, 61.3, 64.3)‖ (Tự thán 110.1)‖ (Tức sự 125.3)‖ (Bảo kính 134.5, 158.8)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.2).
đgt. ở, sống. Ngại ở nhân gian lưới trần, thì nằm thôn dã miễn yên thân. (Thuật hứng 60.2)‖ (Tự giới 127.5).
nằm ở 𦣰於
đgt. ở, như nằm ②. Lều nhàn vô sự ấy lâu đài, nằm ở chăng từng khuất nhiễu ai. (Tự thán 84.2).
nằn 󱋔
đgt. <từ cổ> kỳ kèo, lưu tích còn trong nằn nì, “nằn nỉ: năn nỉ” [Paulus của 1895: 682]. Lộc trời cho đã có ngần, tua hay thửa phận, chớ còn nằn. (Bảo kính 175.2).
nết 湼
dt. <từ cổ> tính (dùng chung với cả nghĩa tích cực và tiêu cực), lưu tích còn trong từ tính nết, nết na. “tốt nết: tốt tính. xấu nết: tính hạn xấu xa, bòng chanh, không dè dặt. trắc nết: không biết giữ tiết hạnh, loã lồ, trống trải, vô liêm sỉ. nết giận: tính nóng nảy, cơn giận dữ. nết dữ: tính buông lung.” [Paulus của 1895: 691]. Kẻ có nết na chẳng nên ăn mặc hở hang [Morrone 1838: 257]. Nết người thanh. (Tự thán 86.4) ‖ Thế những cười ta rằng đứa thơ, dại hoà vụng nết lừ cừ. (Tự thán 90.2)‖ Hết kính hết thìn bề tiến thoái, mựa tham mựa dại nết anh hùng. (Tự giới 127.4)‖ (Bảo kính 148.6). Thng cái nết đánh chết cái đẹp.
nề 泥
◎ Nôm: 尼 Đọc âm THV. AHV: nê, nệ.
tt. <từ cổ> “câu chấp, quan ngại, lấy làm khó” [Paulus của 1895: 74], lưu tích còn trong từ nề hà. “ở chớ nề hay” học cổ nhân, lánh mình cho khỏi áng phong trần (Mạn thuật 29.1).
đgt. tt. lưu tích còn trong từ câu nệ, nệ cổ. Rừng thiền ắt thấy, nên đầm ấm. Đường thế nào nề, chẳng thấp cao (Thuật hứng 47.6). Xét chữ “nào nề” chuẩn đối với “ắt thấy”. Xét, một số bản phiên “nơi” là do chữ Nôm viết 尼.
nịnh 佞
đgt. khéo mồm hay đi bợ người khác. Phiêu bạc cùng nhau còn được cậy, mựa nghe sàm nịnh có lòng tây. (Bảo kính 145.8).
nối 挼
◎ Ss đối ứng nol, noj (18 thổ ngữ Mường), k’ap (1) [NV Tài 2005: 256].
đgt. kế thừa, tiếp tục truyền thừa, kế nghiệp Nghiệp Lưu Quý thịnh, đâu truyền báu, bia Nguỵ Trưng cao, há nối tông. (Bảo kính 130.4)‖ Nối nghiệp (Bảo kính 166.1), kế nghiệp cha ông, ý nói Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn đời Trần Duệ Tông, còn Nguyễn Trãi đỗ thái học sinh đời Hồ ‖ (Giới sắc 190.8).
đgt. chắp lại. Chân tay dầu đứt bề khôn nối, xống áo chăng còn mô dễ xin. (Bảo kính 142.5).
nối nắm 鋖䋻
đgt. <từ cổ> đời này truyền lại mãi cho đời sau. “nối: jungere, funes, tabulas. Nối nắm. id” [Taberd 1838: 374]. Chữ nắm đọc theo âm HHV, nguyên từ là lãm 攬, như nắm quyền dịch từ chữ 攬權. Mấy kẻ tư văn sinh đất Việt, đạo này nối nắm để cho dài. (Tự thán 92.8). x. đạo thánh bằng tơ.
nồm nồm 喃喃
◎ Nôm: 南南 Phiên khác: nàm nàm (ĐDA), nêm nêm: liên tiếp nêm vào (VVK), nườm nườm (BVN), nươm nươm: luôn luôn, dẫn Paulus của 1895 “nươm”: “luôn luôn” (PL). Nay theo TV Giáp.
tt. HVVT <từ cổ> vẻ (gió nồm thổi) ấm áp và hài hoà. Ánh cửa trăng mai tấp tấp, kề song gió trúc nồm nồm. (Tự thán 97.4). nàm nàm.
nộp 納
◎ Đọc âm PHV. AHV: nạp. nop < *nup [Baxter 1992: 558].
đgt. gửi trả. Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở, tìm tiên để nộp ấn phong hầu. (Bảo kính 162.8).
nở 𦬑
◎ Ss đối ứng dε, tε, (18 thổ ngữ Mường), dɣ, rɣ (8) [NV Tài 2005: 256]. Đối ứng n- (Việt) với d- và r- (Mường), kiểu tái lập cho proto Việt-Mường: *drɣ.
đgt. (hoa) khai. nở gốc Việt-Mường, khai gốc Hán. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.5)‖ (Tự thán 102.6)‖ (Bảo kính 164.8)‖ (Mai 214.2)‖ (Mộc cận 237.3)‖ (Dương 247.2).
nỡ 女
đgt. hạ lòng, dám (làm việc gì đó). Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7)‖ (Thuật hứng 55.1)‖ (Tự thán 87.7, 107.5)‖ (Tự thuật 117.2)‖ (Bảo kính 129.6, 144.4, 151.8, 166.3, 178.2, 184.6, 188.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.8)‖ (Tích cảnh thi 202.3)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.7)‖ (Mộc hoa 241.4)‖ (Miêu 251.7)‖ (Thái cầu 253.8).
nừng 能
◎ Tày: nứng, nâng, nấng (số một). [HTA 203: 388]. Phiên khác: năng, hay.
p. <từ cổ> ít, chỉ, chỉ có. “僅 cận: nừng, ít, chỉ có thế” [Thiều Chửu 1999: 30]. “僅 cận: nầng” [Nguyễn Bỉnh 1909: 33a; ngũ thiên tự 1932: 92; vũ văn kính 2003: 97; cứ liệu và ý kiến của lê hữu mục chuyển dẫn trần uyên thi 2010]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8)‖ Tranh giăng vách nài chi bức, đình thưởng sen nừng có căn. (Tự thán 110.4)‖ Khí dương hoà há có tây ai, nừng một hoa này nhẫn mọi loài. (Đào hoa thi 230.2)‖ Nừng có mỗ Bụt hay trừ ← (duy Phật năng trừ 惟佛能除) (Phật Thuyết, 43a) ‖ Biết đào hồng hay liễu lục, thiên hạ nừng mỗ chủ tri âm (Trần Nhân Tông- Cư Trần Lạc Đạo Phú, đệ nhất hội).
oán 怨 / 𭜨
đgt. hận, giận. Có của bo bo hằng chực của, oán người nớp nớp những âu người. (Bảo kính 138.6).
pheo 笣
◎ Phiên cũ: vầu. Tất cả các bản phiên trước từ ĐDA (1976) đến TTD (2014), NQH (2014) đều phiên là “vầu”. Nay theo đề xuất của Nguyễn Vinh Quang, rằng chữ Nôm 棹 mà các vị tiền bối đọc là “ chèo ” thì nên đọc là giậu (hàng rào ). Chữ Nôm 笣 mà các vị tiền bối đọc nôm là vầu , nên đọc là pheo (tre) , âm Hán Việt của nó là bao , không phải là {trúc竹 + bao 包} như các tác giả VVH và Nguyễn Quang Hồng đã nghĩ. Khang Hy từ điển dẫn Tập Vận cho chú âm của nó là bao : 《集韻》班交切,音包. Như vậy , nguyên câu chữ Nôm 笣滥棹竹滥茹 , nên đọc ra nôm là : “ Pheo làm giậu , trúc làm nhà ”. Cái nhà đi kèm với (rào) giậu làm bằng pheo ( tre ) thì câu thơ nôm đẹp đẽ biết là bao. (nvq 2016) vầu là loại tre ống to, đốt dài, mọc ở miền núi, ngoài bắc có thấy trong cái bè người ta đóng chở về miền xuôi. Thế kỷ 17, tiếng Việt chưa có “vầu”, vì phụ âm đầu v- đến thời a.d.Rhodes mới định hình được một nửa. Trước đó hai thế kỷ thì lại càng khó có, nên việc bác cách đọc “vầu” ở quốc âm thi tập là có lý [Phan Anh Dũng 2018]. 笣 có một dạng âm cổ phục nguyên là *bao, theo Tập Vận là tên một loại tre, ở lệ phổ (cách quế lâm 100 cây số về hướng nam - khu vực tre trúc phát triển tốt của nam Việt / Lĩnh Nam), có thể đây là kí âm của pheo (“tre pheo”, Việt Bồ La có ghi) theo khuynh hướng b > ph, a ~ e và bình thanh [Nguyễn Cung Thông 2018]. Về Từ Nguyên của “笣”, tiếng Hán thì ghi đó là một loại tre trúc. Ngờ rằng đây là ngữ tố mà tiếng Hán mượn từ Tày Thái. (TTD 2016).
dt. một loại tre, lưu tích còn trong tre pheo. Pheo làm tráu, trúc làm nhà, được thú vui ngày tháng qua. (Trần tình 39.1). am mây cửa khép một cần pheo. (trạng trình- 87a)
phong vương 蜂王
dt. ong chúa. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). Bướm có thói quen hay vào hút mật của ong. Những khi ấy, ong thợ tập trung số lượng lớn ngoài cửa tổ, chĩa nọc ra phía bướm và vỗ cánh xua đuổi khiến bướm sợ mà không dám vào nữa. Chữ “khóc rân” là trỏ sự bất lực của bướm trước bầy ong.[xem thêm TVG, 1956: 176]. x. trêu tức.
phát 發
đgt. khai triển, ra. Thu phát lệnh nghiêm hàng đỗ gấp, sương thanh bảng nhặt tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.5).
phân 分
dt. phần. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.2, 38.1)‖ (Bảo kính 165.4, 184.2)‖ (Tích cảnh 211.4)‖ (Trường an hoa 246.2)‖ (Điệp trận 250.2).
phú quý treo sương ngọn cỏ 富貴󱏪霜𦰟𦹵
đc. Tô Đông Pha trong bài Mạch thượng hoa có câu: “Phú quý khi còn sương ngọn cỏ, phong lưu lúc chết hoa mé đường.” (生前富貴草頭露,身後風流陌上花 sinh tiền phú quý thảo đầu lộ, thân hậu phong lưu mạch thượng hoa).
phúc hoạ 福禍
dt. phúc và hoạ. Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2).
phơi 披
AHV: phi. Ss đối ứng taj, daj, t’aj (29 thổ ngữ Mường), p’ɤj (1) [NV Tài 2005: 258].
đgt. hong dưới nắng hay lửa để cho khô. Cành khô gấp bấy nay nên củi, hột chín phơi chừ rắp để bình. (Bảo kính 151.4).
phương 芳
dt. hương thơm. x. tìm phương.
phất 拂
đgt. bay nhẹ theo, huơ nhẹ theo. Đàn trầm đạn ngọc sao bắc, phất dõi cờ lau gió tây. (Nhạn trận 249.4).
phần 分
dt. phân. Lòng một tấc đan còn nhớ chúa, tóc hai phần bạc bởi thương thu. (Trần tình 43.4)‖ (Tự thán 80.7, 82.6, 90.8, 100.3)‖ (Tự thuật 116.1)‖ (Bảo kính 187.2)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.4)‖ (Mai 214.8)‖ Cánh xâm bạch tuyết mười phần bạc, đỉnh nhuốm đan sa chín chuyển hồng. (Lão hạc 248.5)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.6).
phụ 負
đgt. vỗ, làm trái với ân huệ, tình cảm hay nguyện ước của ai. Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, tình phụ cơm trời áo cha. (Ngôn chí 8.8)‖ (Thuật hứng 60.3)‖ (Tự thán 87.7, 94.2, 107.5)‖ (Tự thuật 118.6)‖ (Bảo kính 129.6, 139.5, 166.3)‖ (Tích cảnh thi 202.3, 203.1)‖ (Đào hoa thi 229.2)‖ (Miêu 251.7).
quen 慣
◎ Nôm: 涓 Đối ứng -e- (THV)/ -a- (AHV) xem keo. Ss đối ứng kwen (27 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 259].
đgt. trái với lạ, quen là âm THV của quán , sách Nhĩ Nhã ghi: “Quán: tập dã” (慣習也) cho lưu tích trong từ tập quán, ví dụ quen thuộc 慣熟 (AHV: quán thục). Bạch Cư Dị trong bài Tân nhạc phủ có câu: “quen nghe đàn sáo chốn vườn lê, chẳng biết cung tên lẫn quạt cờ” (慣聽梨園歌管聲,不識旗槍與弓箭 quán thính lê viên ca quản thanh, bất thức kỳ thương cung dữ tiễn). Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá, nhà quen thú thứa, ngại nuôi vằn. (Thủ vĩ ngâm 1.6)‖ (Thuật hứng 46.1, 60.4, 65.2)‖ (Tự thán 75.3, 84.5, 109.5)‖ (Tức sự 126.6)‖ (Bảo kính 140.2, 141.3)‖ (Tảo xuân 193.6)‖ (Lão hạc 248.3).
Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác 歸崑山重九偶作
dt. tên bài số 189, nghĩa là ngẫu nhiên ứng tác bài thơ khi về Côn Sơn vào ngày tết trùng dương mùng 9 tháng 9. Côn Sơn là một không gian địa lý đặc biệt với Nguyễn Trãi. Nơi đây là trang ấp của Trần Nguyên Đán- ông ngoại của nhà thơ. Từ bé Nguyễn Trãi đã sống với ông ngoại, và sau 1428, đây cũng là nơi chốn đi về của Nguyễn Trãi. Côn Sơn không chỉ là miền ẩn cư mà là chốn quê nhà, cao hơn Côn Sơn là một biểu tượng tinh thần trong tâm tưởng của nhà thơ, là nơi chốn an lành để ông về khi mỗi lần vấp ngã trên chốn quan trường, là bến đỗ cuối cùng của một tâm hồn luôn bị giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực.
quê Hà Hữu 圭何有
dt. chốn hư không. x. Hà Hữu.
quên 涓
◎ Ss đối ứng k’weɲ, k’weŋ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 260].
đgt. trái với nhớ. Bạn cũ thiếu: ham đèn miễn sách, tính quên chăng: kiếm trúc cùng mai. (Ngôn chí 13.4)‖ (Tự thán 82.7, 110.8)‖ (Bảo kính 129.5, 178.2)‖ (Giới nộ 191.3).
quý giá 貴價
tt. HVVT đáng được trọng và có giá trị. Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.3).
quýt 橘
◎ Ss đối ứng k’wit (6 thổ ngữ Mường), ŋiə (15) [NV Tài 2005: 260].
dt. quất. Nô bộc ắt còn hai rặng quýt, thất gia chẳng quản một con lều. (Mạn thuật 24.5). x. cam quýt.
quạnh 煢
◎ Nôm: 夐 / 瓊 cv. 惸㒌焭. Tập Vận ghi: “Cừ doanh thiết” (渠營切), “quỳ doanh thiết, tòng âm quanh” (葵營切,𠀤音瓊). Quảng Vận: “quỳnh: cô độc vậy” (煢獨也). Kinh Thi rằng: “mừng thay kẻ giàu sang, thương bấy người côi cút” (哿矣富人,哀此㷀獨). Ss đối ứng: goẹng (Tày) [HTA 2003: 186-187].
tt. <từ cổ> một mình, cô độc. Chim kêu cá lội yên đòi phận, câu quạnh cày nhàn dưỡng mỗ thân. (Mạn thuật 29.4), câu quạnh: dịch chữ độc điếu 獨釣.
tt. <từ cổ> vắng, lưu tích còn trong từ quạnh quẽ, quạnh vắng, hiu quạnh. Am quạnh (Mạn thuật 31.1)‖ vườn quạnh (Tự thán 110.5), phiên khác: quỳnh: tức quỳnh uyển (TVG, Schneider, BVN). Nay theo ĐDA, MQL, VVK, PL.‖ Vượn chim kết bạn, nước non quạnh, cầm sách cùng nhau, ngày tháng trường. (Tức sự 126.3).
quạt 橛
◎ Ss đối ứng kwat (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 258], mạc vỉ, pảo [HV Ma 1984: 378}.
dt. cái quạt. Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ, quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư. (Mạn thuật 34.6)‖ (Trần tình 40.6).
quải 𢮿
AHV: quải (treo). Xét, k- đối ứng với s-, như: xoăn ~ quăn/ quằn, xoắn ~ quắn, xáng/ sáng ~ quang, xoay/ xây ~ quay, xoắt xít ~ quấn quýt, xoẹt (lửa) ~ quẹt (lửa), sắt/ xắt ~ quắt, sánh/ xánh ~ quánh, xoáy ~ khoáy,… [đt thắng 2012: 8-9]. Phiên khác: ngoái (TVG), queo (BVN). Nay theo ĐDA, MQL, PL.
