Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry
Chu Dịch 周易
dt. <Nho> tức sách dịch, trong trong những kinh điển quan trọng của nho gia. Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch, đêm vắng tìm mai bạn Lão Bô. (Ngôn chí 20.3)‖ (Tự thán 79.3)‖ (Tự thuật 119.5).
Trung Dung 中庸
dt. <Nho> Trung Dung ghi: “Vui, giận, buồn , mừng khi chưa phát ra thì gọi là trung, phát ra rồi mà đúng dịp thì gọi là hoà. Trung ấy là nguồn gốc lớn của trời đất; hoà ấy là sự đạt đạo của thiên hạ. Đến cựng cực của trung hoà thì muôn vật được đúng ngôi vị của nó, mà vạn vật được nuôi dưỡng.” (喜怒哀樂之未發謂之中,發而皆中節謂之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之达道也。致中和,天地位焉,萬物育焉.). Làm người thì chử đạo Trung Dung, khắn khắn răn dỗ thửa lòng. (Tự giới 127.1)‖ (Bảo kính 129.1).
an lạc 安樂
tt. <Nho> yên vui. Tuỳ Thư phần Liệt nữ truyện có đoạn: “trẫm vỗ về sinh dân, tình như phụ mẫu, muốn khắp nơi thanh tịnh, trăm họ yên vui” (朕撫育蒼生,情均父母,欲使率土清浄,兆庶安樂). An lạc một lều dầu địch, thái bình mười chước ngại dâng. (Bảo kính 161.5).
ba bảy mươi 𠀧𬙞󰁰
đc. <Nho> ba phần, bảy phần, mười phần. Kinh Thi bài Phiếu hữu mai có đoạn “mai rụng kìa, quả còn bảy phần. Chàng nào tìm em, hãy chọn ngày lành. Mai rụng kìa, quả còn ba phần. Chàng nào cần em, chọn ngày nay đi” (摽有梅、其實七兮。求我庶士、迨其吉兮。摽有梅、其實三兮。求我庶士、迨其今兮). Ý nói cây mai có mười phần quả, cứ rụng dần mất đi. quả mai ba bảy đương vừa, đào non sớm liệu xe tơ kịp thời (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Vì thu cho nhẫn nên đầu bạc, chưa dễ ai đà ba bảy mươi. (Tích cảnh thi 203.4, 204.1). Với điển này, đây rõ ràng là loạt bài nói về chuyện tình yêu đôi lứa. [xem thêm NH Vĩ. 2009. Nguyễn Trãi và sex].
bất nghĩa 不義
dt. tt. (việc) trái với đạo nghĩa, (việc) không nên làm. Cầu hiền chí cũ mong cho được, bất nghĩa lòng nào mựa nỡ toan. (Bảo kính 144.4, 185.8). Sách Mạnh Tử ghi: “Làm một điều bất nghĩa, giết một người vô tội mà chiếm được thiên hạ, thì cả hai việc ấy đều không làm” (行一不義殺一不辜而得天下皆不為也).
bốn bề 𦊚皮
dt. tứ phía. Một vườn hoa trúc, bốn bề thâu, lánh thân nhàn được thú mầu. (Bảo kính 154.1).
chong đèn chực tuổi 終畑直嵗
đgt. Thng dịch cụm nhiên đăng thủ tuế 燃燈守歲 (thắp đèn chực tuổi), hay vi lô thủ tuế 圍爐守歲 (quây lò chực tuổi), hay thủ canh đãi tuế 守更待歲 (cầm canh đợi tuổi). Dân gian có chuyện, vào thời hồng hoang, có một con thú dữ cứ đến đêm ba mươi tháng chạp, lại từ dưới biển mò lên đất liền làm hại người, phá hoại ruộng vườn. Phải qua đến ngày hôm sau, mọi người mới có thể gặp mặt và chúc mừng không bị thú dữ ăn thịt. Đến một năm, quái thú đến một làng nọ, dân làng đều bị nó ăn thịt. Duy chỉ có mỗi một nhà mới cưới có treo đèn lồng đỏ, thì không sao cả. Lại có thêm một em bé mải đốt bộc trúc cả đêm cũng bình an vô sự. Nhân dân quanh vùng vì thế mới phát hiện ra rằng, con quái thú ấy sợ màu đỏ và sợ pháo trúc. Từ đó về sau, hễ cứ đến đêm ba mươi, nhà nhà đều treo đèn lồng đỏ. Ai cũng thức khuya, đốt pháo, khua chiêng đánh trống để đuổi ác thú, như thế thì gọi là “thủ tuế”. Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khua na đắng lỗ tai. (Trừ tịch 194.5).
chèo 棹
◎ Đọc âm THV. AHV: trạo.
dt. đgt. dụng cụ bạt nước đẩy thuyền đi. Vầu làm chèo, trúc làm nhà, được thú vui ngày tháng qua. (Trần tình 39.1)‖ Nước xuôi nước ngược nổi đòi triều, thuyền khách chơi thu các lướt chèo. (Tự thán 101.2).
đgt. dùng mái chèo bạt nước. Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ, trời ban tối ước về đâu? (Ngôn chí 14.7, 22.5)‖ (Mạn thuật 32.4)
chín khúc 𠃩曲
dt. dịch chữ cửu uyển. Uyển: đơn vị đo ruộng đất thời xưa, các thuyết không chính xác, hoặc 12 mẫu một uyển hoặc 30 mẫu là một uyển [Khang Hy]. Khuất Nguyên trong ly tao có câu: “Ta đà tưới chín uyển lan chừ, lại trồng huệ hơn trăm mẫu.” (余既滋蘭之九畹兮, 又樹蕙之百畝 dư ký tư lan chi cửu uyển hề, hựu thụ huệ chi bách mẫu). Hàn Dũ trong bài Hợp giang đình có câu: “Trồng lan đầy chín uyển, giâm trúc quá vạn cành.” (樹蘭盈九畹,栽竹逾萬个 thụ lan doanh cửu uyển, tài trúc du vạn cá). Lan còn chín khúc, cúc ba đường, quê cũ chẳng về nỡ để hoang. (Tự thuật 117.1).
