Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry đc.
anh vũ 鸚鵡 / 󰢒鵡
dt. đc. chim vẹt. Nghìn dặm trời dầu đủng đỉnh, kham cười anh vũ mắc chưng lồng. (Lão hạc 248.8), đc. lung trung anh vũ 籠中鸚鵡 (anh vũ trong lồng). đc.: Phú thương họ Đoàn nuôi một con vẹt thông minh biết đọc thơ tiếp khách. Họ Đoàn bèn cắt lông cánh nhốt vẹt vào lồng sơn son rất đẹp. năm hy ninh thứ sáu, họ Đoàn bị bỏ ngục. Đến khi được thả về, mới nói với vẹt rằng: ‘Ta nửa năm nằm ngục, thân chẳng được theo mình, sống rất cực khổ, mày ở nhà có người chăm chút, vui quá nhỉ!’ con vẹt liền trả lời: ‘Ngài mới nửa năm trong ngục, mà đã không chịu được rồi; tôi bao năm trong lồng, vui gì mà nói?’ Họ Đoàn nghe vậy tỉnh ngộ, bèn thả vẹt ra.
ba bảy mươi 𠀧𬙞󰁰
đc. <Nho> ba phần, bảy phần, mười phần. Kinh Thi bài Phiếu hữu mai có đoạn “mai rụng kìa, quả còn bảy phần. Chàng nào tìm em, hãy chọn ngày lành. Mai rụng kìa, quả còn ba phần. Chàng nào cần em, chọn ngày nay đi” (摽有梅、其實七兮。求我庶士、迨其吉兮。摽有梅、其實三兮。求我庶士、迨其今兮). Ý nói cây mai có mười phần quả, cứ rụng dần mất đi. quả mai ba bảy đương vừa, đào non sớm liệu xe tơ kịp thời (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Vì thu cho nhẫn nên đầu bạc, chưa dễ ai đà ba bảy mươi. (Tích cảnh thi 203.4, 204.1). Với điển này, đây rõ ràng là loạt bài nói về chuyện tình yêu đôi lứa. [xem thêm NH Vĩ. 2009. Nguyễn Trãi và sex].
ba đường cúc 𠀧塘菊
dt. đc. dịch chữ tam kính cúc 三徑菊. Kính: đường nhỏ. tam kính: đc. Tam kính của Tưởng Hủ. Triệu Kỳ đời Hán trong Tam Phụ Quyết Lục phần Đào danh ghi: “Đời Hán, thứ sử duyện châu là Tưởng Hủ, nhân vì Vương Mãng chuyên quyền, từ quan ẩn cư, mở ba đường nhỏ trong rừng trúc, chỉ giao du với hai người Cầu Trọng và Dương Trọng. Đào Uyên Minh đời Tấn trong bài Quy Khứ Lai Từ có câu: “ba lối hoang vu, tùng cúc vẫn còn” (三徑就荒,松菊猶存 tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn). Mưa thu rưới ba đường cúc, gió xuân đưa một rãnh lan. (Ngôn chí 17.5)‖ (Tự thán 73.5, 107.5).
bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh 包饒尼辱𤳷尼荣
đc. dịch cụm thủ nhục tri vinh. Đạo Đức Kinh của Lão Tử ghi: “Biết vinh, giữ nhục, làm cái hay cho thiên hạ; làm cái hay cho thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu sẽ đầy đủ, mà trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo, xẻ ra thành đồ dùng; thánh nhân giữ thuần phác mà điều khiển trăm quan, cho nên người giỏi trị nước không chia cắt chi li.” (知其榮,守其辱,為天下谷。為天下谷,常德乃足,復歸於樸。樸散則為器,聖人用之,則為官長,故大制不割). Nguyễn Hiến Lê bình: “Câu cuối khuyên người trị dân phải hồn nhiên, chất phác, cứ tự nhiên để cho mọi vật phát triển theo tính của chúng, không đa sự, phân tích chi li.”. Xét sự đã qua hay sự đến, bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh. (Tự thán 96.8)
bia 碑
◎ âm THV. AHV: bi.
dt. phiến đá trên có khắc minh văn ca ngợi công đức, sự nghiệp, hoặc dùng để kỷ niệm, kỷ sự. Nghiệp Lưu Quý thịnh, đâu truyền báu, bia Nguỵ Trưng cao, há nối tông. (Bảo kính 130.4).
bần tiện 貧賤
tt. nghèo hèn. Họ hoàng chú sách Luận Ngữ rằng: “không có vị trí gì thì gọi là tiện” (無位曰賤 vô vị viết tiện). Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ chuộng yêu? (Bảo kính 135.2).