đgt. <từ cổ> xoải chân, duỗi chân ra. Đằm chơi bể học đã nhiều xuân, dời đến trên an nằm quải chân. (Nghiễn trung ngưu 254.2).
rau 蒌
◎ (thanh phù: lâu). Kiểu tái lập: *klau. So sánh với rao (Lâm La), rảo (tân ly), sao, tsao (Ai Thương), sau (Đông Tân, Ban Chanh), kê sao (Ban Đào) [Gaston 1967: 172]. Kiểu tái lập: *kʰrau¹. [TT Dương 2013b].
dt. rau cỏ. Quê cũ nhà ta thiếu của nào, rau trong nội, cá trong ao. (Mạn thuật 35.2).
riêng 貞
◎ Phiên khác: trinh: tiết tháo, phẩm chất trinh trắng của hoa sen (TVG, MQL, PL). Nay theo BVN, NQH. Xét, chữ riêng thường được viết là 貞私 , là dạng chữ Nôm hình thanh đời sau. Ss đối ứng hriəŋ (5 thổ ngữ Mường), riəŋ (15), diəŋ (3), ʑiəŋ (4) [NV Tài 2005: 262].
tt. của một mình mình, trái với chung. Gió đưa hương đêm nguyệt tịnh, riêng làm của có ai tranh (Liên hoa 243.4).
ruồi 𧋆
◎ So sánh với các đối ứng hruồi, huồi, ruồi (Mường) [NT Cẩn 1997: 126]. So sánh với các đối ứng mơrôoj² và pơrôoj² trong tiếng Rục [NV Lợi 1993: 155], raroi trong tiếng Katu [NH Hoành 1998: 297]. Kiểu tái lập: *hroi¹> ruồi. [TT Dương 2013b].
dt. côn trùng có cánh. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.4).
rày 𣈙
◎ (thanh phù: lệ, liệt). Kiểu tái lập: *hrei¹ (*drei¹) > rày, nay, này. [TT Dương 2013b].
dt. <từ cổ> ngày nay, trái với diếp (ngày xưa). “mat blang ray tron, mai khuyet” [Morrone 1838: 268], Phng. miền Trung “rày / rầy: nay” [Alves 2012: 4]. Diếp huyện hoa còn quyến khách, rày biên tuyết đã nên ông. (Thuật hứng 62.4, 65.7)‖ Diếp còn theo tiên gác phượng, rày đà kết bạn sa âu. (Bảo kính 162.4)‖ (Tích cảnh thi 200.2).
rân 轔
◎ Nôm: 噒 âm THV. AHV: lân (tiếng ầm ĩ của bánh xe).
tt. HVVD <từ cổ> (tiếng kêu, khóc) náo động, om sòm. “rân: om sòm, rần rộ. la rân: la om sòm. Dạ rân: dạ om sòm. nói rân: nói lớn đại, nói om sòm. khua miệng rân: khua miệng om sòm. khóc rân: khóc om sòm” [Paulus của 1895: 860]. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6). “la rân đi: multorum clamores” (tiếng la của nhiều người) [Béhaine 1773: 398].
rã keo 攞膠
◎ Nôm: 𣳮膠
đgt. HVVT <từ cổ> (đen) mất hết chất dính, (bóng) mất hết ý hướng. Tưởng thân hư ảo nổi bằng bèo, chí cũ công danh vuỗn rã keo. (Mạn thuật 32.2).
rêu 嫽
◎ (sic) < 燎, hiện tượng nhầm từ bộ hoả thành bộ nữ, thanh phù: liêu. Kiểu tái lập: *hrɛw¹ > rêu. [TT Dương 2013b]. Khảo dị: bản B ghi {艹 + 尞}. Phiên khác: lèo: lèo buồm (TVG), rều (ĐDA), diều: cái diều (BVN), rìu (Schneider). Nay theo nhóm MQL.
dt. dịch chữ đài 苔. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.8). Mượn ý từ bài Tái đáo Thiên Thai của Tào Đường: “Lại đến Thiên Thai hỏi ngọc chân, rêu xanh đá trắng hoá bụi trần.” (再到天台訪玉真,蒼苔白石已成塵 tái đáo Thiên Thai phỏng ngọc chân, thương đài Bạch Thạch dĩ thành trần). x. Vương Chất. ở đây ý thơ đan cài hai điển khác nhau. Câu trên là nói về việc Vương Chất gặp tiên, câu dưới lại chắp ý thơ “rêu thành bụi trần” của Tào Đường về việc gặp tiên của hai chàng Lưu Nguyễn. Hiện tượng mỗi câu dùng một điển là một thủ pháp thường thấy trong thơ Nguyễn Trãi. x. bụi bụi.
rước 綽
◎ (sước).
đgt. đón. (Tự thán 88.4)‖ Ngày xem hoa rụng chăng cài cửa, tối rước chim về mựa lạc ngàn. (Tự thán 95.6).
rạc rời 落來
◎ Phiên khác: lạc lài (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, PL), lạc lài: thư buộc ở chân nhạn đu đưa trong gió (BVN). Nay đề xuất.
tt. Như rời rạc, rơi rác. “rạc rời: bời rời, rời rợt, rã rời”[Paulus của 1895: 854; 876]. Ss một số cặp đảo âm như: thơ rơ/ rơ thơ, ngẩn ngơ/ ngơ ngẩn. Thư nhạn rạc rời khi gió, tiếng quyên khắc khoải khuở trăng. (Tự thán 98.3). rạc rài. chứa nhân chứa ngãi thì giàu, chứa bạc chứa ác ốm đau rạc rài. cd
rập khuôn 立囷
đgt. làm theo khuôn có sẵn, thuật ngữ từ ngành đúc đồng. Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều thì rập khuôn. (Bảo kính 148.2).
rắp rắp 立立
tt. <từ cổ> thấm thoắt. Chẳng hay rắp rắp đã bốn mươi, ngày tháng bằng thoi một phút cười. (Ngôn chí 22.1).
rặc 落
◎ Đọc theo âm THV. AHV: lạc. Phiên khác: lạc: xuống (TVG, ĐDA). Nay theo Schneider, MQL.
đgt. (con nước, thuỷ triều) rút, xuống. “rặc: canh, rút xuống (nói về nước)” [Paulus của 1895 t2: 240]. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3). bao giờ rặc nước sông bùng, hai vai trúc đá bể Đông cát bồi. cd x. triều rặc.
rặng 嶺 / 岭
◎ Nôm: 󰜙 rặng là âm THVcủa lĩnh, vào quãng trước đời Hán, lưu tích còn trong rặng núi (dãy núi). Tô Thức trong bài Đề tây lâm bích có câu: “Trông ngang thành rặng núi, trông trắc diện thì thành một đỉnh núi, xa gần cao thấp chẳng như nhau.” (横看成嶺側成峰,遠近高低各不同 hoành khan thành lĩnh trắc thành phong, viễn cận cao đê các bất đồng). Kiểu tái lập: *reŋ. dặng. Đây là chữ Nôm ghi cách đọc từ cuối thế kỷ XVII về sau, khi d- r đã xoá nhãn.
dt. HVVD <từ cổ> dãy, hàng. Nô bộc ắt còn hai rặng quýt, thất gia chẳng quản một con lều. (Mạn thuật 24.5).
rồng 龍
◎ Nôm: 𧍰 Đọc theo âm THV. AHV: long. Kiểu tái lập: OCM *roŋ, Ss Khmer: roŋ - rôŋ, Mường: hông - ròn [Schuessler 2007: 363]. rồng là tên gọi xưa nhất, vay vào khoảng đời Tây Hán- đông hán nên cả phụ âm, cả vần, cả thanh đều rất cổ. thuồng luồng vay vào khoảng từ sơ đường đến trung đường nên thanh cổ nhưng phụ âm, vần đều đã mới. long là tên gọi Hán Việt vay vào cuối đời Đường. [NT Cẩn 2001: 26]. Thế kỷ XVII, Rhodes ghi nhận ròũlaõ [1651: 195]. Kiểu tái lập: *kroŋ¹ [TT Dương 2012c].
dt. long, thuồng luồng. Thuyết Văn ghi: “Rồng đứng đầu các loài có vẩy, có thể ẩn hiện, có thể biến hoá nhỏ hoặc lớn, dài hoặc ngắn; tiết xuân phân thì bay lên trời, tiết thu phân thì lặn sâu đáy vực.” (鱗蟲之長, 能幽能明, 能細能巨, 能短能長, 春分而登天, 秋分而潛淵). Bằng rồng nọ ai phen kịp, mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6)‖ (Trúc thi 223.3), hoá rồng, do chữ long tôn 龍孫 trỏ măng, ý nói khi măng già thì hoá trúc. x. cháu rồng.‖ (Trư 252.7).
rừng thiền 棱禅
dt. dịch chữ thiền lâm. Rừng thiền ắt thấy, nên đầm ấm. Đường thế nào nề, chẳng thấp cao. (Thuật hứng 47.5).
sinh thành 生成
đgt. đẻ ra, tạo ra. Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.2).
sàm nịnh 讒佞
đgt. HVVT gièm pha và nịnh nọt. Phiêu bạc cùng nhau còn được cậy, mựa nghe sàm nịnh có lòng tây. (Bảo kính 145.8). gièm nịnh.
Sào Hứa 巢許
dt. <Nho> Sào Phủ 巢父 và Hứa Do 許由. Hai nhân vật này sống đời vua Nghiêu. đc. Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai. Khi đó, sào phủ mới dắt trâu tới suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao. Hứa Do trả lời: “ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua.” sào phủ bèn dắt trâu bỏ lên trên giòng nước cho uống. Hứa Do hỏi tại sao, sào phủ đáp: “anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhầm.” sào phủ lại nói: “anh đi đâu cho người ta biết vua mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi.” huỳnh tịnh của phê rằng, “nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe.” (huỳnh tịnh của - chuyện giải buồn). Tích sào phủ Hứa Do trở thành một điển cố về lòng trong sạch và tính ẩn dật. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu. (Ngôn chí 15.3).
sưa sưa 疏疏
AHV: sơ sơ.
tt. HVVT hơi thưa. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.1)‖ Tráu sưa sưa hai cụm trúc, chường tấp tấp một nồi hương. (Tức sự 126.1). Từ thế kỷ XVII về sau đọc là thưa thưa.
tam cương 三綱
dt. ba giềng, ba giềng mối chính của các mối quan hệ nhân luân là Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng. Nẻo xưa nay cũng một đường, đây xốc xốc nẻo tam cương. (Tự thán 93.2).
thiền định 禪定
đgt. an định, lối tu của nhà Phật. Chường thiền định, hùm nằm chực, trái thì trai, vượn nhọc đam. (Thuật hứng 64.3).
thuần lô 蓴鱸
dt. tức Thuần canh lô khoái 蓴羹鱸膾. Sách Thế Thuyết Tân Ngữ phần Thuyết giám ghi: Trương Hàn 張翰 giỏi văn chương, tính phóng khoáng, không câu nệ nhỏ nhặt. Ông vào đất Lạc, Tề Vương Quýnh vời đến cho giữ chức thuộc quan. Quýnh từng nói rằng: “Thiên hạ loạn lạc, mối hoạ chưa định được, phàm người có tên tuổi trong bốn bể cầu được lui về mà hưởng an nhàn là rất khó.” rồi nhân một buổi gió thu bắt đầu thổi, trương hàn nhớ món canh rau thuần, gỏi cá vược quê nhà. Ông than rằng: “Đời người ta quý nhất là được thỏa chí, sao có thể chịu trói buộc mình ở ngoài ngàn dặm mà cầu danh cầu tước.” (人生貴在適志,何能羈宦數千里以要名爵乎!). Đoạn ông sai người nhà thắng ngựa, chuẩn bị hành lý rồi bỏ quan trở về quê cũ. Mừng cùng vượn hạc quen lòng thắm, đã kẻo thuần lô bảo hạn về. (Tự thán 109.6). Còn gọi Thuần canh lô khoái 蓴羹鱸膾 hay thuần lô thu tứ 蒓鱸秋思.
thuật hứng 述興
dt. tên của chùm 25 bài thơ từ số 46 đến số 70 trong QATT. Thuật hứng nghĩa là kể lại những tâm sự, những cảm hứng của mình trong cuộc đời. Có hai dòng tâm sự chính yếu trong các bài này. Thứ nhất là tư tưởng nhập thế, với những tâm sự về chính trường về quan hệ nhân luân: vua- tôi, cha- con, về cửa quyền, về quan lộc, về một tấm lòng ưu ái đêm ngày cuồn cuộn như nước triều đông. Thứ hai là sự gọi mời của con người thi sĩ, con người nội tâm luôn hướng về ruộng vườn, về đường hoa, cửa trúc, về ao niềng niễng, cá đòng đòng. Đó là hai con người xuất- xử, hành- tàng trong thơ Nguyễn Trãi.
thuỷ trầm 水沉
dt. cây trầm hương. Lý Thì Trân trong Bản thảo cương mục phần Trầm hương ghi: “Cây gỗ lòng có đốt, đặt trong nước thì chìm, nên có tên là trầm thuỷ hay thuỷ trầm” (木之心節置水則沉,故名沉水,亦曰水沉). Nha tiêm tiếng động án Chu Dịch, thạch đỉnh hương tàn khói thuỷ trầm. (Tự thuật 119.6).
thánh hiền 聖賢
dt. <Nho> gộp xưng của thánh và hiền. Có thân mựa lệ bượp bằng hữu, đọc sách thì xem thấy thánh hiền. (Tự thán 103.6)‖ (Bảo kính 182.7, 188.2).
thân thích 親戚
dt. người thân. Sách Lã Thị Xuân Thu ghi: “Lục thích là những ai? cha, mẹ, anh, em, vợ, con.” (何謂六戚?父母兄弟妻子) (Thuật hứng 57.3)‖ Yêu chuộng người dưng là của cải, thương vì thân thích nghĩa chân tay. (Bảo kính 145.4).
thêu 縧
◎ Nôm: 絩 Ss đối ứng: séo (Tày) [HTA 2003: 464]. NN San (2003b: 178) cho rằng nguyên từ của thêu 繡. Xét, là nguyên từ của thùa. Nay đề xuất.