chẳng 庒 / 庄 / 拯
p. phủ định từ. Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, góc thành nam, lều một căn. (Thủ vĩ ngâm 1.7)‖ Làm người chẳng có đức cùng tài, đi nghỉ đều thì kém hết hai. (Ngôn chí 6.1, 15.7, 17.8, 18.8, 19.8, 20.2, 22.1, 22.7)‖ (Mạn thuật 24.2, 24.6, 25.4, 25.8, 36.8)‖ (Trần tình 38.1, 40.2)‖ (Thuật hứng 47.6, 50.1, 52.2, 57.8, 59.6, 60.3, 61.5, 62.7, 64.8, 67.5)‖ (Tự thán 74.5, 77.1, 82.8, 83.7, 84.2, 84.7, 85.2, 87.5, 95.5, 96.3, 97.2, 99.8, 105.1, 106.8, 116.7, 117.2, 118.7, 119.8, 121.2)‖ (Tự giới 127.8)‖ (Bảo kính 128.4, 128.7, 129.1, 132.8, 133.2, 136.5, 137.7, 143.1, 146.2, 147.8, 153.7, 155.2, 155.8, 157.1, 157.7, 158.8, 161.4, 162.7, 166.2, 167.7, 171.3, 171.6, 172.8, 175.3, 176.8, 179.7, 180.1, 180.3, 186.1)‖ (Huấn Nam Tử 192.6)‖ (Trừ tịch 194.7)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.4)‖ (Tích cảnh thi 209.2, 211.2)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.7)‖ (Lão mai 215.2, 215.6)‖ (Cúc 216.6)‖ (Tùng 218.1, 219.3)‖ (Trúc thi 221.4)‖ (Mai thi 224.1, 226.4)‖ (Hoa mẫu đơn 233.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.4)‖ (Mộc cận 237.2)‖ (Cúc 240.1)‖ (Mộc hoa 241.4)‖ (Liên hoa 243.1)‖ (Cam đường 245.4)‖ (Trường an 246.1)‖ (Miêu 251.4)‖ (Trư 252.6)‖ (Thái cầu 253.1).
chốn chốn 准准
dt. <từ cổ> nơi nơi. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.6).
cành 梗
AHV: ngạnh, âm phiên thiết: cổ hạnh thiết, âm cành 古杏切,音鯁 (Đường vận, Quảng Vận, Tập Vận), có các âm HHV như: ngành, nhành, cặng, cọng, cậng, cuộng, cuống, ngồng, chành, chánh. [xem thêm TT Dương 2011b]. hoa ngạnh 花梗: cuống hoa. thái ngạnh 菜梗: cọng rau. bình ngạnh 萍梗: cánh bèo. Ss đối ứng: 梗 cáng, kéng (Tày) [HTA 2003: 51, 228]. Ss đối ứng: kɛɲ, ɲɛɲ (21 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 185].
dt. nhành cây. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.5)‖ (Thuật hứng 50.5)‖ (Bảo kính 142.2, 151.2, 151.3) ‖ (Tảo xuân 193.5)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.3)‖ (Mai thi 225.3).
câu mầu 句妙
◎ Nôm: 勾牟
dt. HVVT <từ cổ> dịch chữ diệu cú (câu thơ mầu nhiệm). Khách lạ đến ngàn hoa chửa rụng, câu mầu ngâm dạ nguyệt càng cao. (Thuật hứng 52.4).
cầm xuân 扲春
◎ Nôm: 扲春
đgt. HVVT dịch chữ lãm xuân 攬春 (bắt xuân), hoặc toả xuân 鎖春 (khoá xuân). Lầu hồng có khách cầm xuân ở, cầm ngọc tay ai dắng dỏi thêm. (Tích cảnh thi 200.3). đc. Tào Tháo cho dựng đài Đồng Tước bên sông chương hà, dùng để nhốt mỹ nữ, lại sai Tào Thực làm bài Đồng Tước đài phú trong đó có câu: “bắc hai cầu tây đông nối lại chừ, như cầu vồng trong trời rộng” (連二橋於東西兮,若長空之蝃蝀 liên nhị kiều vu đông tây hề, nhược trường không chi đế đống). Nguyên hai chị em họ kiều ở giang nam nổi tiếng xinh đẹp, nhưng khi ấy hai nàng đều đã lấy tôn sách và chu du. Để khích chu du đánh tháo, Khổng Minh đã sửa hai câu của Tào Thực thành: “bắt hai kiều ở đông nam chừ, về cùng vui hôm sớm” (攬二喬於東南兮,樂朝夕之與共 lãm nhị kiều ư đông nam hề, lạc triêu tịch chi dữ cộng). Và phao tin rằng trong cuộc rượu tháo từng nói nếu hạ được giang nam sẽ đem hai nàng họ kiều về nhốt ở Đồng Tước để cùng vui thú tuổi già. Đỗ Mục đời Đường trong bài Xích bích hoài cổ viết: “Gió đông chẳng giúp chu lang, đồng tước xuân sâu nhốt hai nàng kiều” (東風不與周郎便,銅雀春深鎖二喬). Sau dùng điển ngữ toả xuân (khoá xuân) để trỏ người con gái sắc nước hương trời vẫn còn e ấp trong khuê các. Một nền đồng tước khoá xuân hai kiều (Nguyễn Du - Truyện Kiều).
cứ 據
đgt. <từ cổ> dựa theo, căn cứ vào. Sách Tả Truyện ghi: “Thần ắt dựa vào ta” (神必據我). Sách Luận Ngữ ghi: “Dựa vào đức” (據于德). Được thua cứ phép làm thằng mặc, cao thấp nài nhau tựa đắn đo. (Bảo kính 152.3). Trong tiếng Việt hiện nay, “cứ” được hư hoá, ví dụ “cứ theo đó mà làm”, “anh cứ nói mãi”.
cửa nhà 𬮌茹
dt. nhà ở nói chung. Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.3)‖ (Thuật hứng 55.6)‖ (Bảo kính 143.4)‖ (Giới nộ 191.4)
cửa quyền 󰘂權 / 𬮌權
dt. dịch chữ quyền môn 權門. Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn, thanh nhàn án sách hãy đeo đai. (Ngôn chí 6.3, 20.5)‖ (Mạn thuật 27.2)‖ (Thuật hứng 53.8)‖ (Tự thán 109.4)‖ (Bảo kính 143.1)..
day 移
AHV: di. OCM *lai, OCB *ljaj. MK: OKhmer *re /ree ~rəə / [Schuessler 2007: 566]. dời, rê.