cam quýt 柑橘
dt. cây cam và cây quýt. Tương Dương ký ghi: “(lý) hoành mỗi khi muốn buôn bán, vợ liền không nghe, sau ngầm sai mười người khách làm nhà ở châu dĩ huyện long dương đất vũ lăng, lại sai trồng ngàn gốc cam quýt. Khi sắp mất, dặn con rằng: mẹ các con ghét ta kinh doanh, nên mới cùng quẫn thế này. Nhưng trong châu ta có ngàn gốc mộc nô (quýt), chẳng phiền các con cơm áo, một năm một xấp lụa, cũng đủ dùng.’ sau khi hoành chết được hơn hai mươi ngày, đám con cái nói lại lời ấy với mẹ, bà nói: ‘đó là chuyện trồng cam trồng quýt, nhà ta mất mười hộ khách đến bảy tám năm, ắt là do cha con sai đi làm nhà chỗ khác. Cha con hằng ngâm đọc lời của thái sử công rằng: “Giang Lăng ngàn gốc quýt, đáng phong làm nhà ta” (Giang Lăng thiên thụ quất, đương phong quân gia). Ta mới đáp rằng: vả người ta lo chuyện không có đức nghĩa, chứ chẳng lo là không giầu, nếu nghèo mà cao cách thì cũng tốt chứ sao, làm thế để làm gì!?’ đến đời ngô mạt, cam quýt của hoành đã tốt, mỗi năm đổi được vài ngàn xấp lụa, nhà cũng được đầy đủ”. Sau quất nô dùng để trỏ gia sản ít ỏi. Trịnh Cốc 鄭谷 đời Đường trong bài Phiêu bạc 漂泊 có câu thơ: “Cam quýt làm tôi, mến Lý Hoành” (橘樹呼奴羡李衡 quất thụ hô nô tiễn Lý Hoành). Hoàng đế Trần Thánh Tông có thơ: “ngàn hàng nô bộc ấy là ngàn cây quất” (千行奴僕橘千頭 thiên hàng nô bộc quất thiên đầu). Con cháu mựa hiềm song viết tiện, nghìn đầu cam quýt ấy là tôi. (Ngôn chí 13.8)‖ Ngoài cửa, mận đào là khách đỗ, trong nhà, cam quýt ấy tôi mình. (Tự thán 83.6)‖ Nghìn hàng cam quýt con đòi cũ, mấy đứa ngư tiều bậu bạn thân. (Tự thán 102.3). Điển này còn gọi là thiên nô 千奴, thiên mộc nô 千木奴, thiên thụ phong hầu 千樹封侯, thiên thụ quất 千樹橘, thiên quất Giang Lăng 千橘江陵, thiên đầu 千頭, thiên đầu mộc nô 千頭木奴, thiên đầu quất 千頭橘, nô quất 奴橘, sơn trung nô tì 山中奴婢, mộc nô 木奴, mộc nô thiên thụ 木奴千樹, mộc nô quất 木奴橘, Lý Hoành Nô 李衡奴, tài cát phòng bần 栽桔防貧, tài quất phòng bần 栽橘防貧, tài hoàng quất 栽黄橘, quất thiên đầu 橘千頭, quất nô 橘奴, quất phong thiên hộ 橘封千户, quất châu 橘州, quất vi nô 橘為奴, quất lý 橘里, quất hoàng thiên thụ 橘黄千樹, giang quất thiên đầu 江橘千頭, Giang Lăng quất 江陵橘.
chim 𪀄
◎ Ss đối ứng cim² (Mường), icim¹ (Rục), ciim (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 58], cim¹, cim² (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 194].
dt. động vật có cánh. (Ngôn chí 2.5)‖ Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.5, 17.3, 18.6)‖ (Mạn thuật 26.2, 28.6, 29.3)‖ (Trần tình 40.5, 42.5)‖ (Thuật hứng 48.3, 64.5)‖ (Tự thán 88.4, 89.6, 95.6, 105.4, 108.3, 110.5)‖ (Tự thuật 118.5)‖ (Tức sự 123.3, 126.3)‖ (Tự giới 127.6)‖ (Bảo kính 150.6, 164.8, 165.6).
chân 眞
◎ âm PVM: čɨɲ [VĐ Nghiệu 2011: 46], Ss đối ứng cɤn (22 thổ ngữ Mường), cɔ (7 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 191]. Dạng cɔ đối ứng với giò
dt. trong chân tay. Chân chăng lọt đến cửa vương hầu, ấy tuổi nào thay đã bạc đầu. (Mạn thuật 30.1)‖ (Thuật hứng 46.2)‖ (Tức sự 125.3, 126.5)‖ (Bảo kính 158.1)‖ (Vãn xuân 195.4)‖ (Trư 252.5)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.2).
dt. phần phía dưới của sự vật (thường có tác dụng chịu lực). Đạo ta cậy bởi chân non khoẻ, lòng thế tin chi mặt nước bằng. (Mạn thuật 23.3)‖ (Tự thán 73.7).
dt. góc (rừng). Nương náu qua ngày chẳng lọ nhiều, chân rừng chặm một căn lều. (Tự thán 105.2).
chăn 氈
◎ Nôm: 𧜖 AHV: chiên, thanh phù: đàn. Ss đối ứng căn (1 thổ ngữ Mường), men (6 thổ ngữ), o (16 thổ ngữ), doj (3 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 191]. Dạng chăn (氈) và mền (綿) đều là từ hán Việt-Mường. Hai dạng sau là gốc Mường.
dt. đồ dùng để đắp cho ấm, được dệt từ lông thú, lưu tích: chăn chiên. Sách Chu Lễ thiên Thiên quan phần Chưởng bì có câu: “mùa thu lấy bì, mùa đông thu hoạch da, cùng là lông để làm chăn” (秋斂皮,冬斂革,共其毳毛爲氈). Nguyễn Trãi trong bài Hạ nhật mãn thành có câu: “nghiệp nhà truyền mỗi tấm chăn xanh” (傳家舊業只青氈). Lọn khuở đông, hằng nhờ bếp, suốt mùa hè, kẻo đắp chăn. (Trần tình 38.4).
chổi 帚 / 箒
◎ Đọc âm THV, AHV: trửu [LN Trụ 1959: 85], âm phiên thiết: chỉ tửu (止酒切) [vận hội]. Ss đối ứng coj (1 thổ ngữ), toŋ kwet, doŋ kwet (15 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 195].
dt. đồ dùng để quét. Gió tịn rèm thay chổi quét, trăng kề cửa kẻo đèn khêu. (Thuật hứng 67.3).
cài 掑
◎ Ss đối ứng kaj (21 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 184].