đgt. HVVD thêu thùa. Cơm ăn chẳng quản dưa muối, áo mặc nài chi gấm thêu. (Thuật hứng 67.6)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.2). x. thao.
thì chớ 𪰛渚
khng. thì thôi, thường đứng sau phủ định từ chẳng. (Tự thán 83.7)‖ Lan huệ chẳng thơm thì chớ, nữa chi lại phải chốn tanh tao. (Bảo kính 167.7)‖ (Mộc hoa 241.4).
thói 態
◎ Nôm: 腿 / 態 AHV: thái.
dt. nếp tốt đẹp vốn có từ xưa. Hiềm kẻ say chưng bề tửu sắc, hoạ người thìn được thói cha ông. (Bảo kính 130.6, 187.6, 188.6). x. nết.
thôi 催 / 摧
đgt. dừng. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.6)‖ (Mạn thuật 32.4)‖ (Giá 238.2).
thôn nhân 村人
dt. người quê mùa, nông dân. Miệt bả hài gai khăn gốc, xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân. (Mạn thuật 33.8).
thông 通
tt. <từ cổ> đủ hết, đủ cả. Hàn Dũ trong bài Sư Thuyết có câu: “Thích cổ văn, lục nghệ và kinh truyện, đều rèn luyện đủ hết cả những món ấy.” (好古文六藝經傳皆通習之). Nào thông nhiều lạ ← 何足多怪 (Truyền Kỳ Mạn Lục). Ai có của thông phòng thết khách, một ao niễng niễng mấy đòng đòng. (Thuật hứng 56.7)‖ Có của hằng cho lại có thông, tích nhiều con cháu nọ trông. (Bảo kính 130.1). đng no, đủ, nhẻ.
thông biết 通別
đgt. biết rõ, biết hết. x. thông①. Được trật dõi nơi sự tiếc mừng, đạo ta thông biết, hết lưng lưng. (Bảo kính 181.2).
thông đòi 通隊
đgt. <từ cổ> hiểu theo. Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách, đam dân mựa nỡ trật lòng dân. (Bảo kính 184.5).
thú mầu 趣妙
dt. <từ cổ> dịch chữ diệu thú 妙趣. Mạc được thú mầu trong khuở ấy, thế gian hay một khách văn chương. (Trần tình 42.7)‖ (Bảo kính 154.2). x. mầu.
thúng 𥴗
dt. đồ đựng cỡ to, hình tròn, đan bằng tre nứa. Tiền sen tích để bao nhiêu thúng, vàng cúc đam cho biết mấy bình. (Tự thán 83.3).
thưng 升
dt. đơn vị đo lường. Sách Hán Thư ghi: “Mười hạp là một thưng, mười thưng là một đấu.” (十合為一升,十升為一斗 thập hạp vi nhất thăng, thập thăng vi nhất đấu). Thiên hạ dõi truyền: lăng có thước, thế gian bảo rặng: thóc toan thưng. (Bảo kính 181.6). thăng.
thưởng 賞
đgt. thưởng ngoạn. (Ngôn chí 4.5, 16.4)‖ Tranh giăng vách nài chi bức, đình thưởng sen nừng có căn. (Tự thán 110.4)‖ (Bảo kính 168.4).
dt. đồ ban cho để khuyến khích. x. Tước thưởng. (Bảo kính 188.3).
thượng uyển 上苑
dt. vườn trong cung vua. Danh thơm thượng uyển còn phen kịp, bạn cũ đông ly ắt khá [nhường]. (Cúc 217.5).
thảo 討
dt. lòng hiếu đối với cha mẹ. Thờ cha lấy thảo làm phép, rập chúa hằng ngay miễn cần. (Bảo kính 184.3).
thần minh 神明
dt. thần linh. Kinh Dịch có câu: “âm dương hợp đức… để thông với cái đức của thần minh” Há chẳng biến dời cùng thế thái, những âu tây tối có thần minh. (Tự thán 96.4). x. tây tối.
thầy 柴
dt. dịch chữ . x. sày.
thẩn 蜃
dt. rồng biển, điệp thức của 辰 thìn (con rồng). Sách Bản Thảo ghi: “Thẩn thuộc loài giao long, mình như rắn nhưng lớn, sừng như sừng rồng, bờm đỏ, từ eo xuống toàn vẩy ngược, ăn chim yến. Có thể thở ra khí trong như lâu đài thành quách, sắp mưa thì hiện ra, nên gọi là thẩn lâu.” (蜃,蛟之屬,其狀亦似蛇而大,有角如龍狀,紅鬣,腰以下鱗盡逆,食燕子。能吁氣成樓臺城郭之狀,將雨卽見,名蜃樓). Các tên khác thẩn các 蜃閣, thẩn thị 蜃市. Nguyệt mọc đầu non kình dỏi tiếng, khói tan mặt nước thẩn không lầu. (Ngôn chí 19.4).
thật 實
tt. thực. Ngọc lành nào có tơ vện, vàng thật âu chi lửa thiêu. (Tự thuật 116.4)‖ (Bảo kính 171.3). x. thà.
thế 勢 / 󰟨
dt. tình hình, trạng thái của động tác. Mui thác trăng dương thế hứng, Buồm nhân gió, mặc khi phiêu. (Tự thán 101.3)‖ (Tự thuật 115.8).
dt. sức mạnh, uy lực. Bằng rồng nọ ai phen kịp, Mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8).
thế gian 世間
dt. cõi đời. Mạc được thú mầu trong khuở ấy, thế gian hay một khách văn chương. (Trần tình 42.8)‖ (Thuật hứng 63.1)‖ (Tự thán 95.2)‖ (Tự thuật 112.1, 115.1)‖ (Tức sự 125.7)‖ (Bảo kính 133.2, 134.1, 139.2, 151.7, 172.5, 181.6).
thết 設
◎ Nôm: 󱋉 AHV: thiết. thết là âm HHV của thiết, thiết đãi = thết đãi
đgt. tiếp đãi (bằng cái gì đó). Ai có của thông phòng thết khách, một ao niễng niễng mấy đòng đòng. (Thuật hứng 56.7)‖ (Tự thán 90.6)‖ (Bảo kính 149.1, 178.6).
thớ 庶
dt. thớ cây. Một cơm hai việc nhiều người muốn, hai thớ ba dòng hoà kẻ tham. (Bảo kính 173.6). x. hai thớ ba dòng.
thợ 署
dt. người có tay nghề. Nên thợ nên sày vì có học, no ăn no mặc bởi hay làm. (Bảo kính 173.3).
tiên khách 仙客
dt. khách tiên. Tiếng Hán “tiên khách” có nhiều nghĩa: (1). Tiên nhân, (2) trỏ kẻ sĩ có tinh thần siêu dật hay những vị quan thanh liêm cao khiết, (3) đạo sĩ, (4) ẩn sĩ, (5) vương tiên khách, (6) một số loài động thực vật đặc thù, như hươu, hạc, hoa quỳnh, hoa quế… ở đây có khả năng cao mang nghĩa cuối. Vì bài đang liệt kê 4 người bạn của ẩn sĩ, câu 3 tả trúc Tưởng Hủ, câu 4 tả Mai Lâm Bô, câu 5 tả tùng “bậc trượng phu non vắng”, nên câu 6 chắc cũng phải tả một loài động thực vật nào đó. Xét, Diêu Khoan đời Tống trong Tây khê tùng ngữ có viết: “anh ta bá thanh trồng được mười ba vị khách, gồm: mẫu đơn là quý khách, mai là thanh khách, … Hoa quỳnh là tiên khách”. Quách Nhược Hư đời nguyên trong Đồ hoạ kiến văn chí ghi: “Lý Văn Chính thường ở vườn sau trong phủ, chăm bón năm loài chim để chơi ngắm, đều lấy chữ “khách” để đặt tên. Sau lại sai hoạ sĩ vẽ tranh các loài ấy, gồm: hạc là tiên khách, Khổng tước là nam khách, anh vũ là lũng khách… đều có làm thơ vịnh ghi trong tranh”. Đô Cung đời Minh trong Tam dư chuế bút ghi: “Trương Mẫn Thúc coi 12 loài hoa là 12 khách, đều có thơ vịnh. Mẫu đơn là quý khách, mai là thanh khách,… quế là tiên khách”. Xét, thơ Nguyễn Trãi có câu “hé cửa đêm chờ hương quế lọt” và “rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn”. Như vậy, “tiên khách” ở đây là trỏ “quế” hoặc “hạc”. Trượng phu non vắng là tri kỉ, tiên khách nguồn im ấy cố nhân. (Tự thán 81.6).
tiêu hao 消耗
đgt. hao tổn và mất mát. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.6).
tiền mẫu tử 錢母子
dt. tiền mẹ tiền con, tiền lớn tiền bé. Nhà ngặt túi không tiền mẫu tử, tật nhiều thuốc rặt vị quân thần. (Mạn thuật 29.5)‖ chữ thanh nhàn nào phải mua ai, tiền mẫu tử túi dầu xóc xách. Cỏ cây thương vì tính lãn dung, nước non thấu thửa lòng thanh bạch. (Nguyễn Hãng - Tịch cư ninh thể phú).
tiền sen 錢蓮
dt. ví lá sen tròn như vành đồng tiền. Tiền sen tích để bao nhiêu thúng, vàng cúc đam cho biết mấy bình. (Tự thán 83.3)‖ rạnh rạnh tiền sen duềnh bích thuỷ, rõ ràng gấm lựu chốn kim thành. (kđtb,21a3)
tiền tốt ngoài biên 錢卒外邉
Tng. vốn từ câu tiền tốt xem biên, nguyên tiền xưa bằng đồng xu nên mới có cách xem này. Bánh lành trong lá ghe người thấy, tiền tốt ngoài biên hoà kẻ hay. (Bảo kính 172.4).
tiện 賤
tt. thấp, hèn. Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ, đường cùng Nguyễn Tịch khóc làm chi. (Thuật hứng 57.5)‖ (Tự thuật 119.7).
tt. ít. Con cháu mựa hiềm song viết tiện, nghìn đầu cam quýt ấy là tôi. (Ngôn chí 13.7).
tt. mọn, xoàng. Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt, thề xưa hổ có giang san. (Thuật hứng 63.5).
tt. kém cỏi. Tiện chẳng hay bề biến hoá, giương hai con mắt lại xem rồng. (Trư 252.6).
toan 算 / 筭
AHV: toán. toan: lường (ngũ thiên tự), đếm, tính bằng thẻ tre, tính thời gian bằng cách bấm đốt ngón tay. toán.
đgt. <từ cổ> đo, lường, đo lường, tính số lượng bằng đấu, kiểm lại. Thiên hạ dõi truyền: lăng có thước, thế gian bảo rặng: thóc toan thưng. (Bảo kính 181.6)‖ Toan từ gặp tiết lương thần, thiếu một hai mà no chín tuần. (Vãn xuân 195.1).
đgt. tính toán, lo toan. Song viết lại toan nào của tích, bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 49.7, 58.3)‖ (Bảo kính 144.4, 152.5, 160.7, 176.4, 180.3)‖ (Vãn xuân 195.1).
đgt. định. Còn nhiều sá họp toan ăn uống, tám chín mươi thì vạn sự không. (Bảo kính 130.7).
đgt. sắp. Kể ngày con nước toan triều rặc, mách chúng thằng chài chác cá tươi. (Tự thán 76.3).
đgt. <từ cổ> đặt yên. Ấy còn cậy cục làm chi nữa, nẻo mộng chưa nồng, chẩm chửa toan. (Thuật hứng 63.8).
tri âm 知音
đgt. biết tiếng. Liệt Tử thiên Thang vấn có đoạn: “Bá Nha giỏi đánh đàn, còn chung tử kỳ giỏi nghe đàn. Tiếng đàn của Bá Nha có ý miêu tả ngọn núi cao, chung tử kỳ liền nói: “hay quá! núi cao chừ như thái sơn”. Tiếng đàn có ý miêu tả dòng nước chảy, chung tử kỳ nói: “hay quá! cuồn cuộn chừ như sông lớn” (伯牙善鼓琴,鍾子期善聽琴。 伯牙琴音志在高山,子期說“峩峩兮若泰山 ”;琴音意在流水, 子期說洋洋兮若江河). Ý nghĩ của Bá Nha, chung tử kỳ đều biết được. Đời sau dùng “tri âm” để ví với người tri kỉ, cùng chí hướng. Rủ vượn hạc xin phương cổi tục, quyến trúc mai kết bạn tri âm. (Tự thuật 119.4, 121.5)‖ (Trúc thi 222.2).
triều 朝
đgt. chầu về, hướng về, đổ về. Lý Xương Kỳ đời Đường trong bài Tống đới giáo thụ bắc hành có câu: “Lúc chia tay tình như nước chảy, muôn nhánh chia cũng thảy về đông.” (離情如逝水, 萬折亦朝東 ly tình như thệ thuỷ, vạn chiết diệc triều đông). Vương Thực Phủ 王實甫 đời nguyên trong bài Lệ xuân đường có câu: “Chốc đà tựa muôn sao chầu bắc, vạn suối về đông.” (恰便似衆星拱北,萬水朝東). Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước triều đông. (thuật hưng 50. 8). chầu. TVG, ĐDA, Schneider, VVK, PL phiên “triều”, nhóm MQL phiên “chầu”.
trung 忠
dt. lòng trung quân ái quốc. Bui có một lòng trung miễn hiếu, mài chăng khuyết nhuộm chăng đen. (Thuật hứng 69.7)‖ (Bảo kính 132.4, 133.7, 146.1, 156.2).
trung cần 忠勤
dt. trung thành và cần lao, dốc lòng dốc sức. Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.1, 187.4, 188.1).
trung hưng 中興
đgt. (quốc gia) lại được phục hưng. Khong khảy thái bình đời thịnh trị, nghiệp khai sáng tựa nghiệp trung hưng. (Bảo kính 188.7).
trước 𨎠/ 𫏾
◎ Kiểu tái lập: *klước. Gaston tái lập *klước khi so sánh với An Nam dịch ngữ và các đối ứng klước (Thạch Bi), tlước (Mẫn Đức) [1967: 43; x. TT Dương 2012a].
dt. (quãng thời gian) đã qua tính ở thời điểm phát ngôn. (Thuật hứng 66.7)‖ Chớ cười hiền trước rằng dại, cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân. (Tích cảnh 204.3).
Trường Canh 長庚
dt. tên tự của Lý Bạch. Lý dương băng trong thảo đường tập tự gọi Lý Bạch là thái bạch kim tinh. Ông giải thích rằng, khi sinh Lý Bạch đúng vào lúc “Sao Trường Canh vào mộng,… cho nên lấy bạch làm tên , lấy thái bạch làm tự.” (長庚入梦故生而名白以太白字之). Trường Canh hỏi nguyệt, tay dừng chén, Pha lão chơi thu, khách nổi thuyền. (Tự thán 74.3).
trường đào mận 場桃李
dt. chốn quan trường. Đến Trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.1). x. đào mận, đào lý, cửa mận tường đào.
trại 豸
Phật Thuyết ghi 賴 lại tại vị trí dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, *tlại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác< 被人誘引逃竄他鄉違背爺娘離家別慣 (19a9), kiểu tái lập: *tlai [xem thêm TT Dương 2013b]. Phiên khác: trễ: chểnh mảng, trễ nải (TVG, ĐDA). Nay theo Schneider.
đgt. <từ cổ> không làm theo, làm trái. Bui có một niềm chăng nỡ trại, đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.7)‖ Trung cần há nỡ trại cân xưng. (Bảo kính 188.1). Dõi người dỗ thốt, trốn đi nước khác, trại lời áng nạ, xa nhà đi nước khác. (Phật Thuyết 19a).
trả 酢
◎ Nôm: 把 AHV: tạc, âm HTrC: tshuo (Karlgren, Pulleyblank, Chu Pháp Cao), âm HTC: tsʼag (Karlgren), tshak (Vương Lực), tshaks (Baxter). Chữ sạ 乍 còn làm thanh phù cho một số từ có AHV trá như 詐 (dối lừa), 醡 (bàn ép dầu), tạc như 昨 (hôm qua), 胙 (lộc tế), 怍 (thẹn). Riêng chữ 炸 có AHVtạc (trong oanh tạc), nhưng thiết âm là trá [An Chi 2006 t5: 196]. Như vậy, trả có thuỷ âm đời Đường, và chung âm thời trung cổ. Thế nhưng, trả lại chỉ là sản phẩm từ cuối thế kỷ XVII trở về sau. Thế kỷ XII, Phật Thuyết ghi: 把󱹉 (8b9, 4b4). Kiểu tái lập: *blả . “blả coũ: đền trả công việc. blả ơn: đền đáp công ơn. mắng blả: nổi giận, mắng trả” [Rhodes 1651 tb1994: 39]. “bla vel tra: reddere, restituere… bla no su vo chou: reddere debitum conjugale” [Morrone 1838: 200]. So sánh với đối ứng klả, tlả (Canh Nan), klả (Quy Mỹ, Làng Um, Suổi Săng, Thạch Bi), *plả (Ban Pê Ngoai, Ban Ken, Làng Lum), tlả (Ai Thương, Ban Đào) trong tiếng Mường, Gaston tái lập là *plả [1967: 51], *pla [Shimizu 2002: 767]. Rhodes ghi: blảgiả [1651 tb 1994: 38, 103].