đgt. lay, rung. Cội rễ bền day chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3). x. dời.
giới sắc 戒色
dt. tên bài số 190 trong QATT. Giới sắc nghĩa là răn dè chuyện thanh sắc, chuyện nữ giới. Ông quan niệm, “sắc là giặc”, là cái đã làm từng làm cho triều đại của vua trụ, vua ngô sụp đổ, là cái làm cho “bại tan gia thất”, làm cho con người “tổn hai tinh thần”. Quan trọng là phải giữ được đạo vợ chồng, vì đó là đầu mối “tạo đoan” trong luân thường đạo lý.
hay nữa 咍女
ht. đi chăng nữa. Đông phong ắt có tình hay nữa, kín tịn mùi hương dễ động người. (Đào hoa thi 227.3).
hiên 軒
dt. thanh gỗ vịn tay bên cửa ra vào hay cửa sổ, sau trỏ cả không gian phía trước cửa. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.1, 5.7, 7.6, 12.2, 18.5)‖ (Mạn thuật 23.6)‖ (Tự thuật 122.6)‖ (Bảo kính 160.4, 170.3, 172.4)‖ (Tích cảnh thi 205.3).
kham hạ 堪下
kham: có thể, hạ : cúi mình, “chịu, chịu làm phận dưới” [NN San 2001: 98]
đgt. HVVT <từ cổ> “đáng phục, đáng khen” [MQL 2001: 1218], “xét nghĩa của từ Hán Việt “kham hạ”, từ “kham” mang nghĩa là “có thể”, từ “hạ” mang nghĩa là “dưới”. Do vậy, có thể thấy được các cách giải thích là “Chịu ở dưới”, “chịu thua”, “chịu ở địa vị thấp kém”, đều là không vượt ra khỏi sự ràng buộc của nghĩa Hán Việt của từ đó.” [NT Nhí 1985: 60]. Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến, Đồng Giang được nấn một đài câu. (Bảo kính 153.7, 160.7, 162.7).
khêu 挑
◎ Nôm: 拞 AHV: khiêu, đọc theo âm HHV .
đgt. khơi bấc thắp đèn, 挑火 khiêu hoả (khêu lửa), 挑刺 khiêu thứ (khêu dằm), 挑燈亱讀 khiêu đăng dạ độc (khêu đèn đọc sách ban đêm). Dũ Ngạc trong bài Đảo nam tạp thi viết: “rả rích mưa mùa lúc lo âu, nửa đêm khêu bấc đọc ly tao.” (蠻蠻蕭雨正鬱陶,挑燈夜半讀《離騷》 man man tiêu vũ chính uất đào, khiêu đăng dạ bán độc ly tao). (Thuật hứng 67.4)‖ Lặt hoa tàn, xem ngọc rụng, soi nguyệt xủ, kẻo đèn khêu. (Tự thán 105.6).
khỏng khảnh 恐輕
◎ Phiên khác: khủng khỉnh: không được hài lòng thỏa mãn, khinh rẻ (TVG, VVK). Nay theo MQL.
tt. <từ cổ> thích thú [Béhaine 1773: 228; Paulus của 1895: 500]. “gracieux, agréable” (dễ chịu, thích thú) [Génibrel 1898: 366]. Chàu những của tự nhiên ấy, khỏng khảnh dầu lòng ở đất nghiêu. (Tự thán 105.8).
Khổng môn 孔門
dt. <Nho> cửa Khổng. Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.2).
ly tao 離騷
dt. tên tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Khuất Nguyên. Ai rặng mai hoa thanh hết tấc, lại chăng được chép khúc “ly tao”. (Thuật hứng 47.8).
mã 馬
◎ Phiên khác: ngựa (TVG).
dt. cái ngựa đàn, tức thanh gỗ hay kim loại để cố định một đầu dây, từ đó mới dòng dây qua các nhạn đàn và cuối cùng néo vào khoá đàn để điều chỉnh độ căng và cung phím của dây đàn, tiếng anh gọi là cái cầu đàn (bridge). Cầm khua hết , cờ xua tượng, chim bắt trong rừng, cá bắt ao. (Tự thán 89.5).
mình gắng 命亘
gt. tt. <Nho> dịch chữ tự cường 自強. Trong sách Kinh Dịch có câu: “Trời vận hành cương kiện, quân tử thì tự cường không nghỉ.” (天行健,君子以自強不息 thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Khó bền, mới phải người quân tử, mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.6).
mồ hòn 戊丸
dt. cây thân mộc, quả vị rất đắng, dùng để giặt giũ. Thương cá thác vì câu uốn lưỡi, ngẫm ruồi chết phải bát mồ hòn. (Bảo kính 182.4). của ngon chẳng còn đến trưa, mồ hòn có ngọt thì vua đã dùng cd
nghi 疑
đgt. ngờ, ngỡ. Trên cây khác ngỡ hồn Cô Dịch, đáy nước nghi là mặt Thái Chân. (mai 214.4).
ngũ canh 五經
AHV: ngũ kinh.
dt. năm bộ kinh điển quan trọng vủa nho gia. Am quạnh thiêu hương đọc ngũ canh, linh đài sạch một dường thanh. (Mạn thuật 31.1)‖ (Tức sự 123.2). x. canh.
ngủ 俉 / 𪟳 / 午
◎ Phiên khác: ngỏ: để ngỏ cửa toang hoang (ĐDA), ngỏ (BVN), ngõ (MQL). Xét, “ngõ” (danh từ) không đối với “say” (động từ). Ngỏ (mở) không hợp nghĩa với “tênh hênh”, vả lại “tênh hênh” cũng không có nghĩa “toang hoang” như ĐDA đã nêu. Chỉ có “ngủ tênh hênh” mới làm rõ trạng thái tự do, thoải mái của chủ thể , “ngủ tênh hênh” chuẩn đối với “say lểu thểu”. Nay theo TVG, Schneider, VVK, PL. Với chữ Nôm 𪟳 { 个 + ngọ 午}, nhẫn Gaston tái lập là *kngủ [1967: 46; xem TT Dương 2012a]. Ss đối ứng ŋu (3 thổ ngữ Mường), tăj, dăj (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 250].
đgt. trái với thức. (Trần tình 42.5)‖ Ngủ tênh hênh, nằm cửa trúc, say lểu thểu, đứng đường thông. (Thuật hứng 61.3)‖ (Tự thán 110.1).
ngửa tay 語𪮏
◎ Ss đối ứng của ngửa: ŋa (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 250].
đgt. khng. Đi khất thực, ăn xin. Đói khó thì làm việc ngửa tay, chớ làm sự lỗi, quỷ thần hay. (Bảo kính 171.1). Đào Uyên Minh trong bài Khất thực viết: “cái đói xua ta đi, chẳng biết đi đâu nữa! đi mãi đến xóm này, ngượng miệng đành gõ cửa…” (饑來驅我去,不知竟何之!行行至斯里,叩門拙言辭 cơ lai khu ngã khứ, bất tri cánh hà chi! hành hành chí tư lí, khấu môn chuyết ngôn từ.).
ngựa xe 午車
◎ Nôm: 馭車
dt. HVVT ngựa và xe, trỏ xe cộ sang trọng của quan lại. Ngựa ngựa xe xe la ỷ tốt, dập dìu là ấy chiêm bao. (Thuật hứng 52.7). cn xa mã.
nhan sắc 顏色
dt. sắc đẹp Người đua nhan sắc khuở xuân dương, nghỉ chờ thu cực lạ dường. (Cúc 216.1).
nhi tôn 兒孫
dt. con cháu. Ở thế làm chi câu thúc nữa, nhi tôn đã có phúc nhi tôn. (Tự thán 111.8)‖ (Bảo kính 146.8).