đgt. gài . (Ngôn chí 20.2)‖ (Tự thán 95.5, 108.5)‖ Hoa còn để rụng lem đất, cửa một dường cài sệt then. (Tức sự 124.6).
câu mầu 句妙
◎ Nôm: 勾牟
dt. HVVT <từ cổ> dịch chữ diệu cú (câu thơ mầu nhiệm). Khách lạ đến ngàn hoa chửa rụng, câu mầu ngâm dạ nguyệt càng cao. (Thuật hứng 52.4).
cây cả nhàn ngồi 核哿閑𫮋
đc. <Nho> Phùng Dị 馮異 (? - 34), tự Công Tôn 公孫 là tướng của Lưu Tú (Hán Quang Vũ) có công lớn giúp Lưu Tú an định Hà Bắc, tính khiêm nhường. Trong khi các tướng khác tranh nhau khoe công thì dị ngồi tựa dưới một gốc cây lớn mà hóng gió. Quân lính từ đó gọi ông là đại thụ tướng quân. Sau khi Lưu Tú lên ngôi, ông được phong làm Dương Hạ Hầu 陽夏侯, nhậm chinh tây đại tướng quân. Đến đời Minh đế được liệt vào vân đài nhị thập bát tướng (Hậu Hán - Phùng Dị truyện). Kìa ai cây cả nhàn ngồi tựa, nẻo có công nhiều lọ phải tranh. (Bảo kính 131.7).
cấy cày 𦔙𦓿
đgt. trỏ việc làm ruộng nói chung. “cay cay: aratrum” [Morrone 1838: 203]. Ở yên thì nữa lòng xung đột, ăn lộc đều ơn kẻ cấy cày. (Bảo kính 146.4). ưu sừ: cày cấy phải thì (CNNA 30a).
cậy cục 忌局
đgt. cầu cạnh nhờ vả. Ấy còn cậy cục làm chi nữa, nẻo mộng chưa nồng, chẩm chửa toan. (Thuật hứng 63.7).
cột rường 橛梁
AHV: quyết lương (TVG, ĐDA). Xét, “quyết” và “trụ” trong tiếng Hán đều là cái cột dựng để đỡ, nhưng quyết là cột quân (ngắn), còn trụ là cột cái.
dt. HVVT (đen) cột cái và thượng lương, những kết cấu chịu lực chính trong kiến trúc gỗ, (bóng) bề tôi tài năng có khả năng đảm đương trọng trách trong triều. Hoa chăng thay rụng, bày chi phấn, thông sá bù trì, mộng cột rường. (Tức sự 125.6). Giữa trời chăm chắm nên rường cột. (Hồng Đức 53a) x. đống lương.
cứ 據
đgt. <từ cổ> dựa theo, căn cứ vào. Sách Tả Truyện ghi: “Thần ắt dựa vào ta” (神必據我). Sách Luận Ngữ ghi: “Dựa vào đức” (據于德). Được thua cứ phép làm thằng mặc, cao thấp nài nhau tựa đắn đo. (Bảo kính 152.3). Trong tiếng Việt hiện nay, “cứ” được hư hoá, ví dụ “cứ theo đó mà làm”, “anh cứ nói mãi”.
cửa nhà 𬮌茹
dt. nhà ở nói chung. Liều cửa nhà xem bằng quán khách, đam công danh đổi lấy cần câu. (Mạn thuật 30.3)‖ (Thuật hứng 55.6)‖ (Bảo kính 143.4)‖ (Giới nộ 191.4)
cửa quyền 󰘂權 / 𬮌權
dt. dịch chữ quyền môn 權門. Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn, thanh nhàn án sách hãy đeo đai. (Ngôn chí 6.3, 20.5)‖ (Mạn thuật 27.2)‖ (Thuật hứng 53.8)‖ (Tự thán 109.4)‖ (Bảo kính 143.1)..
day 移
AHV: di. OCM *lai, OCB *ljaj. MK: OKhmer *re /ree ~rəə / [Schuessler 2007: 566]. dời, rê.
đgt. lay, rung. Cội rễ bền day chẳng động, tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. (Tùng 219.3). x. dời.
duyên 緣
dt. yếu tố thiên định không thể khác được. Đã mấy thu nay để lệ nhà, duyên nào đeo đẳng khó chăng tha. (Ngôn chí 8.2, 12.4)‖ (Thuật hứng 53.1, 54.5)‖ (Tự thán 74.1, 103.2)‖ (Bảo kính 143.2).
hiên 軒
dt. thanh gỗ vịn tay bên cửa ra vào hay cửa sổ, sau trỏ cả không gian phía trước cửa. Am trúc hiên mai, ngày tháng qua, thị phi nào đến cõi yên hà. (Ngôn chí 4.1, 5.7, 7.6, 12.2, 18.5)‖ (Mạn thuật 23.6)‖ (Tự thuật 122.6)‖ (Bảo kính 160.4, 170.3, 172.4)‖ (Tích cảnh thi 205.3).