đgt. báo đáp công ơn. Ước bề trả ơn minh chúa, hết khoẻ phù đạo thánh nhân. (Trần tình 37.5). Kinh Thi phần Tiểu nhã ghi: “Quân tử có rượu, hết mời lại trả” (君子有酒,酌言酢之), lời truyện rằng: “酢: báo trả”. thương hiệt thiên ghi: “Chủ (rót rượu) đáp khách là thù, khách (rót rượu) trả cho chủ là tạc” (主答客曰酬,客報主人曰酢). Kinh Dịch phần Hệ từ ghi: “Cho nên, có thể cùng thù tạc, có thề cùng giúp thần” (是故可與酬酢,可與祐神矣). Như vậy, nghĩa gốc của ngữ tố này là “trả lễ” ([khách] rót trả rượu cho chủ nhà theo lễ của nhà Nho). Sau, nghĩa này mở rộng thành “báo trả, báo đáp, báo ơn” nói chung, chứ không chỉ giới hạn ở việc uống rượu nữa (quách phác). Ví dụ, Kinh Thi phần Tiểu nhã bài Sở thứ có câu: (報以介福,萬壽攸酢), mao truyện rằng: “酢 là báo trả”. [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 3578].
trận 陣
dt. nghĩa gốc là bày chiến xa sắp hàng theo các thế trong binh pháp. Sách Bội Huề Tập ghi “quân đội bày thế là trận” (軍陳爲陣). Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử, tám trận khôn hay chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6) x. tám trận.
trẻ tạo hoá 𥙩造化
dt. dịch chữ hoá nhi 化兒. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6) ‖, thủ pháp bẻ từ đã được sử dụng ở đây để tạo nên các thế đối lập giữa chủ thể và khách thể, vừa u mua lại vừa trớ trêu và nghiệt ngã. Phạm Thành Đại 範成大 đời Tống trong bài Lập xuân đại tuyết 立春大雪 có câu: 化兒任惡劇,歡伯有奇懷 hoá nhi nhiệm ác kịch, hoan bá hữu kỳ hoài (hoá nhi ác bày tấn kịch, hoan bá riêng ôm cõi lòng). cn con tạo.
trốn 遁
trốn là một từ gốc Hán, có AHVđộn (遁), âm HTC là *dun? (Baxter). Thế kỷ XVII, Rhodes ghi tlốn [1651, tb1994: 232], “blon lanh: perfecte” [Morrone 1838: 201]. Đối ứng tlôn (Thái Lai), klun (Ban Ken), klôn (Thạch Bi) trong tiếng Mường, Gaston tái lập thuỷ âm kép *kl- hoặc *tl- [1967: 56]. Quá trình Việt hoá được biểu diễn như sau: độn > tlốn > trốnđộn > tlộn > trộn / lộn. “blon… blon len: grandescere. Noi choi blon tieng: loquere altâ voce” [Morrone 1838: 201]. Kiểu tái lập: *tlon⁵ [TT Dương 2012c].
đgt. lánh đi mất. Con đòi trốn, dường ai quyến, bà ngựa gày, thiếu kẻ chăn. (Thủ vĩ ngâm 1.3).
trỗi 磊
◎ Kiểu tái lập: *blỗi. tắt nghỉ lăn trong đất, thì hét mãi mới trỗi < (Phật Thuyết 22b7). trỗi ghi bằng 󰝌 {bả 把+ lỗi 磊}, dịch chữ 甦 (sống dậy, sống lại). blỗi : trỗi, vượt. blỗi hơn, biét hơn: vượt trỗi hơn những người khác trong sự hiểu biết” [Rhodes 1651 tb1994: 40]. tử trúc: trúc tía trỗi chân cháu rồng (CNNA 66b), trỗi ghi bằng 耒. gõ đá vang lừng trỗi nhạc tiên (trịnh sâm- bia 1770), trỗi ghi bằng 㩡. lỗi còn có thể hiểu là lỗi lạc, nổi trội…và hiểu là : giữa mùa đông xám xịt mà riêng hoa mai trỗi dậy một vẻ xuân [MQL 2001: 1116]. Chuỗi đồng nguyên tự: lỗi (trong lỗi lạc), trỗi (- dậy), trội (trong vượt trội, ưu trội). Kiểu tái lập: *ploi⁴. [TT Dương 2012c]. Phiên khác: lỗi: không đúng (TVG, ĐDA), trổi (PL). Nay theo Schneider, BVN.
đgt. <từ cổ> bật lên, nổi bật lên, lưu tích còn trong nổi trội hay trỗi dậy. Giữa mùa đông trỗi thức xuân, nam chi nở cực thanh tân. (mai 214.1).
trời đất 𡗶坦
dt. vũ trụ. Đạo này để trong trời đất, nghĩa ấy bền chưng đá vàng. (Tự thán 93.3)‖ (Bảo kính 182.5).
tuy 雖
lt. dù. Hỉ nộ cương nhu tuy đã có, nghĩa nhân lễ trí mựa cho khuây. (Mạn thuật 25.5)‖ (Thuật hứng 56.4)‖ (Tự thán 89.1)‖ (Bảo kính 166.5, 174.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.4)‖ (Lão mai 215.6)‖ (Lão dung 239.3).
tuyết 雪
dt. nước đóng băng. Cổi tục, chè thường pha nước tuyết, tìm thanh, khăn tịn nhặt chà mai. (Ngôn chí 2.3, 4.7, 13.5)‖ Án tuyết. (Mạn thuật 36.1)‖ (Thuật hứng 60.6, 62.4)‖ (Tự thán 84.3, 107.3)‖ (Tự thuật 115.4)‖ (Bảo kính 129.3, 157.5, 158.4, 164.4, 168.3)‖ (Tảo xuân 193.1)‖ (Lão hạc 248.5).
tuồng 從
◎ Nôm: 從 AHV: tòng.
gt. <từ cổ> từ (đứng trước từ chỉ thời gian). Tuồng nay cốc được bề hơn thiệt, chưa dễ bằng ai đắn mới đo. (Ngôn chí 20.7).
tuổi 歲
AHV: tuế. Ss đối ứng t’uəl (15 thổ ngữ Mường), suəl (13) [NV Tài 2005: 284].
dt. <từ cổ> năm. Cây lục vờn vờn bóng lục in, xuân nhiều tuổi đã kể dư nghìn. (Thiên tuế thụ 235.2)‖ (Trừ tịch 194.5)‖ x. chong đèn chực tuổi.
dt. tuổi tác. Chân chăng lọt đến cửa vương hầu, ấy tuổi nào thay đã bạc đầu. (Mạn thuật 30.2)‖ (Trần tình 38.8, 40.7)‖ (Thuật hứng 54.6)‖ (Tự thán 72.6, 75.7, 99.5)‖ (Tự thuật 113.3, 120.2)‖ (Bảo kính 134.7, 143.5)‖ (Vãn xuân 195.3).
tàn 殘
đgt. hết, kết thúc. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi. (Ngôn chí 2.6).
đgt. lụi. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.4)‖ (Mạn thuật 32.3)‖ (Thuật hứng 63.4)‖ (Tự thán 105.5, 108.2)‖ (Tự thuật 119.6)‖ (Bảo kính 160.4)‖ (Lão mai 215.2).
đgt. (tuổi) già yếu, đã sang cuối dốc bên kia. Những vì thánh chúa, âu đời trị, khá kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn. (Tự thán 72.6)‖ (Tự thuật 113.3).
tày 齊
AHV: tề. Tục tự : 斉
tt. <từ cổ> sánh ngang, bằng với. Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa, được về ở thú điền viên. (Bảo kính 143.7, )‖ Mực thước thế gian dầu có phải, cân xưng thiên hạ lấy đâu tày. (Bảo kính 172.6).
tình thư 情書
dt. thư tình. Tình thư một bức phong còn kín, gió nơi đâu gượng mở xem. (Ba tiêu 236.3), Bội văn vận phủ chép rằng Thẩm Chu đời Minh có bài thơ viết trên lá chuối có câu: “Đã định nhổ thuyền đi, nhân anh lại viết thư lá chuối.” (tiên dục khai thuyền khứ, nhân quân cánh tả tiêu 便欲開船去,因君更寫蕉), đời sau có câu “thư lá chuối vừa đưa đến, lời văn vẫn còn xanh” (書來蕉葉文猶綠 thư lai tiêu diệp văn do lục). Tiền Hủ 錢珝 đời Đường trong bài Vị triển ba tiêu viết như sau: “đuốc lạnh hết khói, nến xanh tàn, lòng thơm vẫn cuộn sợ xuân hàn. Phong thư giấu kín điều chi đó, bị gió xuân về lén mở coi.” (冷燭無煙綠蠟乾, 芳心猶卷怯春寒。一緘書箚藏何事,會被東風暗拆看 lãnh chúc vô yên lục lạp can, phương tâm do quyển khiếp xuân hàn. Nhất giam thư tráp tàng hà sự, hội bị đông phong ám sách khan.).
tích lịch 霹靂
dt. sấm sét. Mấy phút om thòm dường tích lịch, một cơn lừng lẫy tựa phong ba. (Giới nộ 191.5).
tùng 松
dt. cây thông. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.6). x. thông.
tùng cúc 松菊
dt. cây tùng và cây cúc, hai cây biểu tượng cho khí tiết kẻ sĩ. Giang san bát ngát kìa quê cũ, tùng cúc bù trì ấy của hằng. (Tự thán 77.6), dịch câu Tùng cúc do tồn của Đào Uyên Minh.
tư mươi 𦊛󰁰
dt. bốn mươi. Ở thế nhiều phen thấy khóc cười, năm nay tuổi đã ngoại tư mươi. (Tự thuật 120.2).
tướng ấn 相印
dt. con ấn của tướng. Kìa nẻo Tô Tần ngày trước, chưa đeo tướng ấn có ai chào! (Thuật hứng 66.8).
tạc 鑿
đgt. đào. Dưới tạc nên ao chín khúc, trong nuôi được cá nghìn đầu. (Bảo kính 154.3). đng đào.
tầm 尋
dt. đơn vị đo chiều dài cổ, một tầm bằng tám thước. Kinh Thi phần Lỗ tụng bài Bí cung có câu: (是尋是尺), lời truyện rằng: “tám tấc là một tầm” (八尺曰尋). Sách Thuyết Văn ghi: “Quãng dài hai sải tay người là tầm, bằng tám thước” (度人之两臂為尋,八尺也). Tiếng Việt còn bảo lưu lối nói tầm tay, sau mở rộng hơn, như tầm mắt, tầm ngắm, tầm nhìn. Tào khê rửa nghìn tầm suối, sạch chẳng còn một chút phàm. (Thuật hứng 64.7).
tịch 夕
◎ Phiên khác: tỉnh (TVG), hết (Schneider), tịch: hết giận (ĐDA), tịch: lặng ngắt, chết (BVN), tịch: cảnh già (MQL). Nay theo ĐDA.
dt. hết. Đến khi tịch, mới ăn năn lại, dịn song thì mọi sự qua. (Giới nộ 191.7).
tịch dương 夕陽
dt. hoàng hôn. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. (Bảo kính 170.6).
uống 㕵
◎ Ss đối ứng oŋ³ (nguồn), oŋ³ (Mường bi), ŋo³ (Chứt), nwăi (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236].
đgt. trong Ăn uống. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ Tác ngâm: bạc dẫy mai trong tuyết, đối uống: vàng đầy cúc khuở sương. (Bảo kính 157.6), đối uống dịch chữ đối ẩm 對飲 hoặc chữ đối tửu 對酒.
viếng thăm 丙探
đgt. đến chơi. Có khuở viếng thăm bạn cũ, lòng thơ nghìn dặm, nguyệt ba canh. (Bảo kính 169.7). x. thăm.
việc 役
◎ Đọc âm THV [NN San 2003b: 104]. AHV: dịch, âm HTC: *wjek (Baxter), *gʷeg (tt thượng phương, Phan Ngộ Vân). Ss đối ứng ɤwek (3 thổ ngữ Mường), βiək (8), viək (2) [NV Tài 2005: 288], việk (thái) [HT Nghịch 1990: 323].
dt. sự việc, công việc. Thương Chu kiện cũ các chưa đôi, sá lánh thân nhàn, khuở việc rồi. (Ngôn chí 2.2, 8.4, 16.6)‖ (Thuật hứng 68.7)‖ (Tự thán 100.4)‖ (Bảo kính 144.1, 156.3, 159.1, 171.1, 173.5, 176.1, 181.8, 183.4)‖ (Quy Côn Sơn 189.7)‖ (Mai 214.8).
và 𬏓
◎ Thanh phù: ba.
dt. vài. “và 吧: vài, hai, một ít. Và hai: cả hai. Cả và hai: id. cả và: cả thảy. Và lời: vài lời. Và hàng: vài hàng. Và đều: vài đều, một ít đều. Và lần: vài lần.” [Paulus của 1895 t2: 532]. Tác ngâm song có mai điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.3).‖ Nguyệt nga lấy bút đề câu thơ (Lục Vân Tiên, c. 1638)‖ Ai về tôi gửi thư ra, gửi dăm câu nhớ gửi câu thương cd
vân 蕓
dt. tên loại cỏ thơm dùng để trừ mối nhấm trong thư phòng. Bến liễu mới dời, thuyền chở nguyệt, gác vân còn chử, bút đeo hương. (Bảo kính 157.4)‖. x. gác vân.
vân vân 云云
dt. việc này việc khác tương tự như thế mà không liệt kê ra hết được. Dầu phải, dầu chăng, mặc thế, đắp tai biếng mắng sự vân vân. (Bảo kính 165.8).‖ (Tích cảnh thi 204.2).‖ Nén hương đến trước Phật đài, nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân (kiều, c. 1640).
Vũ 禹
dt. <Nho> tức Tỉ Văn Mệnh 姒文命, con của cổn thường được gọi là đại Vũ 大禹 (2205 - 2198 tcn), vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đầu tiên xác lập chế độ cha truyền con nối, có công trong việc trị thuỷ. Giả Nghị có câu: “Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang… đều ứng vận mà sinh”. truyền thiên hạ Nhan Uyên ngặt, đổi đất xong thì có khác nao. (Tự thuật 122.7). x. đổi đất.
vườn 園
AHV: viên. đng viện. Ss đối ứng vɯən (4 thổ ngữ Mường), βɯən (4), ɤɯən (5), ca (11) [NV Tài 2005: 290].
dt. đất có rào để trồng hoa màu. (Mạn thuật 33.5)‖ Khách đến, vườn còn hoa lác, thơ nên, cửa thấy nguyệt vào. (Mạn thuật 35.5)‖ (Trần tình 43.7, 45.4, 45.4)‖ (Tự thán 110.5)‖ (Bảo kính 154.1)‖ (Quy Côn Sơn 189.4)‖ (Tảo xuân 193.4)‖ (Vãn xuân 195.5)‖ (Tích cảnh thi 211.3)‖ (Hoàng tinh 234.4).
đgt. (bóng) vch. Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.3). x. viện.
vườn Độc Lạc 園獨樂
dt. x. Độc Lạc.
vượn 猿
AHV: viên.
dt. một loài khỉ. Cửa song dãi, xâm hơi nắng, tiếng vượn kêu, vang cách non. (Ngôn chí 21.4)‖ (Thuật hứng 64.4)‖ (Tức sự 126.3).
vượn hạc 猿鶴
dt. đc. vượn và hạc. Tống Sử phần Thạch Dương Hưu truyện ghi: “Dương Hưu nhìn nhàn nhã phóng túng, bình thường nuôi vượn hạc, đọc sách vở, ngâm vịnh tự vui.” (揚休喜閑放,平居养猿鶴,玩圖書,吟咏自適). Sau vượn hạc dùng để trỏ ẩn sĩ hay cảnh giới ẩn dật. Thề cùng vượn hạc trong hai ấy, thấy có ai han chớ đãi đằng. (Mạn thuật 23.7).‖ (Tự thán 71.8)‖ (Thuật hứng 60.4)‖ (Tự thán 109.5)‖ (Tự thuật 119.3).
vạn sự 萬事
dt. muôn việc. Còn nhiều sá họp toan ăn uống, tám chín mươi thì vạn sự không. (Bảo kính 130.8).
vần chuyển 運轉
đgt. xoay vòng, đắp đổi. Lấy khi phú quý đắp cơ hàn, vần chuyển chăng dừng sự thế gian. (Bảo kính 133.2).
vầy 圍
AHV: vi. Tục tự: 圍.
đgt. <từ cổ> “nhóm họp, xúm xít, vây quanh. vầy lại id. sum vầy: sum họp đông đảo. vui vầy: vui vẻ chung cùng. vầy lửa vầy củi: đem củi lửa lại, nhúm lửa một bên, (làm cho ấm)” [Paulus của 1895: 1151]. Áng cúc thông quen vầy bậu bạn, cửa quyền quý ngại lượm chân tay. (Tự thán 75.3). Chuỗi đồng nguyên: quây - vây - quầy - vầy.
vắng 永
tt. quạnh vắng, không có người. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.7, 11.4, 17.2, 18.6, 20.4)‖ (Thuật hứng 66.4)‖ (Tự thán 81.5, 105.4).
vằn sinh mé tây 蚊生買西
đc. ngọc diện miêu (mèo mặt ngọc). Xưa ở núi nọ có ba con yêu chuột, làm phép đi cưới vợ của một thầy đồ, thầy đồ kiện đến triều đình, nhưng chuột lại hoá làm vua quan để xử cho thầy đồ thua. Sau bao công phải sang nước Phật mượn được con mèo mặt ngọc về, khi xử kiện đem mèo ấy ra thì nó vồ chết những chuột yêu kia [TVG,1956: 177]. Lọ vằn sinh bởi mãi phương Tây, phụng sự Như Lai trộm phép sày. (Miêu 251.1).
về 回
◎ Nôm: 𧗱 AHV: hồi. hồi còn có âm là vồi (tên nôm của làng/ chợ ở hà hồi 河迴, thường tín, Hà Nội), về đọc theo âm THV, âm HTC: wəj (Baxter), ɤuəl (Vương Lực). Ss đối ứng vel (5 thổ ngữ Mường), ɤwe (2), ɤwel (2), βel (9) [NV Tài 2005: 288].