nhiễu 繞
◎ Nôm: 遶
đgt. vây quanh. Đào Uyên Minh trong bài Độc Sơn Hải Kinh có câu: “Đầu hè cỏ mau lớn, quanh nhà cây lên rậm.” (孟夏草木長, 繞屋樹扶疏 mạnh hạ thảo mộc trưởng, nhiễu ốc thụ phù sơ). Có nước nhiễu song, non nhiễu cửa, còn thơ đầy túi, rượu đầy bầu. (Tự thuật 121.3).
nhà bằng khánh 茹朋磬
đc. HVVT Thng sách Quốc Ngữ phần Lỗ ngữ thượng ghi: “Nhà như treo khánh, đồng chẳng cỏ xanh” (室如懸磬,野無青草 thất như huyền khánh, dã vô thanh thảo), sau cụm thất như huyền khánh trở thành thành ngữ, ý nói trong nhà rỗng không, nghèo xơ xác không có gì. Quan thanh bằng nước nhà bằng khánh, cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng. (Tự thuật 117.5).
nhơn nhơn 然然
tt. <từ cổ> ớn ớn, lạnh rợn rợn, “nhơn lạnh: ớn lạnh, giún lạnh” [Paulus của 1895: 752]. Cửa sày, giá nhơn nhơn lạnh, lòng bạn, trăng vặc vặc cao. (Bảo kính 167.5).
nhọn 悅 / 銳
tt. trái với cùn, đụt. Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, lòng người quanh nữa nước non quanh (Bảo kính 136.3)‖ (Trư 252.1).
nấu 𤒛
đgt. đun cho chín. Than lửa hoài chưng thương vật nấu, [củi] thiêu tiếng khóc cảm thần linh. (Bảo kính 151.5), bài này nhắc đến điển Tào Thực (192-232) làm thơ ngăn anh trai Tào Phi (Nguỵ Văn Đế) định giết hại mình. Vì như thế là làm việc “Nấu đậu bằng cành đậu, đậu khóc than trong nồi: ‘vốn sinh cùng một cội, nấu nhau nhanh quá đỗi’.” (煮豆燃豆箕, 豆在釜中泣。 本是同根生, 相煎何太急 chử đậu nhiên đậu cơ, đậu tại phủ trung khấp: ‘bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp’), sau trỏ việc anh em giết hại nhau. Cho nên bài thơ mở đầu bằng câu: “ai trách hiềm cây lại trách mình”.
phong nguyệt 風月
dt. gió và trăng, hai cảnh đẹp nên thơ. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, thuyền chở yên hà nặng vạy then. (Thuật hứng 69.5)‖ (Bảo kính 155.3, 163.6).
phàm 凡
tt. tục, trần tục. Non lạ nước thanh trộm dấu, đất phàm cõi tục cách xa. (Thuật hứng 54.4, 64.8)‖ (Tự thán 97.2, 105.4)‖ (Bảo kính 173.1, 174.2).
phòng 防
đgt. dự tính trước mà chuẩn bị cách ứng phó. Ai có của thông phòng thết khách, một ao niễng niễng mấy đòng đòng. (Thuật hứng 56.7)‖ (Bảo kính 128.5)‖ (Giới sắc 190.2).
quyển 卷
dt. cuốn (sách). Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch, đêm vắng tìm mai bạn Lão Bô. (Ngôn chí 20.3)‖ (Tự thán 75.6, 84.5, 107.4, 111.6)‖ (Tức sự 125.2).
quá chua liền ủng 戈珠連擁
Thng Ở ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng, quá chua liền ủng có ai màng. (Bảo kính 147.4). Khế kia chua quá sau nên ủng (Bạch Vân Am thi tập). quá mù ra mưa, quá chua ra ủng. Tng. Ý câu này là người ở chua ngoa, quá đáng quá thì hỏng hết các việc.
quán khách 館客
dt. <Đạo> nhà trọ, dịch chữ nghịch lữ 逆旅. Sách Trang Tử có câu: “Dương Tử đến đất tống, vào nghỉ trong một nhà trọ.” (陽子之宋,宿於逆旅). Trang Tử thiên Tri bất du có câu: “buồn vui đến, ta chẳng thể kìm ngự được, vui buồn đi ta chẳng thể dừng được. Buồn thay! thế nhân thực là quán trọ của vật.” (哀樂之來,吾不能禦,其去弗能止。悲夫!世人直為物逆旅耳!) sách Liệt Tử thiên Trọng ni có đoạn: “Long Thúc nói với Văn Chí rằng: ‘thuật của ngài thực vi diệu. Ta có tật, ngài có thể chữa được chăng?’ Văn Chí rằng: ‘chỉ nên nghe theo mệnh mà thôi. Nhưng trước hết ngài hãy nói về cái bệnh của ngài’. Long Thúc rằng: ‘quê tôi có tiếng tăm nhưng chẳng coi đó là vẻ vang, nước tôi mất cũng chẳng coi đó là nhục; được mà chẳng vui, mất mà chẳng buồn; coi sống như chết, coi giàu như nghèo, coi người như lợn, coi mình như người. Ta ở trong nhà mình, cũng như ở nơi quán trọ; coi làng nước ta cũng như nước của dân mọi rợ. [lại thêm] những bệnh như vầy: tước thưởng chẳng thể khuyến khích ta, hình phạt chẳng thể làm uy với ta, thịnh suy lợi hại chẳng thể làm ta lay động, vui buồn chẳng thể làm ta chuyền rời’. Cho nên, ta chẳng thờ vua, chăng chơi bè bạn, chẳng rèn vợ con, chăng đe nô bộc. Đó chẳng phải là bệnh sao? cách gì có thể chữa được? Văn Chí bèn bảo Long Thúc đứng xây lưng về phía ánh sáng. Văn Chí lại từ phía sau nhìn ra phía ánh sáng, rồi nói rằng: ‘ôi! ta nhìn thấy tim ngài rồi, đó là tấc lòng trống rỗng, cơ hồ như lòng thánh nhân vậy! tim ngài sáu lỗ lưu thông, một lỗ cũng chẳng tắc. Nay ngài coi cái thánh trí là bệnh, là có cái nguyên do của nó vậy! cái thuật mọn của tôi chẳng thể chữa được đâu’.” (龍叔謂文摯曰:“子之術微矣。吾有疾,子能已乎?”文摯曰:“唯命所聽。然先言子所病之正。”龍叔曰:“吾鄉譽不以為榮,國毀不以為辱;得而不喜,失而弗憂;視生如死,視富如貧,視人如豕,視吾如人。處吾之家,如逆旅之舍;觀吾之鄉,如戎蠻之國。凡此眾疾,爵賞不能勸,弄罰不能威,盛衰利害不能易,哀樂不能移. 固不可事國君,交親友,御妻子,制仆隸。此奚疾哉?奚方能已之乎?”文摯乃命龍叔背明而立。文摯自後向明而望之,既而曰:“嘻!吾見子之心矣,方寸之地虛矣,幾聖人也!子心六孔流通,一孔不達。今以聖智為疾者,或由此乎!非吾淺術所能已也). Lý Bạch trong bài Xuân dạ yến đào viên tự có câu: phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ (ôi trời đất là quán trọ của muôn vật vậy). Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.3).
