Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry đồng nguyên
bay 悲
đt. ngươi, đồng nguyên với mày. Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ, hoạn nạn phù trì huynh đệ bay. (Bảo kính 145.6).
buồm 帆 / 㠶
◎ âm THV, AHV: phàm.
dt. bộ phận ăn gió để chuyển thành động lực cho thuyền chạy. Mui thác trăng dương thế hứng, buồm nhân gió, mặc khi phiêu. (Tự thán 101.4).
buộc bện 縛緶
◎ Nôm: 纀𥾽 buộc: âm THV [Schuessler 1988: 247]. AHV: phược biền. Ss đối ứng: puôk⁵ (nguồn), puôk⁵ (Mường bi), dzăk² (Chứt), (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236]. x. bện.
đgt. HVVT <từ cổ> níu, kéo, lôi kéo, gò ép, ràng buộc, khống chế. Thế sự dầu ai hay buộc bện, sen nào có bén trong lầm. (Thuật hứng 70.7).‖ Hoặc ở lâu trong nước người chẳng hay cẩn thận, phải người mưu lừa sá quanh co, buộc bện, luống phải điều bắt cầm, ràng trói. (Phật Thuyết, 19b), dịch chữ câu khiên 勾牽.
bội 倍
tt. <từ cổ> gấp nhiều lần, lưu tích còn trong từ gấp bội. Người cười rằng kém tài lương đống, thửa việc điều canh bội mấy phần. (mai 214.8).
chầy 遲
◎ Nôm: 迡 Đọc âm THV.
tt. <từ cổ> chậm. Một phút khách chầy còn thấy hỏi, hai phen lần đến ắt chăng chào. (Bảo kính 167.3)‖ (Mạn thuật 25.2)‖ (Tảo xuân 193.3)‖ Tiếng kêu chầy. (Nhạn trận 249.6).
tt. <từ cổ> lâu dài. Muốn ăn trái, dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy. (Bảo kính 137.2, 171.8, 177.8)‖ (Mai thi 225.1)‖ Ngày chầy. (Trường an hoa 246.3).
tt. <từ cổ> khẽ khàng, nhẹ nhàng, chậm chậm. Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động, đường ít người đi cỏ gấp xâm. (Ngôn chí 5.3)
coong coong 工工
◎ Phiên khác: cong cong (ĐDA), công công (MQL), côông côông (PL). Nay theo TVG, VVK.
tt. từ tượng thanh trỏ tiếng các vật thể kim loại hình tròn khum, tạo nên những vòng sóng âm loe. Rảng rảng người rằng chuông ấy thạch, dộng thì cũng có tiếng coong coong. (Thuật hứng 61.8).
cúc ba đường 菊𠀧唐
dt. dịch chữ tam kính cúc 三徑菊. Lan còn chín khúc, cúc ba đường, quê cũ chẳng về nỡ để hoang. (Tự thuật 117.1). x. Tưởng Hủ, Uyên Minh, ba đường cúc.
cơm 粓
◎ Nôm: 𩚵 Đồng nguyên với cám, cốm. Ss đối ứng kɤm (6 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 202].
dt. thức ăn do gạo nấu chín. (Thủ vĩ ngâm 1.2)‖ (Ngôn chí 8.8)‖ Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc, căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu. (Ngôn chí 15.5, 18.4)‖ (Trần tình 39.3)‖ (Thuật hứng 67.5)‖ (Tự thán 90.7)‖ (Bảo kính 129.7, 140.3, 141.4, 173.5, 186.7)‖ (Huấn Nam Tử 192.6).
cười cười 唭唭
đgt. cười nhưng có hàm ý bên trong. Sự thế đã hay thì vậy, có ai cốc được mỗ cười cười. (Tự thán 104.8).
cố nhân 故人
dt. người xưa. Đàn cầm, suối trong tai dõi, còn một non xanh là cố nhân. (Thuật hứng 60.8)‖ (Tự thán 81.6).
của chăng phải đạo 𧵑拯沛道
đc. của cải chiếm được nhưng không đúng theo đạo. Của chăng phải đạo, làm chi nữa, muôn kiếp nào hề luỵ đến thân. (Bảo kính 184.8). Luận Ngữ thiên Lí nhân có câu: “phú và quý là cái mà ai chẳng muốn, nhưng chiếm được một cách phi đạo thì ta chẳng làm” (富與貴是人之所欲也,不以其道得之,不處也 phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã).
dịn 忍
◎ “Dịn: dung thứ. Nhịn, dịn dục, nhịn nhục: cùng một nghĩa. Hay dịn: nhẫn nại. Hay nhịn: cùng một nghĩa.” [Rhodes 1651: 76].