đgt. (chủ thể) quay trở lại chỗ của mình. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.8, 16.4).
đgt. (khách thể) di chuyển đến chỗ của chủ thể. (Mạn thuật 28.6)‖ Ngày xem hoa rụng chăng cài cửa, tối rước chim về mựa lạc ngàn. (Tự thán 95.6)‖ (Tự thán 109.6)‖ (Bảo kính 132.2, 165.6)
đgt. quay lại quê hương hoặc nơi mà mình coi là thân thiết. Am quê về ở dưỡng nhàn chơi, yên phận yên lòng kẻo tiếng hơi. (Thuật hứng 59.1)‖ (Tự thuật 117.2)
đgt. (bổ ngữ xu hướng) từ biểu thị hướng di chuyển nhằm đến chỗ của chủ thể. Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.1)‖ (Thuật hứng 48.4)‖ (Tự thán 88.4).
đgt. rời khỏi quan trường, chức vị, như hồi hưu (về hưu).Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ, lẩn thẩn làm chi áng mận đào. (Mạn thuật 35.7)‖ (Thuật hứng 53.7, 61.6, 69.1)‖ (Bảo kính 141.6, 143.8, 154.8, 155.2, 158.2, 169.4).
đgt. đi, nói chung (không mang tính xu hướng). Chặm tự nhiên một thảo am, dầu lòng đi bắc miễn về nam. (Thuật hứng 64.2).
⑦. đgt. ở quãng thời gian đang được nói đến. Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.3).
đgt. đến, sang (mùa). Đông về tuyết muộn mai nhiều bạc, thu nẻo tin truyền cúc có vàng. (Bảo kính 129.3).
Vệ công 衛公
dt. tức Vệ Ý Công 衛懿公, tên là Xích, vua đời thứ mười tám của nước Vệ, trị ngôi từ năm 668 - 660, con của Vệ Huệ Công. Hàn thi ngoại truyện ghi: “Thời Vệ Ý Công,… rợ địch phát binh đánh vệ. Ý Công muốn đem binh đi đánh trả. Dân trong nước đều nói: ‘vua chỉ quý hạc, chỉ ban lộc vị cho hạc; lại chỉ biết yêu cung nhân, hãy sai hạc với cung nhân đi mà đánh, bọn ta làm sao có thể đánh trận được?’ bèn bỏ đi hết. Rợ địch đến, đánh rồi giết Ý Công.” Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông, ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.2).
với 貝
đgt. <từ cổ> dùng chung. Toan cùng người với, thì chẳng đủ, xử một ta nay ắt có dư. (Bảo kính 180.3).
k. từ biểu thị người sắp nêu ra là đối tượng cùng có chung hành động, trạng thái vừa nói đến. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3)‖ (Bảo kính 148.6).
vụng 俸
◎ So sánh với đối ứng tambung (Malais), Gaston tái lập là *kbụng [1967: 133]. Kiểu tái lập: tbụng [TT Dương 2012b].
tt.” dở dang, bất tài” [Paulus của 1895: 1179]. Thế những cười ta rằng đứa thơ, dại hoà vụng nết lừ cừ. (Tự thán 90.2)‖ (Bảo kính 163.3).
xanh 青
◎ Nôm: 撑 AHV: thanh. Ss đối ứng sεŋ, sεɲ (26 thổ ngữ Mường), le (2) [NV Tài 2005: 290]. Như vậy, xanh- thanh gốc Hán, gốc Việt-Mường.
tt. màu xanh quan lục (màu lá cây). Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân, trúc rợp hiên mai quét tục trần. (Ngôn chí 12.1).
tt. xanh lam (màu núi). Đàn cầm, suối trong tai dõi, còn một non xanh là cố nhân. (Thuật hứng 60.8)‖ (Bảo kính 153.3, 169.6).
tt. xanh dương (màu nước). Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, lẻo lẻo duềnh xanh con mắt mèo. (Tự thán 101.6).
tt. xanh đen (tóc, mắt). (Tự thán 99.6)‖Tuổi tàn, cảnh đã về ban muộn, tóc bạc, biên khôn chác lại xanh. (Tự thuật 113.4)‖ (Tích cảnh thi 202.3, 203.1)‖. x. mắt xanh. x. sử xanh x. lầu xanh.
xanh bạc 青白
◎ Nôm: 撑泊
dt. dịch chữ thanh bạch nhãn青白眼, là cách nói gộp của thanh nhãn青眼(trọng thị) và bạch nhãn 白眼 (khinh thị). Bình thường nhìn thẳng thì mắt thấy con ngươi đen, không thèm nhìn mà ngó lên trời thì chỉ thấy lòng trắng, cho nên nói gộp là thanh bạch nhãn. Sách Tấn Bách Quan Danh viết: “Kê Hỉ tự là Công Mục, trải chức dương châu thứ sử, anh của Kê Khang. Khi nhà Nguyễn Tịch có việc hiếu, hỉ đến điếu. Tịch vốn có thể làm mắt xanh mắt trắng, khi gặp kẻ phàm tục thì nhìn bằng lòng trắng. Khi hỉ đến viếng, tịch không thèm khóc, nhìn hỉ mắt trắng dã, hỉ chán mà bỏ về. Khang nghe thấy chuyện ấy bèn cắp rượu ôm đàn đến chơi, rồi cùng nhau say khướt.” (嵇喜字公穆 ,歷揚州刺史, 康兄也。 阮籍遭丧,往弔之。 籍能為青白眼,見凡俗之士,以白眼對之。及喜往, 籍不哭,見其白眼, 喜不懌而退。 康聞之,乃齎酒挟琴而造之,遂相與善). Ai ai đều có hai con mắt, xanh bạc dầu chưng mặt chúng ngươi. (Tự thuật 120.8)‖ x. Nguyễn Tịch.
xe 車
AHV: xa.
dt. phương tiện giao thông. Ngựa ngựa xe xe la ỷ tốt, dập dìu là ấy chiêm bao. (Thuật hứng 52.7)‖ (Tự thán 73.2). x. đẩy xe.
dt. con xe. Làm người mựa cậy khi quyền thế, có khuở bàn cờ tốt đuổi xe. (Trần tình 44.8).
xem 瞻
◎ Nôm: 𫀅 / 䀡 AHV: chiêm. Có các đồng nguyên tự là 佔, 覘 (siêm). Âm HTC là ţʰam? *threm, xem [sem] Việt < *tśʰj- hoặc ţʰj- [Schuessler 2007: 604]. *tjam [Baxter 1992: 539]. Ss đối ứng k’ɔk (2 thổ ngữ Mường), kɔj (7), ŋɔ (17) [NV Tài 2005: 290]. Như vậy, xem - ngóng (顒) - coi (觀) là từ gốc Hán, ngó - ngắm - nhìn từ gốc Việt-Mường.
đgt. nhìn. Kinh Thi phần Bội phong bài Hùng trĩ có câu: “Xem nhật nguyệt kia, lòng ta dặc dặc.” (瞻彼日月, 悠悠我思 chiêm bỉ nhật nguyệt, du du ngã tư). Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.3, 11.4)‖ (Trần tình 38.5)‖ (Tự thán 95.5, 105.5)‖ (Bảo kính 155.1)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.2)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.2)‖ (Trư 252.7). x. ngắm xem.
đgt. đọc. Tham nhàn lánh đến giang san, ngày vắng xem chơi sách một an. (Ngôn chí 17.2, 20.3)‖ (Tự thán 103.6)‖ (Ba tiêu 236.4).
đgt. cho rằng. Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.3)‖ (Thuật hứng 48.6)‖ (Bảo kính 162.5, 186.5).
đgt. xem xét, cân nhắc. Cơn cớ nguyền cho biết sự do, xem mà quyết đoán lấy cương nhu. (Bảo kính 152.2).
đgt. chiêm nghiệm. Để truyền bia miệng kiếp nào mòn, cao thấp cùng xem sự trật còn. (Bảo kính 182.2).
đgt. coi, xem (lịch). Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi, ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài? (Trừ tịch 194.8).
xua 樞 / 驅
đgt. đuổi đi. x. khua.
xuyên 穿
đgt. soi thấu qua. Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc, nước chảy âu khôn xiết bóng non. (Thuật hứng 49.5).
xuân xanh 春青
◎ Nôm: 春撑
dt. tức chữ thanh xuân 青春, trỏ tuổi trẻ. Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. (Tích cảnh thi 201.3).
xã tắc 社稷
dt. sách Tuân Tử thiên Lễ luận viết: “xã: thần đất. Tắc: thần ngũ cốc. Thần xã và thần tắc là hai vị thần hàng đầu trong quốc tế xưa, đích thân hoàng đế làm chủ tế”. Sau xã tắc được dùng để trỏ đất nước nói chung. xã tắc hai phen chồn ngựa đá, non sông nghìn thuở vững âu vàng (社稷兩回勞石馬,山河千古奠金甌) (Trần Nhân Tông). Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.5).
xét 察
AHV: sát. Đọc theo âm THV. Đối ứng e ~ a, xem keo. Âm HTC: tshret (Baxter), shreed (Trịnh Trương Thượng Phương).
đgt. xem xét cẩn thận kỹ lưỡng. Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.7). Dịch cụm “ôn cố tri tân” (溫故知新) [Luận Ngữ - vi chính].
xình xoàng 情控
AHV: tình khống. Phiên khác: tình suông (TVG, BVN, MQL, VVK). Chữ 控 “khống”, có khả năng viết nhầm từ chữ “腔” (xoang). Xét, cách phiên trên là dựa theo AHV. Phiên “xênh xang” như Schneider là có cơ sở về âm khi coi đây là một từ láy. Xét, chữ “xênh xang” không thấy xuất hiện trong văn cổ, thêm nữa lại không hợp với chữ “quản” (mặc kệ). Chữ Nôm trên có thể phiên là “xênh xang” hoặc “xinh xang” nhưng âm này lại chỉ có nghĩa là “nở nang, tươi tốt, khoe khoang” [Paulus của 1895 t2: 579, 583], không hợp với văn cảnh. ĐDA phiên là “xềnh xoàng”, có lẽ ông cho đó là âm cổ của “xình xoàng”, “xuềnh xoàng” hiện nay, với nghĩa “dễ dãi, sơ sài, coi thế nào cũng xong”. pbb xênh xang.
tt. <từ cổ> chếnh choáng. “xình xoàng: say, vừa say, có chén” [Paulus của 1895: 1193]. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.1).
xưa 初
◎ Đọc âm HHV [NN San 2003b: 179], Ss: 疏 > sưa (thưa), 所 sở > thửa . AHV: sơ.
tt. ban đầu. Liêm, cần tiết cả tua hằng nắm, trung, hiếu niềm xưa mựa nỡ dời. (Ngôn chí 10.6, 12.3, 19.8).
tt. từ trước. Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện, đông hè trải đã xưa hay. (Trần tình 45.6).
tt. trước, trái với nay. Chí cũ ta liều nhiều sự hóc, người xưa sử chép thảy ai còn. (Thuật hứng 49.4, 53.3, 63.6)‖ (Tự thán 82.7, 103.8)‖ (Bảo kính 128.7, 138.3, 151.2, 160.7, 166.7, 169.4, 179.6, 183.8, 188.2)‖ (Huấn Nam Tử 192.7)‖ (Tích cảnh thi 202.4).
xảy 侈
đgt. <từ cổ> bỗng, chợt. “xảy: tình cờ, bỗng chúc” [Paulus của 1895: 1185]. Am rợp chim kêu hoa xảy động, song im hương tịn khói sơ tàn. (Ngôn chí 17.3)‖ Khách đến chim mừng hoa xảy rụng, chè tiên nước kín nguyệt đeo về. (Thuật hứng 48.3)‖ Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2).
Y Phó 伊傅
dt. tức Y Doãn và Phó Duyệt. Đời dùng người có tài Y, Phó, nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan. (Bảo kính 160.5). x. Phó, Y Doãn, Thương Chu.
yêm 厭
AHV: yếm. Đọc âm HHV để hợp bằng trắc.
đgt. <từ cổ> chán, ngán. Khó khăn là của thế gian yêm, huống mỗ già dại dột thêm. (Tự thuật 115.1, 120.3).
yên hà 煙霞
dt. khói và ráng (thường trong buổi chiều). Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.2)‖ (Thuật hứng 69.6)‖ (Tự thuật 118.4)‖ (Tức sự 123.1).
yên lòng 安𢚸
đgt. an tâm. Sự có cầu người nên rẻ mặt, phận tuy rằng khó miễn yên lòng. (Thuật hứng 56.4).
yên phận 安分
đgt. an phận. Xưa còn chép câu kinh để: “yên phận thì chăng nhục đến mình”. (Bảo kính 166.8), dịch câu yên phận thân vô nhục 安分身無辱 trong Bách tự minh của Đường Thái Tông. x. nhọc.
yêu chuộng 腰重
◎ Phiên khác: yêu trọng (TVG, ĐDA, VVK, Schneider, BVN, MQL, NTN, PL).
đgt. yêu thích và sùng thượng, chuộng là âm trại của trọng 重, sắc thái khác với chữ chuộng ngày nay, “chuộng: in pretio habere. Kính chuộng: venerari. Yêu chuộng: amare” [Taberd 1838: 79]. Yêu chuộng người dưng là của cải, thương vì thân thích nghĩa chân tay. (Bảo kính 145.3)‖ (Cúc 217.7). x. chuộng yêu.
ý 意
đgt. dt. ý muốn, tâm nguyện. Âu lộ cùng ta dường có ý, đến đâu thì thấy nó đi theo. (Tự thán 101.7)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.6)‖ (Trúc thi 223.2)‖ (Đào hoa 229.3)‖ (Dương 247.3).
ăn 咹
◎ Ss đối ứng ạn² (Mường), ʔăn¹ (Rục), ʔan (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 63], ăn (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 172].
đgt. nhai nuốt đồ vào bộ máy tiêu hoá. (Ngôn chí 4.3, 20.1) no ăn. (Trần tình 38.2)‖ Cơm kẻ bất nhân ăn ấy trớ; áo người vô nghĩa mặc chăng thà. (Trần tình 39.3)‖ (Bảo kính 134.6, 140.3, 149.8, 150.7, 149.3, 173.4)‖ Ít ăn thì lại ít người làm. (Bảo kính 174.4)‖ Ăn có dừng thì việc có dừng. (Bảo kính 181.8)‖ (Giá 238.3)‖ (Miêu 251.6) Cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ Cơm ăn. (Thuật hứng 67.5)‖ (Huấn Nam Tử 192.6)‖ Đói lại ăn. (Tự thán 110.1)‖ Xưa đà có câu truyền bảo; “làm biếng hay ăn lở non”. (Huấn Nam Tử 192.8), dịch câu toạ thực sơn băng 坐食山崩, Ss miệng ăn núi lở. Tng.Ăn trái, dưỡng cây. (Bảo kính 137.1).
đgt. (bóng) hưởng. Miễn là tiêu sái qua ngày tháng; lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu. (Mạn thuật 24.8)‖ (Mạn thuật 27.6)‖ (Tự thán 87.2)‖ (Bảo kính 146.4)
ăn mặc 咹默
đgt. ăn và mặc nói gộp, trỏ những nhu cầu thường nhật cơ bản. Cắp nắp làm chi hỡi thế gian; có thì ăn mặc chớ lo toan. (Bảo kính 134.2).
ăn uống 咹㕵
đgt. ăn và uống. Còn nhiều sá họp toan ăn uống; tám chín mươi thì vạn sự không. (Bảo kính 130.7).
đgt. nhu cầu sinh hoạt thường nhật nói chung. Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông; ăn uống chăng nài bổng Vệ công. (Lão hạc 248.2).
đam 󰝡
◎ Âm cổ của “đem”. Ss đối ứng tam, dam (21 thổ ngữ), tliəŋ (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 220], đăm [H Hựu 2012: 76]. x. gánh.