hung hăng 凶興
tt. “muốn làm dữ” [Paulus của 1895: 454], “hung hăng: violentè” [Taberd 1838: 213]. Nén lấy hung hăng bề huyết khí, tai nàn chẳng phải, lại thung dung. (Tự giới 127.7).
hàu 蠔
AHV: hào.
dt. thuộc loài trai hến, vỏ xù xì bám vào đá. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.6).
hòng 烘
◎ Phiên khác: nung: cái hẹn đã nung nấu trong lòng (TVG), hồng: ngọn lửa bốc cháy, ý nói hạn của mình đang thời cao điểm, chắc bài thơ này làm lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Côn Sơn (BVN), hồng: nung nấu (MQL, PL). Hòng: đã từng mong thực hiện được ước hẹn từ xưa như ngày nay. Hòng nghĩa là mong được, như nói: đừng có hòng! nay theo ĐDA.
đgt. <từ cổ> định, muốn, mong. Bẻ cái trúc hòng phân suối, quét con am để chứa mây. (Mạn thuật 28.3).
đgt. <từ cổ> “sắp tới…mệt hòng chết”. [Paulus của 1895: 445; Béhaine 1773]. Làm quan thơ dại, tài chẳng đủ, về ở thanh nhàn, hẹn đã hòng. (Thuật hứng 61.6)‖ Đổi thay nhạn cá đã hòng đầy niên kiều, nghĩa là “từ ngày thiếp về làm vợ chàng đến nay đã gần trọn một năm” [An Chi 2006 t5: 326].
hồng nhan 紅顏
dt. má đỏ, trỏ người con gái đẹp Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận, hồng nhan kia chớ cậy mình thay. (Mạt lị hoa 242.3, 242.4). x. má đỏ.
hồng trần 紅塵
dt. bụi hồng, trỏ cõi trần. Con lều mọn mọn cách hồng trần, vướng vất tư mùa những bạn thân. (Tự thán 81.1), tấm hồng trần: tức lòng trần tục(Tự thán 102.2). x. bụi hồng.
khổ trúc 苦竹
dt. trúc đắng, còn gọi là tán bính trúc, thân tròn cao khoảng bốn mét. Các nhánh nhỏ dài, hình tam giác, lá hình trâm, măng có vị đắng, không ăn được. Cành được dùng làm cán lọng, hay quản bút lông. Lý Bạch trong bài Lao lao đình có câu: “Trúc khua tiếng lạnh động trăng thu, riêng nép rèm không mộng buổi về.” (苦竹寒聲動秋月,獨宿空簾歸梦長 khổ trúc hàn thanh động thu nguyệt, độc túc không liêm quy mộng trường). Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc, lão mai sá học nết người thanh. (Tự thán 86.3).
Khổng 孔
dt. tức Khổng Tử. Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào, Hứa, Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng, Chu. (Ngôn chí 15.4)‖ (Bảo kính 160.6).
Kim Cốc 金谷
dt. đc. tên vườn trong biệt thự của Thạch Sùng 石崇 - một phú gia đời Tây Tấn, phụ cận thành Lạc Dương. Trong vườn Kim Cốc, Thạch Sùng trồng cây san hô, đốt nến thay củi, giăng lụa là dài năm mươi dặm, hạt tiêu trát vách, đó là ngôi vườn xa hoa và danh tiếng thời bấy giờ. Trong vườn, Sùng cho xây Thanh Lương đài 清凉台 để làm chốn thưởng gió. Vương Gia trong cuốn thập di ký chép: “Thạch Quý Luân (Sùng) nghiền hương trầm thuỷ cho vụn như bụi, rắc lên giường ngà, sai đám thê thiếp bước qua, ai bước khéo không để lại vết thì Sùng lấy chân châu thưởng cho.” (石季倫(崇)屑沉水之香如塵末,布象床上,使所愛者踐之,無迹者賜以真珠). Thạch Sùng từng viết bài thơ vương minh quân từ rất lấy làm đắc ý, bài ấy có đoạn như sau: “sát thân thật chẳng dễ, mặc kệ sống buông mình. Buông mình thì làm sao? nghĩ suy chi cho mệt.” (殺身良不易, 默默以苟生。苟生亦何聊, 積思常憤盈 sát thân lương bất dị, mặc mặc dĩ cẩu sinh. Cẩu sinh diệc hà liêu, tích tư thường phẫn doanh). Triết lý sát thân và cẩu sinh trong câu thơ đã vận vào đời Thạch Sùng. Vốn Thạch Sùng có một người thiếp yêu tên là Lục Châu. Khi ấy, triệu Vương Luân rất thích Lục Châu. Tôn Tú - tướng của Vương Luân đến nhà Sùng đòi bắt. Sùng không cho. Sùng ngầm mưu xui bọn Hoài Vương Doãn làm phản, đang ngồi họp rượu ở Thanh Lương đài thì quân của tú đã đến vây bắt, cả bọn đều bị tóm cả. Sùng lúc ấy nói với Lục Châu rằng: ‘ta vì nàng mà đắc tội’. Lục Châu rằng: ‘vậy thì thiếp sẽ chết trước mắt chàng’. Nói rồi, nhảy lầu xuống mà chết. Bọn Thạch Sùng bị Tôn Tú bêu ngoài chợ. Người đời gọi tấn kịch này là “Lục Châu chi nạn” và “Thạch Sùng chi hoạ” (xem Tấn Thư phần Thạch Sùng truyện). Đỗ Mục trong bài Kim Cốc viên viết: “phồn hoa tan tác bụi hương, vô tình nước chảy cỏ dường tự tươi. Chim chiều lạc gió xuân xuôi, hoa rơi như dáng người rơi xuống lầu.” (繁華事散逐香塵, 流水無情草自春。日暮東風怨啼鳥, 落花猶似墮樓人. Phồn hoa sự tán tRục hương trần, lưu thuỷ vô tình thảo tự xuân. Nhật mộ đông phong oán đề điểu, lạc hoa do tự đọa lâu nhân). (Trần tình 45.4)‖ Kim Cốc phong lưu nỡ để hoang, hôm mai uổng chịu nhọc toan đang. (Thuật hứng 55.1).