đgt. <từ cổ> chịu, nhường, âm cổ của nhịn. Ở thế dịn nhau muôn sự đẹp, cương nhu cùng biết hết hai bên. (Bảo kính 142.7, 176.2)‖ (Giới nộ 191.8).
góc 角
◎ Nôm: 谷 AHV: giác, lưu tích trong tam giác, tứ giác. Âm HTC: *krok (Baxter), *kruk (Lý Phương Quế), lưu tích thuỷ âm kép còn trong từ song tiết hoá: 角落 (Giác lạc). AHV: giác.
dt. HVVD mé rìa (của một không gian). Góc thành nam, lều một căn, no nước uống, thiếu cơm ăn. (Thủ vĩ ngâm 1.1, 1.8). Tiếng Hán chỉ dùng góc cửa (門角), góc tường (墙角).
gưởi tính 𠳚恠
◎ (sic) < 性. Phiên khác: cãi quấy: ngư ông ca ngợi cảnh sông nước, người đốn củi tán dương chốn núi rừng, hai bên cãi nhau không ai chịu ai (MQL 2001: 855). Xét, ngư tiều là hai người bạn của ẩn sĩ, nên khó có thể cãi nhau ở đây được. Nay theo TVG, BVN, Schneider, PL.
đgt. dịch chữ “ký tính tình” (寄性情). Gưởi tính ngư tiều hai đứa lẫn, của ai non nước khiến ta bàn. (Tự thán 95.7). Xưa các nhà Nho thường gửi tâm sự trong thơ ca mây nước. Hai câu này ý nói, ta thì hãy gửi tình gửi tính như ngư ông, tiều phu kia, để mình lẫn vào với nước non này, còn chuyện “non nước” chính sự của ai kia thì chẳng còn ai muốn ta bàn bạc nữa.
gượng 強
◎ Đọc âm HHV, k- > g- (xát hoá). AHV: cưỡng.
đgt. gắng thực hiện theo ý mình bất chấp sự can ngăn không đồng ý của người khác. Nghìn dặm xem mây nhớ quê, chẳng chờ cổi ấn gượng xin về. (Bảo kính 155.2)‖ (Ba tiêu 236.4). gắng, gặng.
gạch 甓
◎ 󰍮, tục tự của bích 甓 (gạch), là chữ Nôm đọc nghĩa, chữ này đồng nguyên với bích 壁 (vách: cái xây bằng gạch). Kiểu tái lập: ?gak⁶ (a- gạch). Về ?g- [xem HT Ngọ 1999: 58, 61, 111, 114, 115]. Shimizu Masaaki cho rằng các ví dụ gày, gõ thuộc cấu trúc song âm tiết [2002: 768]. “gạch” (với *?g-) chuẩn đối với “sừng” (với *kr-) và đều được song tiết hoá.
dt. viên đất nung dùng để xây nhà. Gạch khoảng nào bày với ngọc, sừng hằng những mọc qua tai. (Tự thán 92.3). Các bản khác đều phiên “gạch quẳng”, cho là điển “phao chuyên dẫn ngọc 拋磚引玉 (ném gạch ra để dẫn dụ ngọc đến) để nói về chuyện làm thơ [cụ thể xem TT Dương 2013c]. ở đây phiên “gạch khoảng nào bày với ngọc” dẫn điển 瓦玉集糅 (ngoã ngọc tập nhu) tương đương với thành ngữ “vàng thau lẫn lộn” trong tiếng Việt. Vương Sung đời Hán trong sách Luận Hành viết: “Hư vọng lại mạnh hơn chân thực, quả là loạn trong đời loạn, người chẳng biết đâu phải đâu trái, chẳng phân biệt màu đỏ màu tía, chung chạ bừa bãi, gạch ngói chất bừa, ta lấy tâm ta mà nói về những chuyện đó, há lòng ta có thể chịu được chăng?’” (虛妄顯於真實誠亂於偽世人不悟是非不定紫朱雜厠瓦玉集糅以情言之豈吾心所能忍哉). Nguyễn Trãi đã dùng thành ngữ này để đối với một thành ngữ khác ở câu dưới là “sừng mọc quá tai”, thành ngữ sau là một thành ngữ thuần Việt, gần nghĩa như câu hậu sinh khả úy. x. khoảng.