đgt. <từ cổ> đem, mang. “đam, đam đi, đam ra, đam đàng” [Rhodes 1651 tb1994: 82]. (Thuật hứng 64.4)‖ (Tự thán 83.4)‖ (Bảo kính 143.5)‖ Của nhiều, sơn dã đam nhau đến, khó ở, kinh thành thiếu kẻ han. (Bảo kính 133.5), dịch câu bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu khách tầm 貧居鬧市無人問 , 富在深山有客尋 “nghèo ở chợ đông không ai hỏi, giàu ở non sâu có kẻ tìm” (theo tăng quảng hiền văn). giàu sang lắm kẻ lại nhà, khó nằm giữa chợ chẳng ma nào nhìn. cd
đgt. <từ cổ> mang cái gì ra làm, dịch cấu trúc [ 以 … động từ], hoặc [bả 把 …động từ], có xu hướng hư hoá. Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.4)‖ (Bảo kính 128.4)
đam dân 󰝡民
đgt. <từ cổ> dịch chữ mục dân 牧民 hoặc suất dân 率民 (chăn dắt dân chúng). Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách, đam dân mựa nỡ trật lòng dân. (Bảo kính 184.6). Sách Huyền Thông Chân Kinh có đoạn: “cho nên, thánh nhân chăn dân, khiến nhân dân ai cũng theo cái tính của mình, yên ổn với chỗ của mình…” (故聖人之牧民也,使各便其性,安其居). Sách Úy Lạo Tử thiên Chiến uy có câu: “Người xưa, chăn dắt dân ắt lễ tín trước rồi sau mới tước lộc, liêm sỉ trước rồi sau mới hình phạt, thân ái trước rồi sau mới ước thúc dân.” (古者率民必先禮信而後爵祿,先廉恥而後刑罰,先親愛而後律其身).
đi 移 / 迻
◎ Nôm: 𠫾 / 𪠞 Sách Thuyết Văn ghi: “Di: chuyển đi/ chuyển di” (迻遷徙也). Sách Quốc Ngữ phần Tề ngữ ghi: “Thì dân không đi” (則民不移) [Vương Lực 1982: 572]. Xét, đối ứng d- đ- như: dao đao 刀, dải đái 帶, dừng đình 停, dĩa đĩa / điệp 碟, dĩ đã 已. Mặt khác, ta có chuỗi đồng nguyên 移 = 迻 = 徙 = 之. Riêng 之 được tái lập âm HTC là tiə [Schuessler 2007: 613]. Ss đối ứng ti² (nguồn), ti² (Mường bi), ti¹ (Chứt), pâ? (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 235].
đgt. dời vị trí. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.4, 21.1)‖ (Tự thán 91.4, 100.6, 101.8)‖ (Tức sự 126.5)‖ (Miêu 251.5).
đgt. (bóng) theo. Thế gian đường hiểm há chăng hay, cưỡng còn đi ấy thác vay. (Tự thuật 112.2).
đgt. trái với về. Yên phận cũ chăng bằng phận khác, cả lòng đi mặc nhủ lòng về (Bảo kính 141.6)‖ (Thuật hứng 64.2)
đgt. ra chỗ khác. Đắc thì thân thích chen chân đến, thất sở láng giềng ngảnh mặt đi. (Thuật hứng 57.4).
đgt. mất, qua mất. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.3).
điền viên 田園
dt. <Nho> ruộng vườn, chốn ẩn cư. Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa, được về ở thú điền viên. (Bảo kính 143.8, 159.2).
điền địa 田地
dt. ruộng đất. Điền địa chử tham hơn bỏ ải, nhân luân mựa lấy dưới làm trên. (Bảo kính 142.3, 177.1).
điều canh 調羹
đgt. <Nho> cũng như hoà canh 和羹, là từ để chỉ việc nêm mơ nêm muối khi nấu canh. Thiên Duyệt mệnh hạ sách Kinh Thư có viết: vua cao tông nhà Thương bảo với ông Phó Duyệt rằng: “Cũng như thực hiện việc hoà canh, ngươi cũng như là mơ là muối.” (若作和羹,爾惟鹽梅 nhược tác hoà canh, nhĩ duy diêm mai). Khổng An Quốc chú giải rằng: “Canh cần phải có vị mặn của muối và vị chua của mơ để làm cho nó được hài hoà.” (羹須咸醋以和之). Tông Bính 宗炳 người nam tống trong Đáp hà hành dương thư có viết: “Lụa là thì cần phải có nhiều màu sắc mới đẹp; hoà canh cần phải có muối và mai mới có thể đạt đến độ ngon.” (貝錦以繁采發華; 和羹以鹽梅致旨). Sau, điển này thường được sử dụng để ví với những vị đại thần (như tể tướng) giúp đỡ cho nhà vua quản lí chính sự quốc gia. Người cười rằng kém tài lương đống, thửa việc điều canh bội mấy phần. (mai 214.8). Kham hạ điều canh còn để đợi. (Hồng Đức QATT, b.19)‖ Hoà canh ngày giúp việc thừa tướng, thêm bếp đêm liều chước tướng quân. (Hồng Đức QATT, 50a4)
đoái 哾
đgt. <từ cổ> nghĩ đến, trong đoái hoài. “Đoái: ngó lại. Đoái lại, đoái xem, đoái nhìn, đoái hoài, đoái đến, đoái thương, đoái tưởng, đoái vì: cả thảy chỉ nghĩa là nhìn xem, nghĩ đến, thương tưởng đến nhau” [Paulus của 1895: 308]. Tính tình nào đoái bề ong bướm, tiết muộn chăng nài khuở tuyết sương. (Cúc 216.5)‖ Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái. (Chinh Phụ Ngâm c. 305)‖ đã không kẻ đoái người hoài (Nguyễn Du - Truyện Kiều c. 91).
đua tranh 都爭
đgt. Như đua. xét, đua = tranh, đua gốc Việt, tranh gốc Hán. “đua: tranh đấu, thử cho biết hơn thua, tranh nhau” [Paulus của 1895: 327]. Ở thế ươn hèn chăng có sự, nghìn muôn tốn nhượng chớ đua tranh. (Bảo kính 136.8). x. đôi tranh.
đuôi 𡓋
◎ Ss đối ứng duəj² (Mường), tuəi² (Rục), tooy (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 57].
đgt. phần phía sau cùng, nhỏ và dài của vật. Năm thức phơi phơi đuôi phượng mở, tám lòng ỉm ỉm chữ nhàn phong. (Thái cầu 253.3).
đành 停
◎ Phiên khác: rành (BVN). Nay theo MQL.
đgt. thông tỏ [NQH 2006: 933], sáng rõ, lưu tích còn trong từ đành rành của thế kỷ XVII. “đành rành: clarè” [Taberd 1838: 420]. Trần trần mựa cậy những ta lành, phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2).
đào hoa 桃花
◎ Ss đối ứng taw, daw (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 209].
dt. hoa đào, loại hoa màu đỏ, nở vào xuân. Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.1).
đá 石
◎ Nôm: 𥒥 AHV: thạch. đá đọc theo âm THV, lưu tích của âm này còn thể hiện qua một số chữ Hán hình thanh sớm như đố 妬 (đố kỵ), đố 蠹 (con mọt), trong đó 石 đều làm thanh phù. Âm thạch/ thạc của chữ 石 còn làm thanh phù cho một số chữ hình thanh muộn như thác 拓 (khai thác), thạc 碩 (thạc sĩ), thác 橐 (ống bễ), thạch 祏 (bài vị tổ tông), thạch 鼫 (chuột) [An Chi 2006 t4: 295- 297]. Ss đối ứng ta (21 thổ ngữ Mường), da (10 thổ ngữ), pʼu (6 thổ ngữ), kʼu (17 thổ ngữ). Như vậy, “đá” gốc Hán, “phu”, “khũ” gốc Mường [NV Khang 2002: 235- 236].
dt. trong sắt đá. Tôi ngươi một tiết bền bằng đá; biên tóc mười phần chịu những sương. (Tự thán 82.5). x. la đá.
đáo để 到底
đáo để trong tiếng Hán nghĩa là cuối cùng, rốt cuộc.
p. HVVD <từ cổ> “cùng tột, hết cách” như “lo đáo để: lo hết thế. kiếm đáo để: kiếm khắp nơi.” [Paulus của 1895: 275]. Chàu mấy kiếp, tham lam bấy, sống bao lâu, đáo để màng. (Thuật hứng 55.4)‖ (Tự thuật 117.8)‖ Thương chàng đáo để xót xa. (phương hoa, c. 318).
Đát Kỷ 妲己
dt. thiếp của vua Trụ. Trụ mê say Đát Kỷ, làm nhiều điều bạo ngược. Vua Vũ Vương nhân cơ hội đó diệt Trụ. Trụ trật quốc gia vì Đát Kỷ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi. (Giới sắc 190.3). x. Trụ.
đây 低
◎ Ss đối ứng ni (29 thổ ngữ Mường), tɤj (1) [NV Tài 2005: 211].
đt. chỗ này. Ở thế thường hiềm khác tục ngươi, đến đây rằng hết tiếng chê cười. (Tự thán 76.2, 93.2).
đãi buôi 待杯
◎ Nôm: 待盃
đgt. HVVT <từ cổ> xởi lởi bên ngoài, không thực tình, “đãi buôi: những lời hứa viển vông” [Rhodes 1651: 81], “noi dai buoi” [Morrone 1838: 231]. Về Từ Nguyên, “đãi” là thiết đãi, “buôi” là âm Việt hoá của “bôi”, trỏ việc xã giao không thực lòng trong khi uống rượu, nói xong rồi bỏ đấy, hoặc nói suông cho vui. Nào ai dễ có lòng chân thật, ở thế tin chi miệng đãi buôi. (Tự thán 106.4). đãi bôi.
đèn 畑
◎ Đối ứng dεn¹ (Mường), tεn (Rục), teen (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60], tɛn, dɛn (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 212].
dt. đồ thắp sáng. Thì nghèo, sự biến nhiều bằng tóc, nhà ngặt, quan thanh lạnh nữa đèn. (Thuật hứng 46.6, 67.4)‖ (Tự thán 99.6, 105.6)‖ (Tự thuật 120.4)‖ Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khua na đắng lỗ tai. (Trừ tịch 194.5).
đêm ngày 店𣈜
dt. ban tối và ban sáng, sau trỏ thời gian nói chung. Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước triều đông. (Thuật hứng 50.8)
đìa 池
◎ Đọc theo âm THV. AHV: trì. Phng. Bình Trị Thiên: đìa [VX Trang 1998: 240].
dt. <từ cổ> ao, nay còn dùng trong “đìa nuôi tôm”. (Ngôn chí 4.5)‖ Đìa cỏ được câu ngâm gió, hiên mai cầm chén hỏi trăng. (Mạn thuật 23.5, 28.5)‖ (Thuật hứng 69.4, 70.4)‖ (Tự thán 78.3, 82.3, 84.4)‖ (Bảo kính 165.5, 170.4)‖ (Vãn xuân 195.6).
đình 亭
dt. loại kiến trúc có mái chóp, không có tường bao, thường đặt bên đường bên sông hay vườn hoa để tránh mưa, nghỉ ngơi hay ngắm cảnh. (Tự thán 107.3, 110.4)‖ Chạnh yên hà, chái một căn đình, quét đất thiêu hương giảng ngũ canh. (Tức sự 123.1). “đình gì mà phải quét đất, có nghĩa là không lát gì cả. Đình gì mà trống hoác như vậy, không có cả bốn vách đến nỗi chim đỗ trong tổ mà nhìn còn biết mặt, hoa chen chúc trong rừng mà thấy còn đọc ra tên. Đình gì dùng để dạy học mà có khi còn nghe rõ cả tiếng thuyền chài gõ cá dưới bến kia. Đình gì mà một phía chái vào khói ráng vậy. Đó chỉ là một ngôi lều rộng tuềnh toàng một mái thôi dùng để dạy láng giềng mấy sĩ nho, thầy dạy là một ẩn sĩ, không ước đai lân phù hổ gì. Té ra chữ đình thời Nguyễn Trãi khác chúng ta tưởng tượng theo bây giờ lắm, nó có thể chỉ một chỗ rộng chung cho mọi người có thể trú chân, tạm bợ, sơ sài. Học trò học cũng tạm bợ sơ sài như vậy. Thứ hai, đọc tài liệu ghi chép qua hoàng xuân hãn trong luận văn cuộc tiếp sứ thanh năm 1663 thì ta cũng ngạc nhiên cho đình trạm ngoại giao quan trọng cuối thế kỉ 17, từ lạng sơn về hết bắc giang, đình trạm tiếp khách chủ yếu là tranh tre nứa lá sơ sài. Cũng cuối thế kỉ đó, liêm quận công Nguyễn Quí Đức về hưu trí trong danh vọng và giàu sang làm một ngôi đình tiếp bè bạn là văn nhân được chính ông mô tả như sau trong bài thơ nôm đề lạc thọ đình: chạnh mái thiền lâm chụm một đình, trong nhàn dành họp bạn kỳ anh. Chiếu hiềm che gió cài xô lệch, vách ngại ngăn trăng để chống chênh. Vui mặt uống say nằm thét lác, dang tay hóng mát đứng hềnh hênh.” [NH Vĩ 2010].
đòi hỏi 隊𠳨
đgt. yêu cầu, yêu sách, muốn có. Nội hoa táp táp vây đòi hỏi, doanh liễu khoan khoan kháo lữa lần. (Điệp trận 250.3).
đòi thì 隊𪰛
đgt. <từ cổ> thuận ứng với thời thế, thuận theo thời. Kinh Dịch quẻ Tuỳ ghi: “Lớn, hanh thông, cứng rắn, không lỗi mà thiên hạ theo thời. Cái nghĩa “tuỳ thời” thực lớn lắm vậy thay!” (大亨貞,無咎,而天下隨時,隨時之義大矣哉). Vương bật chua: “được thời thì thiên hạ cứ theo đó vậy. Tuỳ thời mà thi hành thì nghĩa là chỉ có ở chữ thời mà thôi; thời đã khác mà không đổi theo, thì hỏng đạo vậy.” (得時,則天下随之矣。随之所施,唯在于時也;時異而不随,否之道也). Trình Di truyện rằng: “đạo đấng quân tử tuỳ thời mà động, theo với điều nên, vừa với sự biến, không thể làm ra điển yếu nhất định,nếu không là người hiểu đạo đã sâu, biết cơ vi, biết quyền biến, không thể dự vào chỗ đó, cho nên mới phải tán thêm rằng “cái nghĩa thuỳ thời lớn vậy thay!” [Ngô Tất Tố 2002: 326-327]. Sách Quốc Ngữ phần Việt ngữ hạ ghi: “Thánh nhân hành xử theo thời, đó là thủ thời vậy.” (夫圣人隨時以行,是為守時). Vi chiếu chua: “Tuỳ thời: thời hành thì mình hành theo, thời dừng thì mình cũng dừng theo.” (隨時:時行則行,時止則止). Sóng khơi ngại vượt bể triều quan, lui tới đòi thì miễn phận an. (Bảo kính 160.2).
Đông Hoa 東華
◎ Nôm: 東花 Xét, viết chữ 花 là do kỵ huý thời Nguyễn [NĐ Thọ 1997: 142].
dt. địa danh, theo truyền thuyết là tên gọi tắt của Đông Hoa Đế Quân, tức ông tiên Đông Vương Công, hay Đông Hoàng Công. Sách Ngô Việt Xuân Thu ghi: “Dựng Đông giao để tế mặt trời, tên là Đông Hoàng Công; lập Tây giao để tế mặt trăng, gọi là Tây Vương Mẫu” (立東郊以祭陽,名曰東皇公; 立西郊以祭陰,名曰西王母). Từ đời Minh, các cơ quan trung ương đều được đặt trong cửa Đông Hoa ở kinh thành, nên vì thế được dùng để trỏ các quan trung ương, sau trỏ triều đình nói chung. Thành Thăng Long từ thời lê cũng đã có cửa Đông Hoa. Cố đô huế cũng có cửa này, sau kị huý nên đổi thành Đông Ba [NĐ Thọ 1997: 142]. Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm, bén phải Đông Hoa bụi bụi xâm. (Tự thuật 119.2). Hai câu này mang ý “đã mấy năm nay làm khách xa nhà, cái áo phải dầm mưa dãi gió, lại thêm bén bụi bặm của chốn kinh đô phồn hoa đô hội” (chuyển dẫn ĐDA).