kỳ mài 其埋
đgt. <từ cổ> (đen) mài mực, (bóng) trỏ việc tiêu hao thời gian. Mạy mọ hôm dao lòng mặc khách, kỳ mài ngày tháng của thi nhân. (Nghiễn trung ngưu 254.4)
leo heo 𦫼囂
AHV: liêu hiêu. Phiên khác: đìu hiu: vắng vẻ buồn bã (TVG, BVN), lều hiu: căn lều vắng vẻ (ĐDA, PL), lìu hiu (Schneider).
tt. <từ cổ> “bộ hiu hắc, quạnh quẽ, buồn rầu” [Paulus của 1895: 559]. Tựa cội cây ngồi hóng mát, leo heo ta hãy một leo heo. (Thuật hứng 67.8)‖ Leo heo ngoài cảnh thiền thiên, thuở trưa tước khóc, thuở đêm quyên sầu. (Thiên Nam c. 1369)‖ Người ta cám cảnh muôn ngàn, leo heo mọn mọn ở bên nẻo đường. (Thiên Nam c. 1374).
lui 𨙝 / 雷 / 𬧾 / 𨎿
◎ Tự dạng 𨙝 của thế kỷ XIX. 雷 cũng xuất hiện trong CNNA và Hoa Di Dịch Ngữ (thế kỷ XV-XVI). 𬧾 và 𨎿 đều có cùng cấu trúc {cư 巨+ lôi 雷}. Kiểu tái lập: *klui. *klui > rụng [k-]> lui. [TT Dương 2012a].
đgt. lùi. Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.8)
đgt. lùi, về, về ở ẩn. (Ngôn chí 13.1)‖ (Mạn thuật 34.7)‖ (Trần tình 37.4)‖ Hễ kẻ làm quan đã có duyên, tới lui mặc phận tự nhiên. (Thuật hứng 53.2)‖ (Bảo kính 166.5, 160.2).
lên 󰁯 / 𨕭
◎ Ss đối ứng leɲ (29 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 235].
đgt. di chuyển đến vị trí cao hơn. Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, vầng nguyệt lên khuở nước cường. (Trần tình 42.6)‖ (Bảo kính 153.4).
lấy … làm 𥙩…𬈋
đgt. dịch cấu trúc …vi 為 (đem…làm). Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả, qua ngày qua tháng được an nhàn. (Bảo kính 133.7, 142.4, 184.3, 149.5).
lợi 利
AHV: lị. Kỵ huý Lê Thái Tổ [NĐ Thọ 1997: 57- 62]. Chuỗi đồng nguyên tự: lời - lợi - lỡi - lãi.
dt. được về của cải. (Ngôn chí 20.6)‖ (Bảo kính 128.3)‖ Bể học trường văn hằng nhặt bới, đường danh suối lợi, hiểm khôn tìm. (Bảo kính 150.4, 165.2, 173.7).
lựa 路
AHV: lộ. Phiên khác: lọ (ĐDA), nay theo TVG, MQL, PL.
đgt. chọn. “lựa 路: eligere. Chọn lựa 撰路: id.” [Taberd 1838: 280]. Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.6).
muốn 悶
◎ Ss đối ứng muj, mɔɲ (18 thổ ngữ Mường), haw (9 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 244].
đgt. trong mong muốn, ham muốn. Ắt muốn đến chơi thành thị nữa, âu là non nước nó đàn chê (Tự thán 88.7, 108.7)‖ (Bảo kính 128.2, 137.1, 173.5, 177.6, 179.3).
má đỏ 𦟐覩
dt. dịch chữ hồng nhan 紅顏 hay hồng kiểm 紅臉. Hễ kẻ danh thơm hay được phúc, mấy người má đỏ phải nhiều lăn. (Bảo kính 175.6), dịch từ câu hồng nhan đa truân 紅顏多迍.
nghị khen 議𠸦
đgt. <từ cổ> chê và khen, bình phán và khen ngợi, sau đọc trại thành ngợi khen nhưng chỉ còn nghĩa “khen” mà đã rụng mất ý “bao biếm, chê”. Công danh đã được, hợp về nhàn, lành dữ âu chi thế nghị khen. (Thuật hứng 69.2). Xét, “nghị” là bình phẩm về cái ác, cái dữ, “khen” là khen cái lành, cái thiện.