hay chưa 咍渚
ht. nghi vấn từ, hỏi đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Chép hết bao nhiêu sự thế ưa, ai ai đà biết được hay chưa? (Bảo kính 179.2).
huống lại 况吏
lt. <từ cổ> thêm nữa lại có. Huống lại vườn còn hoa trúc cũ, dồi thức tốt lạ mười phân. (Tích cảnh thi 211.3)‖ (Trúc thi 222.3)‖ (Mai thi 226.3).
hổ 虎
đgt. tt. <từ cổ> thẹn, lưu tích trong xấu hổ, hổ hang. “Hổ: erubescere.” [Taberd 1838: 200].Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt, thề xưa hổ có giang san. (Thuật hứng 63.6)‖ (Tự thán 75.2, 94.3)‖ (Bảo kính 159.8, 180.1).
khó bền 庫卞
tt. <Nho> dịch chữ cố cùng 固窮 (cùng: khó; cố: bền). Luận Ngữ thiên Vệ linh công có đoạn: “khi Khổng Tử ở nước trần thì bị hết lương thực, các đệ tử đi theo sinh bệnh, không dậy được. Tử Lộ lo lắng hỏi: ‘quân tử mà cũng có lúc khốn cùng thế này sao?’ Khổng Tử trả lời: ‘quân tử lúc khốn cùng vẫn bền chí giữ tiết, tiểu nhân khốn cùng thì làm bậy’” (在陳絕糧,從者病,莫能興。子路慍見曰:“君子亦有窮乎?”子曰:“君子固窮,小人窮斯濫矣). Khó bền, mới phải người quân tử, mình gắng, thì nên kẻ trượng phu. (Trần tình 43.5).
khúc khuỷu 曲考
tt. <từ cổ> cong, không thẳng, quanh co. Co que thay bấy ruột ốc, khúc khuỷu làm chi trái hoè. (Trần tình 44.4). khúc khiểu [Paulus của 1895: 504].
kinh thành 京城
dt. thành trì và cung điện ở chốn kinh kỳ, trỏ kinh đô. Của nhiều, sơn dã đam nhau đến, khó ở, kinh thành thiếu kẻ han. (Bảo kính 133.6).
la ỷ lấy đâu chăng lưới thưới 羅綺𥙩兜庄䋥洒
đc. Thuyết Uyển phần Thần thuật (thuật của bề tôi) của Lưu Hướng đời Hán có đoạn: “Tề Uy Vương đi chơi ở dao đài, Thành Hầu Khanh đến tâu việc, ngựa xe theo hầu trang sức lụa là thậm đẹp, vương thấy thế nói với tả hữu rằng: ‘người đang đến kia là ai?’. Tả hữu trả lời rằng: “là Thành Hầu Khanh vậy”. Nhà vua nói: “nước đang rất nghèo khó tại sao phải trang sức hoa lệ thế kia?”. Tả hữu thưa: “Người ban bổng lộc cho người khác thì có quyền yêu cầu người đó. Người nhận bổng lộc của người khác thì phải tận nghĩa vụ với người đó”. Vương muốn hỏi rõ về việc này. Thành Hầu Khanh đến, tâu lên rằng: ‘thần là kị’. Vương không đáp. Lại tâu: ‘thần là kị’. Vương cũng vẫn không đáp. Lại tâu: ‘thần là kị’. Vương rằng: ‘nước nghèo xác, làm sao mà xa hoa thế?’. Thành Hầu Khanh rằng: ‘xin tha thần tội chết để cho thần được nói’. Vua rằng: ‘được’. Thưa rằng: ‘kị tiến cử Điền Cư Tử trị lí tây hà mà (khiến) tần và lương đều suy yếu, kị tiến cử Điền Giải Tử trị lí nam thành, mà người nước sở mang lụa là đến triều bái, kị tiến tiến cử Kiềm Trác Tử trị lí minh châu, mà người nước yên dâng gia súc, người nước triệu dâng lúa thóc; kị tiến cử Điền Chủng Thủ Tử trị lí tức mặc, mà nước Tề an bình; kị tiến cử Bắc Quách Điêu Bột Tử làm chức đại sĩ, mà cửu tộc thêm thân, nhân dân thêm giàu. Thần đã cất cử mấy người giỏi như thế, bệ hạ chỉ việc kê cao gối mà nằm, việc gì phải lo nước nghèo vậy thay!’”