quần đỏ 裙堵
dt. đồ mặc ở thân dưới của phụ nữ, dịch chữ hồng quần, sau trỏ chung mỹ nữ. Hàn Dũ trong bài Tuý tặng trương mật thư có câu: “Chăng giải cuộc say chữ nghĩa, chỉ riêng say đám hồng quần.” (不解文字飲,惟能醉紅裙 bất giải văn tự ẩm, duy năng tuý hồng quần). Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ. Rỡ tư mùa một thức xuân (Trường an 246.3).
rợp 立 / 葉
◎ (8). Chữ 葉 dùng d- ghi r-, cho thấy đây là chữ Nôm hậu kỳ do đời sau dọn bản. Chữ 立 ở 12.2 là chữ Nôm cổ, xuất hiện 1 lần. Ss đối ứng lɣp (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 236].
đgt. tt. che kín, che mát. “rợp rợp, nơi rợp: nơi mát mẻ.” [Rhodes 1651 tb1994: 195]. (Ngôn chí 5.3)‖ Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân, trúc rợp hiên mai quét tục trần. (Ngôn chí 12.2, 17.3, 21.5)‖ (Thuật hứng 51.6)‖ (Bảo kính 165.6, 170.2)‖ (Lão dung 239.4)‖ (Hoè 244.4).
suối 𤂬
◎ {thuỷ 氵+ 磊 lỗi}. Kiểu tái lập: *kʰluối. kʰluối > suối. Tày: luổc [HTA 2003: 309], khuổi [HV Ma 1984: 418]. *kruối [Gaston 1967: 151; TT Dương 2013b].
dt. khe. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3)‖ (Mạn thuật 28.3)‖ (Trần tình 41.4)‖ (Thuật hứng 60.7, 64.7)‖ (Tự thán 77.3)‖ Suối lợi. (Bảo kính 150.4, 155.5).
suốt 律
◎ Kiểu tái lập: *kruot⁵ [TT Dương 2013b], chuẩn đối với blọn (trọn).
dt. cả, trỏ sự việc diễn ra không nghỉ trong quãng thời gian dài. Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4).
sơn tăng 山僧
dt. thiền sư tu hành trên núi. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8).
the 紗
◎ Nôm: 絁 Đọc âm HHV [NN San 2003b: 178] AHV: sa.
dt. lụa mỏng và nhẹ, hoặc vải gai, vải bông dệt mỏng. Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.2). lặng bằng the: cũng như lặng như tờ.
theo 蹺 / 燒
◎ Ss đối ứng tʼɛw (14 thổ ngữ Mường), sʼɛw(15), zɔj (1) [NV Tài 2005: 276].
đgt. đi sau, “đi nối gót, đi kế sau,” [Paulus của 1895: 999]. (Tự thán 77.4, 101.8)‖ Diếp còn theo tiên gác phượng, rày đà kết bạn sa âu. (Bảo kính 162.3).
Thu nguyệt tuyệt cú 秋月絕句
dt. tên bài thơ số 198. Thu nguyệt tuyệt cú là bài thơ tuyệt cú (bốn câu) về cảnh trăng mùa thu.
Thái Chân 太真
dt. tên của một vị tiên nữ là con gái út của Vương Mẫu (太真夫人者,王母之小女也) [theo Vân Cáp Thất Tiêm], vì vậy thơ văn đời Đường tống thường dùng để tả vẻ đẹp của dương quý phi, ngầm ví đó là vẻ đẹp của thần tiên trên thượng giới. Trên cây khác ngỡ hồn Cô Dịch, đáy nước nghi là mặt Thái Chân. (mai 214.4)‖ (Trường an 246.1).
thái cầu 彩毬
dt. quả cầu ngũ sắc, tên bài thơ số 253. Trần Văn Giáp (1956: 179) chú: “tên một vật bằng giấy, cắt hình chim, tức là thái yến, là con yến cắt bằng giấy, ngày lập xuân thường treo ngoài cửa. Theo Tuế sở kinh thì ký: ”ngày lập xuân, nhà nào cũng cắt giấy màu làm hình chim yến treo ở trước cửa nhà”. Vì thế có câu thơ cổ: “thái yến biểu niên xuân” (chim yến cắt bằng giấy, báo hiệu bắt đầu xuân). Xét, thái yến khác Thái cầu. Theo Bội văn vận phủ, tết Hàn thực, vua gửi thiếp vào trong quả thái cầu để trao tặng các cận thần [MQL 2001: 1196]. Dựa vào nội dung trong bài thơ có thể mô tả vật này như sau: đây là quả cầu ngũ sắc, dùng để truyền tin trong dịp xuân. Quả cầu này, có khả năng làm bằng giấy hoặc bằng lụa, gập thành tám múi, trong có giấu một tờ giấy viết tin nhắn thể hiện mong ước, nguyện vọng trong đầu năm. Dưới quả cầu có làm đuôi tua bằng vải ngũ sắc trông sặc sỡ như đuôi chim phượng. Quả cầu này có thể được treo phía dưới đèn trời, nên có khả năng bay xa, “dõi qua ngàn liễu”, “bay tịn lòng hoa”. Đến khi đèn trời tắt, quả cầu rơi xuống. Người ta đi nhặt để đọc thông tin ở phía trong quả cầu. Đây hẳn là một trò thả cầu tìm ý trong một lễ hội đầu xuân có nhiều người tham gia. Tính ngẫu nhiên của nó chính là cái thú vị của trò chơi này.
thái dương 太陽
dt. id. mặt trời. Người hiềm rằng cúc qua trùng cửu, kẻ hãy bằng quỳ hướng thái dương. (Tự thán 71.4).