nguyệt 月
dt. trăng. Chà mai đêm nguyệt, dậy xem bóng, phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu. (Ngôn chí 3.3, 4.5, 11.3, 12.5, 14.4, 18.5, 19.3, 21.6, 22.5)‖ (Mạn thuật 26.6, 28.5, 32.4, 35.6)‖ (Trần tình 42.6)‖ (Thuật hứng 48.4, 49.5, 51.3, 52.4, 60.6, 64.6, 65.2, 70.4)‖ (Tự thán 74.3, 76.6, 82.3, 84.4, 88.3, 90.4, 102.5, 105.6, 108.6)‖ (Tự thuật 114.7, 118.6, 122.6)‖ (Bảo kính 129.8, 137.6, 153.4, 157.3, 158.4, 159.4, 161.8, 165.5, 168.4, 169.8)‖ (Thu nguyệt tuyệt cú 198.3)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 202.2, 207.4)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.1)‖ (Lão mai 215.5)‖ (Mai thi 226.2)‖ (Mạt lị hoa 242.2)‖ (Liên hoa 243.3)‖ Lầu nguyệt đã quen tiên thổi địch, non xuân từng bạn khách ăn thông. (Lão hạc 248.3).
Nhu 儒
dt. <Nho>. “sách Nhu: sách vở nhà Nho. Chữ Nhu: chữ riêng nhà Nho” [Paulus của 1895: 753]. Buồng văn tấp cửa lọn ngày thu, đèn sách nhàn làm song viết Nhu. (Thuật hứng 58.2).
núc nác 耨渃
dt. cây thân gỗ, lá chỉ có ở ngọn, mọc đối, quả dài và dẹp dùng làm thuốc, trị các chứng nhiệt (tả can hoả), tên nữa là nam hoàng bá. Rửa lòng thanh, vị núc nác, vun đất ải, rãnh mùng tơi. (Ngôn chí 10.3).
phù 扶
phò (- giúp), bù (- trì).
đgt. <từ cổ> đỡ, giúp, vực. Thuyết Văn ghi: “Phù: đỡ” (扶佐也). Già vuỗn lấy rượu phù khoẻ, hoạ lại quên lòng khó khăn. (Tự thán 110.7). x. phò.
đgt. <từ cổ> phù giúp, phò tá. Ước bề trả ơn minh chúa, hết khoẻ phù đạo thánh nhân. (Trần tình 37.6). Điều vạc nhiều phen phù khoẻ nước. (Hồng Đức 50a). Sách Luận Ngữ thiên Quý thị ghi: “Nguy mà không trì, hiểm mà không phù, thì làm sao có thể dùng tướng đó được?” (危而不持,顛而不扶,則將焉用彼相矣?). x. bù trì.
phút 𤼵 / 丿
◎ Các bản phiên trước nay đều phiên bằng hai cách: phútphát. Xét, đây là hai đồng nguyên tự. Nay thống nhất.
dt. <từ cổ> lần, bận, thường trỏ quãng thời gian ngắn. Thế kỷ 19 có các nghĩa “thình lình, bấy giờ, một giây một lát. Một phút. id. phút chốc: bỗng chốc, tức thì. Phút thấy: ngó thấy thình lình. Phút đồng hồ: phần thứ sau mươi trong một giờ” [Paulus của 1895: 827]. Như vậy, đến thế kỷ 19, “phút” đã được dùng để dịch thuật ngữ thời gian theo công nghệ của phương Tây. (Ngôn chí 16.7, 22.2)‖ (Mạn thuật 26.2)‖ (Trần tình 42.2)‖ (Tự thán 77.7, 85.3, 104.2)‖ Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8)‖ (Bảo kính 138.3, 167.3)‖ (quy côn 189.1)‖ (Giới nộ 191.5)‖ (Tích cảnh 207.4)‖ (Hoè 244.2, 244.2) ‖ (Dương 247.4).
quanh co 觥觚
tt. lắt léo, không thẳng. Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, cho hay đường lợi cực quanh co. (Ngôn chí 20.6).
suối 𤂬
◎ {thuỷ 氵+ 磊 lỗi}. Kiểu tái lập: *kʰluối. kʰluối > suối. Tày: luổc [HTA 2003: 309], khuổi [HV Ma 1984: 418]. *kruối [Gaston 1967: 151; TT Dương 2013b].
dt. khe. Quét trúc bước qua lòng suối, thưởng mai về đạp bóng trăng. (Ngôn chí 16.3)‖ (Mạn thuật 28.3)‖ (Trần tình 41.4)‖ (Thuật hứng 60.7, 64.7)‖ (Tự thán 77.3)‖ Suối lợi. (Bảo kính 150.4, 155.5).
sự thế 事世
dt. việc đời. Lân la mến cảnh sơn khê, sự thế nên vong hết mọi bề. (Tự thán 88.2,102.8, 104.7)‖ (Tự thuật 122.5)‖ (Bảo kính 128.5, 161.2, 169.1, 179.1)‖ (Lão hạc 248.1).
tam cương 三綱
dt. ba giềng, ba giềng mối chính của các mối quan hệ nhân luân là Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng. Nẻo xưa nay cũng một đường, đây xốc xốc nẻo tam cương. (Tự thán 93.2).
thi 試
◎ Nôm: 詩 AHV: thí.