đông ly 東籬
dt. hàng rào phía đông. Danh thơm thượng uyển còn phen kịp; bạn cũ đông ly ắt khá [nhường]. (Cúc 217.6)‖ dịch câu 采菊東籬下,悠然見南山 thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến nam sơn (Đào Uyên Minh- ẩm tửu). Bạn cũ đông ly: tức hoa cúc.
đương 當
p. <từ cổ> gần gần, xấp xỉ, lưu tích còn trong từ tương đương 相當. Vườn còn thông trúc đương năm mẫu, câu ước công danh đổi một cần. (Mạn thuật 33.5).
đại địa 大地
dt. <từ cổ> mặt đất. Đại địa dày, Nam Nhạc khoẻ, Cửu tiêu vắng, Bắc Thần cao. (Thuật hứng 66.3).
đạo trời 道𡗶
dt. <Đạo> quy luật tự nhiên, dịch chữ thiên đạo 天道. Tự nhiên đắp đổi đạo trời, tiêu trưởng doanh hư một phút dời. (Tự thán 104.1). x. tiêu trưởng doanh hư.
đạo đức 道德
dt. đạo và đức. Ruộng nương là chủ, người là khách, đạo đức lành, ấy của chầy. (Bảo kính 177.8, 186.6).
đạp 踏
đgt. giẫm, bước, xéo lên. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.4)‖ (Trần tình 41.3)‖ (Thuật hứng 60.6)‖ (Tự thán 77.4). Ss đồng nguyên với đạp (dùng chân đá cho tung ra), như Đỗ Phủ trong bài Mao ốc vị thu phong sở phá có câu: “con bé ngủ ngang đạp rách chăn” (嬌兒惡卧踏裏裂).
đất con ong 坦昆螉
dt. đất xấu, ít màu, có nhiều cục vón và lỗ trông như tổ ong. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.1). cn đá ong.
đầm ấm 覃䕃
tt. <từ cổ> (đen) ấm, ấm áp, sau cho nghĩa “hạnh phúc” như ngày nay. Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh, chử khuở khô khao có khuở dào. (Thuật hứng 66.5, 47.5)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng, đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. (Tích cảnh 208.2)‖ (Giá 238.1).
đầy 苔
◎ Ss đối ứng tɤj, dɤj (26 thổ ngữ Mường), lăm (3 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 211].
tt. đầy đặn. Hay văn hay vũ thì dùng đến, chẳng đã khôn ngay kháo đầy. (Mạn thuật 25.8) phản ý câu tục ngữ Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy. (Bảo kính 172.8, 171.4).
tt. choán hết không gian tích trữ. (Trần tình 41.1)‖ Hoa càng khoe tốt, tốt thì rã, nước chớ cho đầy, đầy ắt vơi. (Tự thán 85.6, 86.8)‖ (Bảo kính 155.5, 157.6)‖ (Nhạn trận 249.1).
tt. trỏ trạng thái nhiều. (Thuật hứng 69.5)‖ (Tự thán 78.4)‖ (Tự thuật 121.4)‖ Bấm trong nhàn nào thửa được, đầy song hoa nở, tiếng chim kêu. (Bảo kính 164.8, 177.1)‖ (Ba tiêu 236.2)‖ (Miêu 251.6).
đầy tớ 苔四
dt. người giúp việc trong nhà, hoặc học trò [Rhodes 1651 tb1994]. Ruộng đôi ba khóm đất con ong, đầy tớ hay cày kẻo mướn mung. (Thuật hứng 56.2). PL (2012: 112) theo bản Bạch Vân Am thi tập mà phiên “đày tớ cùng cày” hiểu với nghĩa “học trò cùng cày với thầy”.
đắp 答 / 㙮 / 荅
◎ Ss đối ứng tăp, tum, dum (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 210].
đgt. xây, bảo vệ. Thục Đế để thành trêu tức, phong vương đắp luỹ khóc rân. (Điệp trận 250.6).
đgt. phủ chăn lên mình. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4)‖ Ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng. (Tích cảnh thi 208.4).
đgt. <từ cổ> đổi, lưu tích còn trong đắp đổi. Lấy khi phú quý đắp cơ hàn, vần chuyển chăng dừng sự thế gian (Bảo kính 133.1, 144.6).
đgt. <từ cổ> che tai, bịt tai không nghe [MQL 2001: 750]. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ (Bảo kính 165.8). Ngậm miệng đắp tai, hề cho hoạ cả (Trần Nhân Tông- Đắc ).
đắp đổi 㙮対
đgt. <từ cổ> xoay vần, chu tuần, luân lưu theo một chu trình định sẵn, “xếp có thứ tự” [Rhodes 1651 tb1994: 85]. Tự nhiên đắp đổi đạo trời, tiêu trưởng doanh hư một phút dời. (Tự thán 104.1). Thế sự tuần hoàn hay đắp đổi (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân Am 10). Đêm ngày đắp đổi traNH Hoành tương liên. (Thiên Nam Ngữ Lục 45).
đằm 沈
◎ Nôm: 潭 Đọc âm THV.
đgt. HVVD đắm mình trong. Đằm chơi bể học đã nhiều xuân, dời đến trên an nằm quải chân. (Nghiễn trung ngưu 254.1). x. trầm.
đặng 鄧
p. được. Từ ngày gặp hội phong vân, bổ báo chưa hề đặng mỗ phân. (Trần tình 37.2)‖ (Tùng 219.4, 220.1). Muốn cho đặng việc. (Lục Văn Tiên 46).
đặt 達
◎ Phiên khác: đợt (PL). Ss đối ứng tăc, dac, dăc, dăt (23 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 210].
đgt. dựng, lưu tích: cắt đặt, xếp đặt. Am cao am thấp đặt đòi tầng, khấp khểnh ba làn, trở lại bằng. (Ngôn chí 16.1). Đặt đàn giải oan. (TKML iv 12), Yên giường đặt gối ← 安床薦枕 (Phật Thuyết 21a).
đgt. ngả, hạ xuống. Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng, cật chưng hồ hải đặt chưa an. (Tự thán 72.4). cn đặt lưng.
đẹp 葉 / 枼 / 𤗽
◎ Ss đối ứng tɛp, dɛp (15 thổ ngữ Mường), tʼoc, soc, tot (14 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 213]. Như vậy, “đẹp” gốc Việt-Mường, “tốt” gốc Hán. x. tốt.
tt. vừa mắt, có thẩm mỹ. Con lều mọn mọn đẹp sao, trần thế chẳng cho bén mỗ hào. (Thuật hứng 52.1)‖ (Tức sự 126.5).
tt. “ưng ý, xứng ý” [Paulus của 1895: 290]. (Ngôn chí 11.8)‖ Ở thế dịn nhau muôn sự đẹp, cương nhu cùng biết hết hai bên. (Bảo kính 142.7).
đến chốn 典准
dt. <từ cổ> mọi nơi, dịch chữ đáo xứ (到處). Thân nhàn đến chốn dầu tự tại, xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời. (Thuật hứng 59.6). “đến chốn” (mọi nơi) chuẩn đối với “nào hoa” (tất cả các loài hoa).
đền 填 / 田
◎ Tày: tèn [HTA 2003: 502].
đgt. trong Đền đáp. (Ngôn chí 15.7)‖ Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5).
đều 調
tt. (mức độ, tính chất) như nhau. Tráu cúc thu vàng nảy lác, sân mai tuyết bạc che đều. (Bảo kính 164.4).
p. <từ cổ> cùng, hết thảy, biểu thị sự đồng nhất về hành động hay tính chất của các chủ thể được đề cập đến. Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.2)‖ (Mạn thuật 25.3, 26.7, 36.7)‖ (Thuật hứng 53.7)‖ (Tự thán 106.7)‖ (Tự thuật 114.2, 120.7)‖ Ở yên thì nữa lòng xung đột, ăn lộc đều ơn kẻ cấy cày. (Bảo kính 146.4, 148.2)‖ (Cúc 216.8).
đều hết 調歇
đt. <từ cổ> hết thảy, thảy thảy, đều = hết. Bốn dân, nghiệp có cao cùng thấp, đều hết làm tôi thánh thượng hoàng. (Tức sự 126.8)‖ (Thái cầu 253.7).
địch 迪
◎ Phiên khác: địch: ống sáo, cây địch một loại sáo (phạm trọng điềm, Schneider), vì cho là bị đồng âm với chữ 笛. ĐDA phiên thú vì cho là nhầm từ chữ 趣. BVN (1994: 45) phiên là thích: “chữ “địch” trong bản nôm, có âm khác là độc, đạc, nghĩa là tiến lên, lại thông nghĩa với chữ thích là thân thích, vốn có âm là đích, như con đích, lại cũng thông với nghĩa với chữ thích là vừa ý. Do đó, có thể phiên là thích vừa có hai nghĩa “đi về, đi tới” và “thích ý”, thí dụ: say minh nguyệt…, thích thanh phong”.
đgt. <từ cổ> làm, tạo tác, dựng (lều), Nhĩ Nhã ghi: 迪作也 (địch: làm) [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 3823]. Dụt xông biếng tới áng can qua, địch lều ta dưỡng tính ta. (Ngôn chí 18.2)‖ (Mạn thuật 27.4)‖ (Bảo kính 161.5). địch thanh phong lều một căn: dựng một căn lều trong gió mát (hiện tượng đảo trang).
đống lương 棟樑
dt. rường cột, trỏ những người hiền tài có khả năng đảm đương những trách nhiệm của quốc gia. Lâm tuyền ai rặng già làm khách, tài đống lương cao ắt cả dùng. (Tùng 218.4, 219.1). x. cột rường.
đồ 圖
dt. <từ cổ> bức tranh. Giang san dạm được đồ hai bức, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 19.5)‖ Đăm chiêu đồ mở hình cao thấp (HĐQA, b. 12). đng tranh, bức.
đổi lần 對吝 / 対吝
đgt. <từ cổ> chuyển vòng cho nhau, chuyển lần chuyển lượt cho nhau một cách tuần tự, trỏ việc chu lưu tuần hoàn của bốn mùa. cn Đắp đổi. Đông đà muộn lại sang xuân, xuân muộn thì hè lại đổi lần (Thu nguyệt 198.2)
đgt. thay đổi theo lượt, biến thiên. Đổi lần đã mấy áng phồn hoa, dầu ngặt, ta vui đạo ta. (Bảo kính 168.1).
Độc Lạc 獨樂
dt. đc. vườn Độc Lạc của Tư Mã Quang (còn gọi Tư Mã Ôn công) nhà sử học lỗi lạc đời Tống. Theo Lạc Dương danh viên ký thì trong khu vườn này của ông có một phòng đọc sách chứa đến hơn vạn cuốn. Từ Nguyên của chữ độc lạc vốn từ chương lương huệ vương hạ sách Mạnh Tử ghi: “Mạnh Tử hỏi rằng: một mình vui với nhạc, và vui nhạc cùng với người khác, cái nào vui hơn? rằng: chẳng bằng vui với người.” (獨樂樂,與人樂樂,孰樂?”曰:“不若與人). Léo chân nằm vườn Độc Lạc, chặm lều ở đất Nam Dương. (Tức sự 125.3).
đội 戴
◎ Nôm: 隊 AHV: đái. Ss đối ứng toj, doj, tɤj, dɤj (13 thổ ngữ Mường), puəŋ, buəŋ (10 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 216]. Như vậy, “đội” là gốc Hán, “mang” (< bang) [NV Khang 2001: 31] là gốc Việt-Mường. Một số nơi hiện vẫn nói mang mũ, mang áo.
đgt. mang (mũ áo) ở phía trên. Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.5).
đgt. (bóng) mang ở trên. Lộng lộng trời, tây chút đâu, nào ai chẳng đội ở trên đầu? (Trần tình 40.2).
đgt. chịu, mang (bị động). Dịch chữ đái ân 戴恩 (chịu ơn, đội ơn). (Ngôn chí 15.6)‖ Trong mắt những mừng ơn bậu bạn, trên đầu luống đội đức triều đình. (Tự thán 99.4, 100.3).
đới tục 帶俗
đgt. mang tục. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, chủ vô tâm ỷ khách vô tâm. (Ngôn chí 5.5). Tiền Vịnh trong bài bút ký Lý viên tùng thoại có câu: “nghèo hèn gần nhã, phú quý gần tục, trong nhã mà mang tục có thể đủ sống; trong tục mà mang nhã có thể xử thế.” (貧賤近雅,富貴近俗,雅中帶俗,可以資生,俗中帶雅,可以處世).
đức 德 / 󰆙
dt. đạo đức. Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.1, 15.6)‖ (Mạn thuật 27.6)‖ (Trần tình 39.6)‖ (Tự thán 91.7, 92.6, 99.4)‖ (Bảo kính 137.8, 184.1, 187.2).
đứt vàng 󱢎黄
◎ 󱢎 {tất 悉+ cá 个} bảo lưu từ giai đoạn trước, có kiểu tái lập cho tiếng Việt tiền cổ là *kđứt [TT Dương 2012a]. Tương quan d- đ, có cặp dứt - đứt. x. dứt. Phiên khác: chặt (TVG, ĐDA, MQL), dứt (Schneider, PL). Nay đề xuất.
đgt. đc. <Nho> chặt đứt vàng, dịch chữ đoạn kim 斷金. Kinh Dịch có câu: “Hai kẻ đã một lòng, thì sắc bén có thể chặt đứt được vàng.” (二人同心其利斷金). Chữ đoạn theo truyền thống giải âm thường được đối dịch bằng từ đứt. Ví dụ: Bằng vượn kêu dấu con, gan lòng đứt làm tám tấc ← 如猿啼愛子寸寸斷肝腸 (Phật Thuyết 15b9). Tiếng dế ngâm xui đứt ngọn bạch dương 蛩聲吟斷白楊稍蛩聲吟斷白楊稍蛩聲吟斷白楊稍 (Tuệ Tĩnh- Thiền Tông Khoá Hư Ngữ Lục: 16a10). Mà chưng mạch Kinh Thi, Kinh Thư hầu đứt mà lại nối 而詩書之脈幾斷而復續而詩書之脈幾斷而復續而詩書之脈幾而復續 (TKML i 11a1). Đoạn đứt tài may, liệt bày thao giấu (Tam Thiên Tự: 102). Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc phong. (Bảo kính 178.3).
ương 秧
dt. mạ.
đgt. ươm cây, trồng cây. Hoàng Đình Kiên có câu: “mời khách chuyên trà quán núi xa, xem người cấy lúa gió trưa hoà” (唤客煎茶山店遠,看人秧稻午風凉 hoán khách tiên trà sơn điếm viễn, khán nhân ương đạo ngọ phong lương). (Ngôn chí 4.6)‖ (Thuật hứng 60.5)‖ Ao quan thả gưởi hai bè muống, đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng. (Thuật hứng 68.6)‖ (Thuật hứng 69.4).
ước 約
đgt. <từ cổ> muốn, định, lưu tích còn trong ước định, ước muốn, ước mong. đạm lạt, nùng nồng, ước mong, tưởng nhớ < 淡辣濃濃約蒙想𢘾 (Tam Thiên Tự: 39) (Ngôn chí 7.3, 14.8, 16.8)‖ (Mạn thuật 33.6)‖ (Trần tình 37.5, 41.6)‖ (Thuật hứng 53.3)‖ Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.8)‖ (Tự thán 77.8, 88.5, 107.7, 109.3)‖ Đai lân bùa hổ lòng chăng ước. (Tức sự 123.5)‖ (Bảo kính 177.2).
ướm 暗 / 厭
đgt. <khiêm> thử. (Trừ tịch 194.8)‖ (Tích cảnh thi 208.1)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.5)‖ (Đào hoa thi 232.3). Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.7).
ấn 印
◎ Ss đối ứng ɤn (24 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 172].
dt. con triện, con dấu của quan. Kìa nẻo Tô Tần ngày trước, chưa đeo tướng ấn có ai chào! (Thuật hứng 66.8)‖ Nghìn dặm xem mây nhớ quê, chẳng chờ cổi ấn gượng xin về. (Bảo kính 155.2). x. cổi ấn.‖ Ấn phong hầu. (Bảo kính 162.8)‖ Đổi ấn. (Trừ tịch 194.3).
ấp 邑
◎ Ss với các đối ứng ɤp, op (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 172].
đgt. <từ cổ> ôm, lưu tích chỉ còn trong ấp trứng, ôm ấp. “mẹ ấp con: mẹ ôm con” [Rhodes 1651 tb1994: 31]. Thương nhẫn Biện Hoà ngồi ấp ngọc, đúc nên Nhan Tử tiếc chi vàng. (Tự thuật 117.3).