Thái Thạch 泰石
dt. địa danh, theo truyền thuyết là nơi Lý Bạch uống rượu say, nhảy xuống sông bắt trăng mà chết. Ngàn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương. (Trần tình 42.3).
tháng 𣎃
◎ Đối ứng kʰaŋ² (Mường), tʰaŋ³ (Rục), tʰaaŋ (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 61], kʼaŋ (26 thổ ngữ Mường), tʼaŋ (3) [NV Tài 2005: 275].
dt. thời gian bằng ba mươi ngày. Thấy nguyệt tròn thì kể tháng, dìn hoa nở mới hay xuân. (Tự thán 102.5)‖ (Trừ tịch 194.1)‖ (Xuân hoa tuyệt cú 196.1)‖ (Tích cảnh thi 207.3)‖ (Đào hoa thi 230.3)‖ (Điệp trận 250.7).
dt. trong ngày tháng (trỏ thời gian nói chung). Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.1)‖ Chẳng hay rắp rắp đã bốn mươi, ngày tháng bằng thoi một phút cười. (Ngôn chí 22.2)‖ (Thuật hứng 46.4)‖ (Tự thán 94.1)‖ (Tự thuật 118.2)‖ (Tức sự 126.4)‖ (Bảo kính 133.8)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.4).
thánh 聖
dt. <Nho> những bậc trí tuệ và đạo đức cao viễn theo tiêu chuẩn của nho gia. Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt, đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài. (Tự thán 91.6)‖ (Bảo kính 131.3, 132.3, 137.8, 143.7)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.5).
thì 時 / 𪰛
◎ Đồng nguyên: chừ, giờ.
dt. thời, trong thời thế. Thì nghèo, sự biến nhiều bằng tóc, nhà ngặt, quan thanh lạnh nữa đèn. (Thuật hứng 46.5, 62.5)‖ (Tự thán 72.7, 89.8, 100.1, 104.7)‖ (Bảo kính 160.2, 165.4)
đgt. (hệ từ) là, thì là, từ biểu thị điều sắp nói có tính thuyết minh cho phần đề hay cho chủ ngữ. (Ngôn chí 6.2)‖ (Trần tình 39.6)‖ Khó khăn thì mặc, có màng bao, càng khó bao nhiêu chí mới hào. (Thuật hứng 66.1)‖ (Tự thán 85.5, 87.5, 93.7, 103.1)‖ (Tự thuật 120.6)‖ (Tự giới 127.1)‖ (Bảo kính 130.8, 134.6, 148.1, 149.7)‖ (Tích cảnh thi 209.1)‖ (Trường an hoa 246.1)‖ (Mạt lị hoa 242.3).
k. từ biểu thị quan hệ nhân - quả. (Mạn thuật 25.7)‖ Khó bền, mới phải người quân tử, mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.6)‖ (Thuật hứng 60.2)‖ (Tự thán 92.6, 110.1)‖ (Bảo kính 128.3, 137.2, 140.1, 147.7, 149.3, 152.6, 156.2, 161.3, 162.5, 164.6, 166.8, 171.1, 174.4, 180.3)‖ (Giới nộ 191.8)‖ (Thu nguyệt 198.2).
k. từ biểu thị quan hệ tiếp nối. (Mạn thuật 33.4)‖ (Thuật hứng 47.1)‖ Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.8)‖ (Tự thán 71.5, 101.8, 102.5, 103.6)‖ (Tự thuật 113.5, 122.8)‖ (Bảo kính 131.6, 134.2, 134.8, 135.6, 146.3, 147.3, 151.7, 163.2, 173.7, 184.5)‖ (Tích cảnh thi 208.2).
k. từ biểu thị sự liệt kê. (Tức sự 124.2)‖ Nhân nghĩa trung cần giữ tích ninh, khó thì hay kháo, khốn hay hanh. (Bảo kính 131.2, 132.1, 132.8, 173.1, 184.1).
k. từ dùng với nẻo, hễ (nếu) biểu thị thức giả thiết giữa hai việc có quan hệ với nhau. Nẻo có ăn thì có lo, chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. (Ngôn chí 20.1)‖ Chẳng ngừa nhỏ, âu nên lớn, nẻo có sâu, thì bỏ canh. (Bảo kính 136.6, 144.8, 176.7)‖ (Đào hoa thi 231.2).
k. từ dùng giữa hai câu biểu thị sự tương ứng về sự kiện. Nhọc nhằn ai chớ còn than thở, ăn có dừng thì việc có dừng. (Bảo kính 181.8)‖ (Tích cảnh 207.3)‖ (Đào hoa 229.3, 232.4).
tiếng 聲
◎ Nôm: 㗂 Ss đối ứng t’iəŋ (15 thổ ngữ Mường), siəŋ (15) [NV Tài 2005: 279], tiểng, cằm, heng [HV Ma 1984: 456]. Ss tương ứng khuôn vần -anh/-inh (AHV) -iêng (THV): 城 thành chiềng, 呈 trành/ trình chiềng, 正 chánh/ chính chiếng (tứ -), 正 chánh/ chính giêng, 精靈 tinh (linh-) thiêng (-liêng), 鉦 chinh chiêng (cái-), 檠 kình kiềng, 領 (bản) lĩnh (vốn) liếng [An Chi 2006 t5: 148; 2005 t1: 413; t2: 356], 鏡 kính kiếng, 驚 kinh kiềng,… khuôn vần âm HTC của 聲: -jeŋ (Baxter, Phan Ngộ Vân). Như vậy, tiếng là âm THV.
dt. âm thanh. Ngâm sách “thằng chài” trong khuở ấy. Tiếng trào dậy khắp Thương Lang (Ngôn chí 9.8, 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 35.4)‖ (Thuật hứng 61.8, 70.2)‖ (Tự thán 98.4)‖ (Tự thuật 119.5)‖ (Tức sự 123.8)‖ (Bảo kính 150.8, 151.6, 164.8, 170.7)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 201.1)‖ (Nhạn trận 249.6).
dt. tai tiếng, danh tiếng, lời nghị khen bao biếm. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ Tiếng thị phi. (Thuật hứng 57.8)‖ (Tự thán 75.1, 76.2, 84.6), Tiếng hổ hang. (Tự thán 93.8)‖ (Bảo kính 140.6)‖ (Trúc thi 221.3, 222.1).
trăng 𪩮 / 𦝄
◎ Kiểu tái lập: *blăng. Từ điển Việt Bồ La ghi “blang, blang tlòn, blang khuiét, sáng blang” [Rhodes 1651 tb1994: 39], “blang vel trang: luna” [Morrone 1838: 201]. So sánh với một số đối ứng plang (Mỹ Sơn), plong ( Úy Lô), klang (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, plan (Sách), plong (hung, pong), pulan (Rục), plang (mày) và rơlêăng (trì, hang koong, khùa, Vân Kiều), balan, bulan (chăm), bulan (Malais), Gaston tái lập *plăng [1967: 51].
dt. nguyệt. (Ngôn chí 16.4)‖ (Mạn thuật 23.6)‖ (Thuật hứng 67.4)‖ (Tự thán 77.4, 78.3, 97.3, 98.4, 101.3)‖ (Bảo kính 155.6)‖ Cửa sày, giá nhơn nhơn lạnh, lòng bạn, trăng vặc vặc cao. (Bảo kính 167.6). đng nguyệt.