đgt. ứng thí. Mấy người ngày nọ thi đỗ, lá ngô đồng khuở mạt thu. (Ngôn chí 3.7).
thư song 書窻
dt. song cửa sổ nơi đọc sách. Thư song vắng vẻ nhàn vô sự, tai chẳng còn nghe tiếng thị phi. (Thuật hứng 57.7).
thế thái 世態
dt. thói đời. (Tự thán 96.3)‖ Ai thấy rằng cười là thế thái, ghê thay biến bạc làm đen. (Tức sự 124.7)‖ (Bảo kính 140.2).
tinh 星
dt. sao. Lỗi hoà đàn, tinh Bắc Đẩu, lang một điểm, thuỵ Liêu Đông. (Trư 252.3).
tiếng 聲
◎ Nôm: 㗂 Ss đối ứng t’iəŋ (15 thổ ngữ Mường), siəŋ (15) [NV Tài 2005: 279], tiểng, cằm, heng [HV Ma 1984: 456]. Ss tương ứng khuôn vần -anh/-inh (AHV) -iêng (THV): 城 thành chiềng, 呈 trành/ trình chiềng, 正 chánh/ chính chiếng (tứ -), 正 chánh/ chính giêng, 精靈 tinh (linh-) thiêng (-liêng), 鉦 chinh chiêng (cái-), 檠 kình kiềng, 領 (bản) lĩnh (vốn) liếng [An Chi 2006 t5: 148; 2005 t1: 413; t2: 356], 鏡 kính kiếng, 驚 kinh kiềng,… khuôn vần âm HTC của 聲: -jeŋ (Baxter, Phan Ngộ Vân). Như vậy, tiếng là âm THV.
dt. âm thanh. Ngâm sách “thằng chài” trong khuở ấy. Tiếng trào dậy khắp Thương Lang (Ngôn chí 9.8, 19.3, 21.4)‖ (Mạn thuật 35.4)‖ (Thuật hứng 61.8, 70.2)‖ (Tự thán 98.4)‖ (Tự thuật 119.5)‖ (Tức sự 123.8)‖ (Bảo kính 150.8, 151.6, 164.8, 170.7)‖ (Vãn xuân 195.8)‖ (Tích cảnh thi 199.3, 201.1)‖ (Nhạn trận 249.6).
dt. tai tiếng, danh tiếng, lời nghị khen bao biếm. Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp, cầu ai khen miễn lệ ai chê. (Thuật hứng 48.7)‖ Tiếng thị phi. (Thuật hứng 57.8)‖ (Tự thán 75.1, 76.2, 84.6), Tiếng hổ hang. (Tự thán 93.8)‖ (Bảo kính 140.6)‖ (Trúc thi 221.3, 222.1).
tư 四
◎ Nôm: 𦊛
dt. bốn, trại âm của tứ. Con lều mọn mọn cách hồng trần, vướng vất mùa những bạn thân. (Tự thán 81.2)‖ (Thu nguyệt 198.3)‖ (Trường an hoa 246.4).
tướng khanh 相卿
dt. dịch đảo từ chữ khanh tướng. Ở đài các, chử lòng Bao Chửng, nhậm tướng khanh, thìn thói Nguỵ Trưng. (Bảo kính 188.6).
vương 王
đgt. (dây) buông níu lại. Dõi qua ngàn liễu vương tơ bạc, bay tịn lòng hoa động bóng hồng. (Thái cầu 253.5).
Vương Chất 王質
dt. người đời Tấn. Truyện kể, một hôm Vương Chất đi kiếm củi trên núi thạch thất, thấy hai vị đang đánh cờ bên bờ suối, bèn buông rìu đững xem. Đứng một hồi, thì một vị ngẩng lên bảo chất về nhà; chất đứng dậy toan cầm rìu quay về thì thấy cán rìu đã mục, lưỡi rìu đã hoen rỉ hết cả. Đến khi về đến nhà, mới phát hiện ra là mọi thứ đã thay đổi. Không ai nhận ra ông; lần hỏi mãi mới biết là đã trải qua mấy trăm năm rồi. Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi, rêu bụi bụi thấy tiên đâu. (Trần tình 41.7).
vầng 暈
AHV: vựng, âm phiên thiết: vương vấn thiết 王問切 (Quảng Vận, Tập Vận, vận hội). dt. quầng / hừng sáng bao quanh mặt trời, sau trỏ cả quầng sáng của mặt trăng [Thích Danh]. Chuỗi đồng nguyên: hừng, hửng, vừng, vầng, quầng. [NH Vĩ 2011a: 349].
dt. lượng từ của nhật, nguyệt. (Trần tình 42.6)‖ No nao biết được lòng tri kỉ, vạnh non tây nguyệt một vầng. (Bảo kính 161.8, 165.5)‖ Khoan khoan những lệ ác tan vầng. (Tích cảnh thi 199.4). “nhà thơ muốn nói: chậm thôi, chậm thôi, sợ mặt trời lên thì vầng đông cũng tan mất, một ý thơ tinh tế” [NH Vĩ 2011b: 349].
xa 賒
◎ Ss đối ứng sa² (nguồn), sa² (Mường bi), cơŋaj² (Chứt), zoŋ (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 237], sa (26 thổ ngữ Mường), ŋaj³ (4), ca (11) [NV Tài 2005: 290]. Như vậy, xa gốc Hán, ngái gốc Việt-Mường.