. La ỷ lấy đâu chăng lưới thưới, hùng ngư khôn kiếm phải thèm thuồng. (Thuật hứng 68.3). Trong câu này, Nguyễn Trãi đang bàn đến chuyện “tài năng”, đến cái thuật làm tôi. la ỷ lấy đâu chăng lưới thưới, theo nghĩa đen của từng con chữ có thể giải nghĩa như sau: “lụa là lấy đâu ra mà chăng mắc la liệt?” chữ “lấy đâu” là một nghi vấn từ để phủ định, nó đối với chữ “khôn kiếm” ở câu dưới. Ngầm sâu hơn dưới các con chữ là một hàm ý về sự thất sủng. Làm sao có được cái “thần thuật” như của Thành Hầu Khanh? mà dẫu có tài năng như Thành Hầu Khanh đi chăng nữa thì cũng là vô dụng rồi, đã bị vô hiệu hoá rồi. [TT Dương 2011c]. x. hùng ngư.
lấy làm 𥙩𬈋
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (để làm). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân Các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.1).
đgt. <từ cổ> dịch chữ dĩ vi 以為 (coi là, cho là). Của đến nước xa nên quý giá, người lìa quê cũ lấy làm phiêu. (Bảo kính 135.4).
lầu hồng 樓紅
dt. dịch chữ hồng lâu (chốn ở của con gái quyền quý). Lầu hồng có khách cầm xuân ở, cầm ngọc tay ai dắng dỏi thêm. (Tích cảnh 200.3, 208.1).
lội 沫
◎ (sic) < 洡. Ss đối ứng loj (6 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 181].
đgt. <từ cổ> bơi, lưu tích còn trong từ bơi lội, ngày nay lội chỉ dùng trong cụm “lội nước”. (Mạn thuật 29.3)‖ Đìa thanh, cá lội, in vầng nguyệt, cây tịnh, chim về, rợp bóng xuân. (Bảo kính 165.5).
mèo 貓 / 猫
AHV: miêu.
dt. con mèo. Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, lẻo lẻo duềnh xanh con mắt mèo. (Tự thán 101.6). đng vằn.
mơ 眉
◎ Ss đối ứng mɯ (27 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 242].
đgt. mộng, trái với tỉnh. Phồn hoa một đoạn tỉnh , mẽ chuông tàn cảnh sất sơ. (Tự thán 108.1).
mấu ấu 戊幼
dt. củ ấu, hai đầu cong lên như sừng trâu. Cây cụm chồi cành chim kết tổ, ao quang mấu ấu cá nên bầy. (Ngôn chí 11.6).
mặn chát 曼札
tt. rất mặn, (bóng) trỏ sự vất vả, long đong. Mùi thế đắng cay cùng mặn chát, ít nhiều đã vấy một hai phen. (Thuật hứng 46.7).
ngày 𣈜
◎ Ss đối ứng ŋạj¹ (Mường), tʰŋay (Khmer) [VĐ Nghiệu 2011: 61].
dt. trong ngày tháng. Chim kêu hoa nở, ngày xuân tịnh, hương lụn cờ tàn, tiệc khách thôi (Ngôn chí 2.5, 3.4, 3.7, 4.1, 11.4, 17.2, 18.6, 20.3, 22.6)‖ (Trần tình 37.1)‖ (Thuật hứng 46.4, 50.8, 58.1, 66.7, 68.2, 70.3)‖ (Tự thán 71.1, 71.7, 75.6, 76.3, 79.7, 82.7, 94.1, 95.5, 98.7, 99.2, 105.1)‖ (Tự thuật 112.4, 118.2, 119.7)‖ (Tức sự 123.7, 125.1, 126.4)‖ (Bảo kính 133.8, 146.2, 154.5, 160.4, 170.1, 177.2, 188.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.7)‖ (Tích cảnh thi 209.1)‖ (Lão mai 215.6)‖ (Cúc 217.8)‖ (Tùng 219.4, 220.1)‖ (Trúc thi 222.1)‖ (Hoè 244.3)‖ (Trường an 246.3)‖ (Nghiễn trung ngưu 254.4).