Trương Khiên 張騫
(164- 114 tcn)
dt. tự tử văn, người thành cố huyện hán trung (nay huyện thành cố, tỉnh Thiểm Tây). Ông là nhà thám hiểm, nhà ngoại giao nổi tiếng đời Hán, ông là người đầu tiên mở con đường tơ lụa, nối liền các trục đường. Ông cũng là người mang nhiều giống cây quý từ tây vực vào Trung Hoa như hãn huyết mã, bồ đào, thạch lựu, hồ đào, … Đài Tử Lăng cao, thu mát, bè Trương Khiên nhẹ, khách sang. (Ngôn chí 9.4).
Trương Lương 張良
(? - 188 tcn)
dt. tự là tử phòng 子房, là văn thần có công giúp Lưu Bang đánh đổ nhà tần và thắng hạng vũ trong chiến tranh Hán Sở sáng lập ra nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Trong khi các công thần nhà Hán như Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố lần lượt bị Lưu Bang trừ khử để phong đất cho các hoàng tử họ lưu, riêng Trương Lương bỏ đi ở ẩn. Trương Lương nói với Lưu Bang: ‘gia đình tôi đời đời làm tướng quốc nước hàn. Đến khi hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng vàng, đối phó với nước tần mạnh, để báo thù cho nước hàn, làm cho thiên hạ đều rung động. Nay tôi lấy ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư hầu, kẻ áo vải được thế là tột bậc, đối với lương thế là đủ rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du với Xích Tùng Tử mà thôi’. Ông bèn học cách nhịn cơm, học lối đạo dẫn cho nhẹ mình. Năm 195 tcn, Lưu Bang chết, lưu doanh lên thay, tức là hán huệ đế. Năm 188 tcn, Trương Lương qua đời, được đặt tên thuỵ là văn thành hầu. Con ông là trương bất nghi thay cha làm tước hầu. Kham hạ Trương Lương chăng khứng ở, tìm tiên để nộp ấn phong hầu. (Bảo kính 162.7).
túi 襊 / 𬞚
◎ Ss đối ứng t’ul (5 thổ ngữ Mường), baw (4) [NV Tài 2005: 283].
dt. cái túi. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.1)‖ (Mạn thuật 29.5)‖ (Tự thán 72.8, 86.8)‖ (Tự thuật 121.4)‖ (Bảo kính 153.6, 155.6)‖ (Quy Côn Sơn 189.3)‖ (Hoàng tinh 234.3).
vô nghĩa 無義
tt. không có đạo nghĩa. Cơm kẻ bất nhân ăn ấy trớ, áo người vô nghĩa mặc chăng thà. (Trần tình 39.4).
vô số 無數
dt. không thể kể hết được. Bất nhân vô số nhà hào phú, của ấy nào ai từng được chầy. (Bảo kính 171.7) ‖ (Nghiễn trung ngưu 254.6).
vô sự 無事
tt. không có việc, nhàn nhã. (Thuật hứng 57.7)‖ (Tự thán 84.1)‖ Công danh trở đường vô sự, non nước ghé chốn hữu tình. (Tự thán 86.5)‖ (Bảo kính 163.4, 176.8).
xung xăng 村真
◎ Phiên khác: chồn chân: chầu chực, quỵ luỵ (BVN), chôn chân (TVG), thồn chân: đặt chân đến (PL), thon chân (VVK), chon chăn: thích thú, lui tới (ĐDA). Theo ĐDA có người đề nghị phiên “chôn chân, thồn chân” với ngữ tố “thồn” là “bỏ vào, đặt vào” như ghi nhận của từ điển Génibrel 1898. Schneider cho là “chon chăn” và hiểu là “mạo hiểm, liều lĩnh”. Xun xoăn (MQL). xung xăn.
đgt. <từ cổ> hăm hở, hăng hái. “lăng xăng, bộ chẳm hẳm” [Paulus của 1895: 1208], “chẳm hẳm: bộ hăm hở, mạnh mẽ”[Paulus của 1895: 119]. Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc, cuốc cày là thú những xung xăng. (Trần tình 38.6)‖ Cho về cho ở đều ơn chúa, lọ phải xung xăng đến cửa quyền. (Thuật hứng 53.8). Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, cửa quyền hiểm hóc ngại xung xăng. (Mạn thuật 27.2).‖ Lướt ngàn xanh quày quả dời chân, tuôn nội lục xung xăng trỗi gót. (Tam nữ đồ vương tr. 350)‖ thấy nói lòng mừng lật đật, nghe rằng chân bước xung xăng (Tam nữ đồ vương: 352). xung xăng như thằng mới đến, trụn trện như đứa ở đầy mùa. Tng.
ít 𠃣
◎ Ss đối ứng ɛt, it (20 thổ ngữ Mường), ɔj (6 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 229].
tt. trái với nhiều. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm (Ngôn chí 5.4)‖ (Tự thuật 121.5)‖ (Bảo kính 174.4, 186.3)‖ (Huấn Nam Tử 192.4)‖ (Tích cảnh thi 209.3).
đao binh 刀兵
dt. <từ cổ> chiến tranh loạn lạc. Nẻo từ nước có đao binh, nấn ná am quê cảnh cực thanh. (Tự thán 107.1).
đau 𤴬
◎ Ss đối ứng tăw, dăw, tu (26 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 209].
tt. trong đau đớn (về thể xác). Lân cận nhà chàu no bữa cốm, bạn bè kẻ trộm phải đau đòn. (Bảo kính 148.4). hoặc phải ốm đau khổ nạn (Phật Thuyết: 19b)
đen gần mực đỏ gần son 顛𧵆墨堵𧵆𣗾
Thng dịch từ câu cận chu giả xích, cận mặc giả hắc 近朱者赤近墨者黑 (gần son thì đỏ, gần mực thì đen). Ở đấng thấp thì nên đấng thấp, đen gần mực, đỏ gần son. (Bảo kính 148. 8). Tng. gần mực thì đen. [Việt Chương 2007: 639].
đeo đai 刁𢃄
đgt. <từ cổ> đeo đuổi, thích, mê. Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn, thanh nhàn án sách hãy đeo đai. (Ngôn chí 6.4)‖ (Trừ tịch 194.4)‖ Đeo đai trót một tiếng đà. (hoa tiên c. 625)‖ Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai. (kiều c. 205). đng đam, đắm.
Đường Ngu 唐虞
dt. Đường Nghiêu (Đào Đường) và Nghiêu Thuấn (Hữu Ngu) hai đời vua thịnh trị theo quan niệm của nho gia. Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.6)‖ (Trần tình 43.8)‖ (Thuật hứng 58.8).
được 得
◎ Nôm: 特 AHV: đắc. *tək [Schuessler 2007: 207], tơk4 (Chứt) [NV Tài 1993: 236], dɯək (2 thổ ngữ Mường), an (27 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 218]. Như vậy, “được” là từ hán Việt-Mường, “ản” [NV Khang 2001: 22- 23] là từ gốc Mường. x. trật.