ấu 幼
dt. củ ấu. x. mấu ấu.
ắt 乙 / 𠃣
p. hẳn, nhất định, dịch từ chữ tất 必, biểu thị ý khẳng định cấp độ cao. (Ngôn chí 19.7) ‖ Ắt còn hai rặng quýt. (Mạn thuật 24.5, 25.2)‖ Càng một ngày càng ngặt đến xương, ắt vì số mệnh, ắt văn chương. (Tự thán 71.2, 72.3, 77.2)‖ (Trần tình 40.8)‖ (Thuật hứng 47.5, 52.6, 85.6)‖ Ắt muốn. (Tự thán 88.7, 96.2, 97.2, 108.7)‖ (Tự thuật 113.1, 114.8, 116.2, 118.3, 121.2)‖ (Bảo kính 128.4, 132.8, 148.1, 149.4, 167.4, 180.4)‖ (Tảo xuân 193.7)‖ Ắt còn xuân. (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 201.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.2) ‖ (Cúc 217.6)‖ (Tùng 218.4)‖ (Mai thi 224.3)‖ (Đào hoa 227.3, 228.2)‖ (Mộc hoa 241.3).
ốc 沃
◎ Ss đối ứng hok (Mường) [Vương Lộc 2001: 127].
đgt. <từ cổ> gọi. Cướp thiếu niên đi, thương đến tuổi, ốc dương hoà lại, ngõ dừng chân. (Vãn xuân 195.4). Chim ốc bạn cắn hoa nâng cúng (Huyền Quang - Vịnh Hoa ). kinh này danh ốc là gì? (Phật Thuyết 39a). Kinh này ốc là kinh nhân duyên. (Phật Thuyết 39a). Mị châu tên ốc đương thì thiếu đôi. (TNNL c. 779).
đgt. <từ cổ> rằng. Ngõ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.7) ngõ ốc: hiểu rằng.
ổ 塢
dt. luỹ, khóm. Lưu Thương đời Đường trong bài Phỏng hữu nhân giao cư có câu: “Lên nguồn vượt bến hỏi Tương Như, trúc khóm cỏ sân tựa chốn xưa.” (登原過水訪相如,竹塢莎庭似故居 đăng nguyên quá thuỷ phỏng Tương Như, trúc ổ sa đình tự cố cư). Gió nhặt đưa qua trúc , mây tuôn phủ rợp thư phòng. (Thuật hứng 51.5).
ổi 㛱
dt. cây ổi. Thế sự: người no ổi tiết bảy, nhân tình: ai ỏ cúc mùng mười. (Ngôn chí 22.3).
ủ ấp 󰁏邑
đgt. ôm ấp, “ủ” ôm trong lòng cho ấm, “ấp” vòng tay ôm trọn lấy. Trần trần một sự ấp cây đã liều (Nguyễn Du - Truyện Kiều), hoặc “ấp” còn mang nghĩa “sưởi ấm” như trong câu Quạt nồng ấp lạnh (Truyện ) [ĐDA 1987: 35]. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 21.8). Hiện tiếng Việt còn bảo lưu dạng biến thể đảo âm tiết “ấp ủ” với nghĩa “dự định, toan tính thực hiện một hoài bão, một công việc có ý nghĩa nào đó”.
mạc 模
◎ (sic) < 摸. Phiên khác: mua (TVG, BVN).
đgt. <từ cổ> vẽ, tô, “mặt mạc: mặt nạ” (Béhaine 1773: 350, 279), “mạc: peindre” (Gustave Hue). Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn (Đặng Trần Côn- Chinh phụ ngâm) dịch từ câu Chinh nhân mạo  thùy đan thanh, Tử sĩ hồn  thùy ai điếu (征人貌誰丹青, 死士魂誰哀弔), chữ “mạc mặt” dùng để dịch chữ “mạo” và “đan thanh”, trong đó “đan thanh 丹青, tức chu sa hay đan sa có mầu hồng, và thạch thanh một khoáng chất có mầu xanh, là những bột vẽ, nên có nghĩa là hội họa, là vẽ, là sử sách”. (PX Hy 2006). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.2)‖ Bút thiêng Ma Cật, tay khôn mạc, Câu kháo Huyền Huy, ý chửa đông. (Thủy thiên nhất sắc 213.5)‖ hộ tượng: tượng vẽ mạc chưng mặt người (CNNA 44b).
bể 把
đgt. vỡ. Già trui thép cho nên mẻ, Bể nồi hương bởi ngã bàn. (Bảo kính 185.6).
ỷ 倚
đgt. dựa vào, nương nhờ. Thơ đới tục hiềm câu đới tục, Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm, (Ngôn chí 5.6)‖ Trí qua mười mới khá rằng nên, lấy Nho, hầu đấng hiền. (Bảo kính 183.2).
tổ 祖
dt. tổ tiên. x. quê tổ.
nhẫn 忍
tt. nỡ, làm việc bất thiện mà không mảy may lo sợ, không chút từ tâm. Dắng dỏi bên tai tiếng quản huyền, Lòng xuân nhẫn động ắt khôn thìn. (Tích cảnh thi 201.2).
đành 停
đgt. phải chịu, phải chấp nhận. (Thuật hứng 58.4)‖ Đành hay thương hải đòi thì biến, Đà biết nhân gian mọi sự không. (Thuật hứng 62.5, 116.1)‖ Phúc họa tình cờ xảy chửa đành. (Bảo kính 136.2, 174.3).
năm 𠄼
◎ Ss đối ứng drăm (2 thổ ngữ Mường), dam (13 thổ ngữ), răm (10 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 245].
dt. số đếm. Vườn còn thông trúc đương năm mẫu, Câu ước công danh đổi một cần. (Mạn thuật 33.5)‖ (Thái cầu 253.3).
kín 謹 / 建
◎ 謹 (cẩn), 建 (kiến).
đgt. gánh nước, ghính nước, “kín nước: haurire aquam è puteo, fonte” [Taberd 1838: 242], “kin nuoc: haurire aquam” [Morrone 1838: 269]. Khách đến chim mừng hoa xảy rụng, chè tiên nước kín nguyệt đeo về. (Thuật hứng 48.4, 51.3)‖ (Tự thán 71.5). ghín, ghính, gánh.
đgt. <từ cổ> (bóng) chở, mang. Đông phong ắt có tình hay nữa, kín tịn mùi hương dễ động người. (Đào hoa thi 227.4)‖ Ngưu hoàng long não miễn thần sa, mặt kín phương màu tích để nhà. (Lê Thánh Tông - Thập giới cô hồn).
lầm 淋
dt. <từ cổ> bùn, trong bụi lầm, trỏ bụi bặm nói chung. lầm = bùn (tư liệu điền dã tại Phù Đổng, Gia Lâm) [CK Lược 1980: 180], lầm than < 塗炭. Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm. (Ngôn chí 5.1).
mất 沒
AHV: một. 末. Ss đối ứng văt3 (Muốt), bət3* (Nà bái), vət3/6 (Chỏi), bət4 (Khẻn) [PJ Duong 2012: 9].
đgt. HVVD. hỏng, sai.Nguyên chữ một nghĩa là chìm (Thuyết văn), rồi dẫn thân thành “hết” (Kinh thi), tiếng Việt chuyển nghĩa thành mai một (tiêu hao) và mất (chết, không còn). Người cười dại khó ta cam chịu, Đã kẻo lầm cầm miễn mất lề. (Bảo kính 141.8)‖ Bằng rồng nọ ai phen kịp, Mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.8). phb. trật, thất.
khôn 困
◎ Nôm: 坤 AHV: khốn, âm phiên thiết: “khổ côn thiết, âm khôn” (苦昆切,音坤). [Khang Hy tự điển: 217] Trong Hán văn, “khôn” / “khốn” trỏ việc “khốn khó”, “nghèo khốn”, “nguy khốn”, “nguy nan”. Vào tiếng Việt, ngữ tố này đã được hư hoá.
tt. HVVD. <từ cổ> khó, “khôn cùng: khó cùng, không cùng, không hết. Không kể: khó kể, không kể được. Khôn xiết: khó xiết, không hết, không kể cho cùng. Khôn ví: không lẽ sánh, khó sánh” [Paulus Của 1895: 499]. Kỳ, ký, nô, thai đà có đấy, Kẻ dìn cho biết lại khôn thay. (Tự thuật 112.8).
đgt. <từ cổ> khó có thể. (Thủ vĩ ngâm 1.5)‖ (Ngôn chí 6.6)‖ Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử, Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh. (Ngôn chí 7.4)‖ (Mạn thuật 36.6)‖ (Trần tình 37.3)‖ (Thuật hứng 49.6, 65.5 68.4)‖ (Tự thán 87.4)‖ (Tự thuật 113.4, 118.2)‖ (Bảo kính 137.3, 142.5, 150.4, 156.6, 180.6)‖ (Quy Côn Sơn 189.3)‖ (Tích cảnh thi 199.1, 201.2)‖ (Thủy thiên nhất sắc 213.5)
p. <từ cổ> không [Paulus Của 1895: 499]. Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2).
thay 台 / 世 / 咍
c. từ biểu thị nhấn mạnh hơn nữa cảm xúc đang nói đến. Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, Bui một lòng người cực hiểm thay. (Mạn thuật 26.8, 30.2)‖ lành thay cơm cám được no ăn (Trần tình 38.2, 44.3, 45.2)‖ (Tự thán 75.2, 99.1, 108.8)‖ (Tự thuật 112.8, 115.8)‖ (Tức sự 124.8)‖ (Bảo kính 145.1, 146.1, 179.8)‖ (Tích cảnh thi 209.4)‖ (Tùng 219.2, 220.2)‖ (Trúc thi 222.4, 223.1, 223.4)‖ (Mạt lị hoa 242.4)‖ (Mai thi 225.2).
lác 落
◎ (lạc). Kiểu tái lập: mlác, ml- > nh- cho âm nhác (trong nhác trông), ml- > l- cho âm lác, đọc trại thành liếc. Tày: léc (thoáng nhìn, liếc nhìn) [HTA 2003: 287]. Phiên khác: lác: lác đác (TVG, ĐDA, MQL, NTN), lạc: rụng (BVN, Schneider). Nay theo NH Vĩ (2011b: 324- 326). nhác, liếc.
đgt. <từ cổ> nhìn, ngắm, chuẩn đối với chữ vào (động từ) ở câu dưới. Khách đến, vườn còn hoa lác, Thơ nên, cửa thấy nguyệt vào. (Mạn thuật 35.5).
miễn 免,
◎ thanh phù có m-. Lưu tích có l- trong tiếng Việt hiện đại là “lẫn”, “liễn” [ĐDA 1976: 704]. Kiểu tái lập: *mlien⁴ [TT Dương 2013b].
đgt. <từ cổ> chỉ cần. Chén chăng lọ chuốc rượu La Phù, Khách đến ngâm chơi, miễn có câu. (Trần tình 43.2)‖ (Thuật hứng 48.8, 56.4, 60.2)‖ (Tự thán 78.7, 112.4)‖ (Bảo kính 140.3, 146.2, 160.2, 163.2, 187.2)‖ (Cúc 217.7).
ghé 󰏲
◎ Kiểu tái lập: *?ge⁵. HT Ngọ cho rằng 阿a là một âm tiền thanh hầu hoá, tác giả tái lập âm đầu là *?ng- và giải thích rằng các âm ?m-, ?n-, ?nh-, ?ng- là dấu vết của ?b-, ?d-, ?j-, ?g- khi chúng chuyển sang các âm phản chiếu mũi hoá [1999: 114-115; Shimizu Masaaki 2002: 768].
đgt. dừng chân thăm thú. [Paulus Của 1895: 354]. Công danh trở đường vô sự, Non nước ghé chốn hữu tình. (Tự thán 86.6).
phải 沛
tt. đúng. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe. (Trần tình 44.2)‖ (Bảo kính 132.4, 149.2, 156.2, 165.7, 172.5, 173.7, 184.7).
đgt. <từ cổ> đúng là. Khó bền, mới phải người quân tử, Mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
đgt. cần, ở trong điều kiện không thể không làm, không thể khác. Cho về cho ở đều ơn chúa, Lọ phải xung xăng đến cửa quyền. (Thuật hứng 53.8, 57.2, 68.4)‖ (Bảo kính 131.8, 144.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4).
đài 臺
dt. loại kiến trúc đắp cao, có nhiều chức năng khác nhau. Đài Tử Lăng cao, thu mát, Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang. (Ngôn chí 9.3): tức Tử Lăng điếu đài, nơi câu cá của ẩn sĩ Tử Lăng (Tự thuật 119.8). x. Hoàng Câm.
phương 方
dt. phương cách, phương hướng. Rủ vượn hạc xin phương giải tục, Quyến trúc mai kết bạn tri âm. (Tự thuật 119.3)‖ (Hoàng tinh 234.2).
dt. phương diện. Đạo đức hiền lành được mọi phương, Tự nhiên cả muốn chúng suy nhường. (Bảo kính 128.1)
dt. chốn, phương hướng. Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân chàu đủ khắp đòi phương. (Bảo kính 170.8).
cải 改
đgt. thay đổi. Mới biết doanh hư đà có số, Ai từng cải được lòng trời. (Tự thán 85.8).
cờ 旗
AHV: kỳ. đọc theo âm THV.
dt. tinh kỳ. Đàn trầm đạn ngọc sao bắc, Phất dõi cờ lau gió tây. (Nhạn trận 249.4), dịch chữ lô kỳ 蘆旗.
nhặt 抇
◎ (bản B), bản A viết nhầm 日thành viết 日và đảo vị trí. Các cách phiên chú là vắt. “Trung, viết (hoặc nhật) mà phiên trong vắt thì hầu như trái với tiền lệ, ít nhất là trái với các mã chữ trong văn bản này. Vắt hoặc vít hoặc vất trong văn bản này được viết với mã勿; Trong ở các văn bản Nôm khác thường được viết với mã冲 ,沖, 𤁘. Bất ổn thứ hai là vi phạm luật đối giữa hai câu. Không thể nào thiết lập luật đối giữa Cổi tục trà thường pha nước tuyết với Tìm thanh trong vắt tịn trà mai được. Dù có thay tận bằng tiễn, tịn, tiển hay tạn cũng vậy thôi. Thứ ba là cấu tạo cụm từ bị xô lệch, có nghĩa câu thơ không biết ngắt nhịp ở chữ nào để lọn nghĩa và được nghiêm đối. Nói chung đó không thể là câu thơ của ức Trai được. Còn câu ở bản B thì khác hẳn : Lọn nghĩa, chuẩn đối, tinh tế và tươi tắn đến thích thú như rất nhiều ý thơ vốn có của ông : Cổi tục | trà thường pha nước tuyết, Tìm thanh | khăn tận nhặt chè mai. (󱸸俗茶常坡渃雪,尋清巾羨抇茶梅)... Câu thơ súc tích mà mạch lạc thì lọn nghĩa. Động từ đối động từ, tính từ đối tính từ, danh từ đối danh từ, hư từ đối hư từ một cách sóng sít thì là chuẩn đối. Một hành vi lao động cụ thể, khá đặc biệt của cư sĩ được thi vị hoá qua ngôn ngữ thơ thì đó là tinh tế. Đặt trong văn hoá lao động thôn dân ta thấy ý thơ muôn phần tươi tắn. Thơ Nguyễn Trãi thường thú vị chúng ta là vì vậy”. [NH Vĩ 2010].
đgt. cầm lên. Cổi tục, chè thường pha nước tuyết, Tìm thanh, khăn tịn nhặt chà mai. (Ngôn chí 2.4).
tôi 催 / 碎
dt. bề tôi. Bui có một niềm chăng nỡ trại, Đạo làm con miễn đạo làm tôi. (Ngôn chí 2.8)‖ (Trần tình 37.8, 43.8)‖ (Thuật hứng 65.3)‖ (Tự thán 82.5, 93.7)‖ (Tức sự 126.8).
dt. con đòi, người hầu. Con cháu mựa hiềm song viết tiện, Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi. (Ngôn chí 13.8)‖ (Tự thán 83.6).
hoà 和
tt. hòa thuận. Chận làm chi, tổn khí hoà, Nào từng hữu ích, nhọc mình ta. (Giới nộ 191.1).
phân 分
đgt. chia ra, tách ra. Bẻ cái trúc hòng phân suối, Quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3).
thác 錯
đgt. <từ cổ> sai, lầm. (Tự thuật 112.2)‖ Dưới công danh nhiều thác cả, Trong ẩn dật có cơ mầu. (Bảo kính 159.5). x. lỗi.