ngõ 午
◎ Phiên khác. ngỏ: bộc lộ (TVG), ngộ: thông minh (ĐDA), ngộ: có vẻ khác thường (BVN), ngộ: thường vẫn nói thông minh dĩnh ngộ (MQL).
tt. <từ cổ> giỏi, “khôn ngõ: khôn ngoan, hiền ngõ: id. tài ngõ: tài trí. có tài có ngõ thì gõ với nhau” [Paulus của 1895: 710]. Tài tuy chăng ngõ, trí chăng cao, quyền đến trong tay chí mới hào. (Tự thán 89.1). Câu này cho thấy ngõ ở thế kỷ XV vẫn còn dùng độc lập
ngại 礙
◎ Nôm: 礙 / 碍 / 𪿒 đgt. lo, lo lắng. Sách Hoài Nam Tử có câu “vẫn đều được che chở, nên chẳng có gì trở ngại” (洞同覆載,而無所碍 đỗng đồng phú tái, nhi vô sở ngại).
đgt. tt. e, như e ngại, trong đó e gốc Việt, ngại gốc Hán. (Thủ vĩ ngâm 1.6)‖ (Mạn thuật 23.2)‖ Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, cửa quyền hiểm hóc ngại xung xăng. (Mạn thuật 27.2, 28.6)‖ (Thuật hứng 46.2, 52.6, 60.1)‖ (Tự thán 75.4)‖ (Tự thuật 113.2, 121.6)‖ (Bảo kính 140.6, 158.1, 160.1, 161.6, 168.7)‖ (Tích cảnh thi 206.2).
náu 耨
đgt. ẩn đi, nấp đi, tránh đi. Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân, lưởng thưởng chưa lìa lưới trần. (Mạn thuật 33.1)‖ (Thuật hứng 70.1). đng lánh.
nô bộc 奴僕
dt. <Tngls> người hầu trong nhà, bộc còn đọc là . Nô bộc ắt còn hai rặng quýt, thất gia chẳng quản một con lều. (Mạn thuật 24.5).
nừng 能
◎ Tày: nứng, nâng, nấng (số một). [HTA 203: 388]. Phiên khác: năng, hay.
p. <từ cổ> ít, chỉ, chỉ có. “僅 cận: nừng, ít, chỉ có thế” [Thiều Chửu 1999: 30]. “僅 cận: nầng” [Nguyễn Bỉnh 1909: 33a; ngũ thiên tự 1932: 92; vũ văn kính 2003: 97; cứ liệu và ý kiến của lê hữu mục chuyển dẫn trần uyên thi 2010]. Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.8)‖ Tranh giăng vách nài chi bức, đình thưởng sen nừng có căn. (Tự thán 110.4)‖ Khí dương hoà há có tây ai, nừng một hoa này nhẫn mọi loài. (Đào hoa thi 230.2)‖ Nừng có mỗ Bụt hay trừ ← (duy Phật năng trừ 惟佛能除) (Phật Thuyết, 43a) ‖ Biết đào hồng hay liễu lục, thiên hạ nừng mỗ chủ tri âm (Trần Nhân Tông- Cư Trần Lạc Đạo Phú, đệ nhất hội).
phú quý treo sương ngọn cỏ 富貴󱏪霜𦰟𦹵
đc. Tô Đông Pha trong bài Mạch thượng hoa có câu: “Phú quý khi còn sương ngọn cỏ, phong lưu lúc chết hoa mé đường.” (生前富貴草頭露,身後風流陌上花 sinh tiền phú quý thảo đầu lộ, thân hậu phong lưu mạch thượng hoa).
quyền quý 權貴
tt. có quyền lực, có vị thế xã hội, được nể trọng. Áng cúc thông quen vầy bậu bạn, cửa quyền quý ngại lượm chân tay. (Tự thán 75.4).