đgt. giành phần thắng. Thân nhàn dầu tới dầu lui, thua được bằng cờ, ai kẻ đôi. (Ngôn chí 13.2)‖ (Mạn thuật 27.7)‖ (Thuật hứng 58.3)‖ (Tự thán 103.3)‖ (Bảo kính 156.8, 161.4, 152.3)‖ (Tích cảnh thi 204.2).
đgt. chiếm làm sở hữu của mình, có, có được. (Mạn thuật 23.5, 24.4, 24.8)‖ (Trần tình 39.2)‖ (Thuật hứng 69.1)‖ (Tự thuật 121.2)‖ (Bảo kính 128.1, 131.4)‖ Rừng Nho quãng, nấn ngàn im, hột cải tình cờ được mũi kim. (Bảo kính 150.2, 154.2, 162.5, 163.2, 164.7, 171.8, 187.2). Ba xuân thì được chín mươi ngày, sinh vật lòng trời chẳng tây. (Tích cảnh thi 209.1).
p. từ biểu thị việc đạt kết quả (thường đứng sau động từ). (Ngôn chí 4.8, 12.7, 16.8, 19.5, 20.7)‖ (Trần tình 37.4, 39.6, 42.7)‖ (Thuật hứng 68.1)‖ (Tự thán 81.4, 81.7, 85.8, 97.7, 104.8)‖ (Bảo kính 130.6, 144.3, 154.4, 156.3, 160.7, 161.7, 175.5, 179.2, 186.1)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.4)‖ (Cúc 216.7)‖ (Mai thi 226.3)‖ (Đào hoa thi 232.2)‖ (Hoàng tinh 234.1)‖ (Lão dung 239.1)‖ (Liên hoa 243.2)‖ (Cam đường 245.2)‖ Chiếm được thiều quang chín mươi, day day hoa nở tốt hoà tươi. (Dương 247.1).
p. từ biểu thị thụ động, hưởng nhận (đứng trước động từ và tính từ). Vàng bạc nhà chăng có mỗ phân, lành thay cơm cám được no ăn. (Trần tình 38.2)‖ (Thuật hứng 47.8, 53.6)‖ (Tự thán 74.2, 78.7, 82.2, 99.2, 109.2)‖ (Tự thuật 112.6, 114.8, 116.2)‖ (Bảo kính 132.8, 133.8, 143.8, 145.7, 153.8, 177.2, 185.2)‖ (Quy Côn Sơn 189.2)‖ (Tích cảnh thi 203.2)‖ (Cúc 217.7)‖ (Giá 238.3)‖ (Mộc hoa 241.2)‖ (Miêu 251.3)‖ (Trư 252.2)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.6).
p. từ biểu thị khuyên răn. Phu phụ đạo thường chăng được trớ, nối tông hoạ phải một đôi khi. (Giới sắc 190.7).
đốt 節
◎ Nôm: 炪 AHV: tiết.
dt. đoạn giữa các mấu trên thân cây. Ăn nước kìa ai được thú, lần từng đốt mới hay mùi. (Giá 238.4).
đục 濁
◎ Nôm: 瀆 / 濁 Thích Danh chú âm 瀆 độc. [Vương Lực: 360]. Zhuó < drổwk [Baxter 1992: 195]. AHV: trọc. Đối ứng duk⁵ (Mường), tùk² (Rục), tuk (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60].
tt. không trong, có vẩn cặn. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5).
tt. ô trọc. Gió gấp hay là cỏ cứng, đục nhiều dễ biết đường quang. (Tự thán 93.6).
ải 隘
tt. (đất trồng) khô nỏ và no dưỡng khí sau khi cày xới và phơi nắng, lưu tích còn trong từ cày ải, trái với dầm. Đất cầy ngõ ải rãnh ương hoa. (Ngôn chí 4.6, 10.4).
tt. mục, hỏng (do không được dùng đến). “Ải, ảm, nát hư: mục nát.” [Rhodes 1651: 29]. “đất ải: terrain sec et inculte” [Génibrel 1898: 3]. Điền địa chử tham hơn bỏ ải, nhân luân mựa lấy dưới làm trên. (Bảo kính 142.3).
ảo hoá 幻化
tt. AHVhuyễn hoá, nghĩa gốc là “sự biến đổi”, trong đó huyễn = hoá (từ kép đẳng lập), như: “幻化也” (Quảng Vận). Liệt Tử phần chu mục vương ghi: “Những việc mà đến lúc cùng thì sẽ biến đổi, nhân theo hình mà thay đổi, đó gọi là hoá, gọi là ảo…… nên biết rằng việc ảo hoá không khác gì với việc sống chết.” (窮數達變,因形移易者,謂之化,謂之幻.…知幻化之不異生死也). Sau được dùng để dịch thuật nhữ māyā-upamatā của Phật giáo, trỏ vạn vật không có thực tính. Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “đời người tựa ảo hoá, thảy đều về hư vô” (人生似幻化,終當歸空無 nhân sinh tự ảo hoá, chung đương quy không vô). Toàn Đường Thi (q.806) bài Hàn san thi có câu: “phù sinh ảo hoá như đèn lụi, thân vùi dưới đất ấy hữu - vô” (浮生幻化如燈燼,塚內埋身是有無 phù sinh ảo hoá như đăng tận, trủng nội mai thân thị hữu vô). Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.3). ai ai sá cóc: bằng huyễn chiêm bao; xẩy tỉnh giấc hoè, châu rơi lã chã. Cóc hay thân huyễn, chẳng khác phù vân; vạn sự giai không, tựa dường bọt bã. [Trần Nhân Tông - Đắc Thú lâm tuyền 31a]. kinh kim cương có câu: “tất thảy phép hữu vi, như bóng bọt mộng ảo” (一切有爲法,如夢幻泡影 nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh).
ấm 溫
◎ Nôm: 䕃 âm Việt hoá của ôn [LN Trụ 1959: 5]. AHV: ôn. Đối ứng chung âm -n -m: 梵 phạn phạm, 瀾 lan (tràn, rợn, giàn) 濫 lạm (tràn, trộm), gằn gầm, hằn (-học) hằm (-hè). Ss đối ứng: ɤm (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 172]. ấm là từ gốc Hán, đầm là từ gốc Việt.
tt. trái với lạnh. Say rượu, no cơm cùng ấm áo, trên đời chỉn ấy khách là tiên. (Bảo kính 186.7)‖ (huấn nam 192.5).
pha 坡
đgt. chế nước hãm đồ uống. Cổi tục, chè thường pha nước tuyết, Tìm thanh, khăn tịn nhặt chà mai. (Ngôn chí 2.3).