tt. trái với gần, “xa: dao viễn” 賒遙遠 (tự vị) [Hán Ngữ Đại Tự Điển 1995: 3643]. Vương Bột trong bài Đằng vương các tự có câu: “bể bắc tuy xa, lần theo cũng tới” (北海雖賒, 扶摇可接 Bắc Hải tuy xa, phù dao khả tiếp). Nhung Dục đời Đường trong bài Quế châu chạp dạ có câu: “ngồi nhẵn hết canh ba, về nhưng muôn dặm xa” (坐到三更盡,歸仍萬里賒). Thêm nữa, xa với nghĩa này còn là một từ tố để tạo nên một số từ song tiết khác cận/ gần nghĩa như xa xôi, xa vời, xa xăm, xa cách, xa lánh, xa tít, xa mù, xa ngái, xa khơi, xa lắc, xa xa, xa hoắc, xa lìa, xa lơ xa lắc, xa mú, xa mú tí tè, xa tắp, xa tít tắp, xa thẳm, xa vắng, xa xưa. [TT Dương 2012d]. Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.3). (Thuật hứng 54.4). x. cách xa
án tuyết 案雪
dịch từ chữ tuyết án. Sách Tôn Thị Thế Lục ghi: “s đời Tấn thuở nhỏ nhà nghèo, thường nhờ ánh sáng của tuyết để đọc sách” (孫康家貧,常映雪讀書). Sau ông thi đỗ, làm quan đến Ngự sử đại phu. Lưu Khắc Trang đời Tống trong bài thơ Tặng Trần Khởi có câu: “Thềm mưa ngồi ngất quên xuân hết, án tuyết còn bàn đến nửa đêm.” (雨檐兀坐忘春去,雪案清談至夜分 vũ thiềm ngột toạ vong xuân khứ, tuyết án thanh đàm chí dạ phân). Án tuyết mười thu uổng đọc thư; kẻo còn loạt loạt chữ Tương Như. (Mạn thuật 36.1).
ánh 映
◎ Nôm: 󱽏
đgt. (ánh sáng) chiếu, soi. Ánh cửa trăng mai tấp tấp; kề song gió trúc nồm nồm. (Tự thán 97.3)‖ Lại có một cành ngoài ấy lẻ; bóng sưa ánh nước động người vay. (Mai thi 225.4, 226.1).
đgt. (bóng của vật) in hình lên mặt nước. Ánh nước hoa in một đóa hồng. (Mộc cận 237.1). “ánh nước hoa in một đóa hồng, trong đó cái thực chỉ được nói tới - hoa, và chỉ hiện ra như một cái bóng chiếu in ở trong nước. Nó ở đâu, như thế nào? ta không biết. Một thế giới huyền ảo được mở ra, trong đó cái được nói tới là một cái giả (bóng) lồng trong một cái thực (nước). Cái giả là không. Cái thực là sắc. Nhưng cái không, có từ một cái thực (hoa), và cái sắc vốn là không. Ý nghĩa sắc không bắt đầu ngay từ đây, vì cái sắc (nước) vốn là không, nên đây tác giả viết ánh nước. tóm lại, trong câu đầu: nước là thực mà nước được nói tới như giả, như một cái ảnh - ánh nước. Còn hoa là giả ảnh mà được nói tới như thực - một đóa hồng.” [NN Luân 1992: 39].
đôi co 堆姑
đgt. giành nhau, tranh nhau, cãi nhau, đôi gốc Hán, co gốc Việt. “Nói đi nói lại, chống báng, không nhịn, không vì.” [Paulus của 1895: 313]. Ngỡ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.8)‖ (Bảo kính 176.1)‖ Thế sự đôi co dầu thế sự. (HĐQA b.1), Làm chi cho có sự đôi co. (Bạch Vân Am b.72).
đông quân 東君
dt. thần mặt trời, thần mùa xuân trong thần thoại. Mới trách thanh đồng tin diễn đến, bởi chưng hệ chúa đông quân. (Tích cảnh thi 210.4, 211.1).
Đường Ngu 唐虞
dt. Đường Nghiêu (Đào Đường) và Nghiêu Thuấn (Hữu Ngu) hai đời vua thịnh trị theo quan niệm của nho gia. Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.6)‖ (Trần tình 43.8)‖ (Thuật hứng 58.8).
đạm bạc 淡薄
◎ Nôm: 淡泊
tt. đạm: nhạt, bạc: mỏng; đạm bạc: “lợt lạt, sơ sài” [Paulus của 1895: 262], (bóng) lãnh đạm, không thèm quan tâm đến. Sự thế chưng ta dầu đạm bạc, hiên mai đeo nguyệt quản tiêu hao. (Tự thuật 122.5)‖ (Tức sự 125.8). ở đây dùng nghĩa bóng.
đốt 節
◎ Nôm: 炪 AHV: tiết.
dt. đoạn giữa các mấu trên thân cây. Ăn nước kìa ai được thú, lần từng đốt mới hay mùi. (Giá 238.4).
đồng bào 同胞
dt. những người cùng một cha mẹ sinh ra, trỏ người cùng dân tộc, cùng quốc gia. Sách Hán Thư ghi: “Anh em đồng bào (ruột thịt) chẳng thể sống cùng nhau, cớ là làm sao?” (同胞之徒所所容居,其故何也?). Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, cành bắc cành nam một cội nên. (Bảo kính 142.1).
đục 濁
◎ Nôm: 瀆 / 濁 Thích Danh chú âm 瀆 độc. [Vương Lực: 360]. Zhuó < drổwk [Baxter 1992: 195]. AHV: trọc. Đối ứng duk⁵ (Mường), tùk² (Rục), tuk (Thà Vựng) [VĐ Nghiệu 2011: 60].
tt. không trong, có vẩn cặn. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.5).
tt. ô trọc. Gió gấp hay là cỏ cứng, đục nhiều dễ biết đường quang. (Tự thán 93.6).