quỹ 晷
dt. bóng mặt trời, mặt trăng, trỏ nhật nguyệt nói chung. Sách Thuyết Văn ghi: “Quỹ: ánh nắng” (晷,日景也). Tuyết sóc treo, cây điểm phấn, quỹ đông dãi, nguyệt in câu. (Ngôn chí 14.4).
dt. thời gian, bóng quang âm, mùa. Quỹ đông cho thức xạ cho hương, tạo hoá sinh thành khác đấng thường. (Cúc 217.1). “quỹ đông: sơ thấy ban hầu tan canh” (Chỉ Nam ngọc âm thế kỷ17: 1b).
ràn 欄
◎ Nôm: 欗 Đọc theo âm THV, âm HTC: c-ran (Baxter), gran (tt thượng phương). AHV: lan.
dt. <từ cổ> “ràn gà: chỗ nhốt gà, ràn trâu: chỗ nhốt trâu. ra ràn: chim con mới nở, mới ra khỏi ổ, mới biết chuyền” [Paulus của 1895: 859]. Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, hòn đất hầu lầm, mất cái chim. (Bảo kính 150.5).
rùa 𧒌
◎ (thanh phù: 路 lộ). Ss với đối ứng hrɔ¹ (Mường Thải, Tân Phong, Huy Thượng, làng lở), da³ hrɔ¹ (Mường khói), ta³ ¹ (Mường vang), ʑɔ¹ (Giáp Lai, Sông Con, Lâm La, Cổ Liêm), ¹ (Yến Mao, Ba Trại, Mường Động) [NV Tài 2006: 264]. Kiểu tái lập: *hro² [TT Dương 2013b].
dt. bạn của ẩn sĩ. Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn, ủ ấp cùng ta làm cái con. (Ngôn chí 21.7).
rỉ 𠯇
đgt. nói nhỏ cho biết. x. dỉ.
rồng 龍
◎ Nôm: 𧍰 Đọc theo âm THV. AHV: long. Kiểu tái lập: OCM *roŋ, Ss Khmer: roŋ - rôŋ, Mường: hông - ròn [Schuessler 2007: 363]. rồng là tên gọi xưa nhất, vay vào khoảng đời Tây Hán- đông hán nên cả phụ âm, cả vần, cả thanh đều rất cổ. thuồng luồng vay vào khoảng từ sơ đường đến trung đường nên thanh cổ nhưng phụ âm, vần đều đã mới. long là tên gọi Hán Việt vay vào cuối đời Đường. [NT Cẩn 2001: 26]. Thế kỷ XVII, Rhodes ghi nhận ròũlaõ [1651: 195]. Kiểu tái lập: *kroŋ¹ [TT Dương 2012c].
dt. long, thuồng luồng. Thuyết Văn ghi: “Rồng đứng đầu các loài có vẩy, có thể ẩn hiện, có thể biến hoá nhỏ hoặc lớn, dài hoặc ngắn; tiết xuân phân thì bay lên trời, tiết thu phân thì lặn sâu đáy vực.” (鱗蟲之長, 能幽能明, 能細能巨, 能短能長, 春分而登天, 秋分而潛淵). Bằng rồng nọ ai phen kịp, mất thế cho nên mặt dại ngơ. (Bảo kính 180.7)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6)‖ (Trúc thi 223.3), hoá rồng, do chữ long tôn 龍孫 trỏ măng, ý nói khi măng già thì hoá trúc. x. cháu rồng.‖ (Trư 252.7).
sự do 事由
dt. nguyên do sự việc. Cơn cớ nguyền cho biết sự do, xem mà quyết đoán lấy cương nhu. (Bảo kính 152.1).
thanh phong 清風
dt. gió mát. Say minh nguyệt chè ba chén, địch thanh phong lều một căn. (Mạn thuật 27.4).
thông biết 通別
đgt. biết rõ, biết hết. x. thông①. Được trật dõi nơi sự tiếc mừng, đạo ta thông biết, hết lưng lưng. (Bảo kính 181.2).
trận 陣
dt. nghĩa gốc là bày chiến xa sắp hàng theo các thế trong binh pháp. Sách Bội Huề Tập ghi “quân đội bày thế là trận” (軍陳爲陣). Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử, tám trận khôn hay chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6) x. tám trận.
trẻ tạo hoá 𥙩造化
dt. dịch chữ hoá nhi 化兒. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6) ‖, thủ pháp bẻ từ đã được sử dụng ở đây để tạo nên các thế đối lập giữa chủ thể và khách thể, vừa u mua lại vừa trớ trêu và nghiệt ngã. Phạm Thành Đại 範成大 đời Tống trong bài Lập xuân đại tuyết 立春大雪 có câu: 化兒任惡劇,歡伯有奇懷 hoá nhi nhiệm ác kịch, hoan bá hữu kỳ hoài (hoá nhi ác bày tấn kịch, hoan bá riêng ôm cõi lòng). cn con tạo.
và 𬏓
◎ Thanh phù: ba.
dt. vài. “và 吧: vài, hai, một ít. Và hai: cả hai. Cả và hai: id. cả và: cả thảy. Và lời: vài lời. Và hàng: vài hàng. Và đều: vài đều, một ít đều. Và lần: vài lần.” [Paulus của 1895 t2: 532]. Tác ngâm song có mai điểm, dời ngó rèm lồng nguyệt một câu. (Bảo kính 159.3).‖ Nguyệt nga lấy bút đề câu thơ (Lục Vân Tiên, c. 1638)‖ Ai về tôi gửi thư ra, gửi dăm câu nhớ gửi câu thương cd
vạn diệp thiên chi 萬葉千枝
dt. muôn lá ngàn cành, trỏ việc con cháu đông đúc, muôn ngành vạn nhánh. Có tông có tộc mựa sơ thay, vạn diệp thiên chi bởi một cây. (Bảo kính 145.2).
vạn sự 萬事
dt. muôn việc. Còn nhiều sá họp toan ăn uống, tám chín mươi thì vạn sự không. (Bảo kính 130.8).
vực 域
dt. chỗ nước thẳm. Thu cao, thỏ ướm thăm lòng bể, vực lạnh, châu mừng thoát miệng rồng. (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
xa hoa 奢華
tt. giàu sang mà phung phí. (Bảo kính 174.5)‖ Xa hoa lơ lửng nhiều hay hết, hà tiện đâu đang ít hãy còn. (Huấn Nam Tử 192.3).
đan sa 丹砂
dt. loại thuốc trường sinh màu đỏ, do các đạo sĩ luyện, đây trỏ màu đỏ tươi. Cánh xâm bạch tuyết mười phần bạc, đỉnh nhuốm đan sa chín chuyển hồng. (Lão hạc 248.6).
đeo đẳng 刁等
đgt. theo đuổi mãi, không thể dứt. “deo dang: infatigabilis” [Morrone 1838: 227]. Đã mấy thu nay để lệ nhà, duyên nào đeo đẳng khó chăng tha. (Ngôn chí 8.2)‖ Vui chi mà đeo đẳng trần duyên. (cung oán c. 106)‖ tiếc công danh đeo đẳng mấy năm trời (Nguyễn Công Trứ - cảnh biệt ly).
đượm 淡
đgt. thấm đẫm đến mức ngấu. Tuyết đượm chà mai câu dễ động, đìa in bóng nguyệt hứng thêm dài. (Tự thán 84.3). đặm, đậm.
đạo trời 道𡗶
dt. <Đạo> quy luật tự nhiên, dịch chữ thiên đạo 天道. Tự nhiên đắp đổi đạo trời, tiêu trưởng doanh hư một phút dời. (Tự thán 104.1). x. tiêu trưởng doanh hư.
đồ 圖
dt. <từ cổ> bức tranh. Giang san dạm được đồ hai bức, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 19.5)‖ Đăm chiêu đồ mở hình cao thấp (HĐQA, b. 12). đng tranh, bức.
chồng 重
AHV: trùng. Chữ “trùng” trong Hán văn nghĩa là “làm cho tăng thêm” (động từ), như “thế là làm tăng thêm sự bất đức của ta” (是重吾不德也) [Hán thư]. Có khi còn là lượng từ với nghĩa “tầng, lớp, chồng”, như câu “Chung Sơn chỉ cách mấy lớp núi” (鍾山只隔數重山) [Vương An Thạch]. Tiếng Việt còn bảo lưu âm “chồng” với tư cách lượng từ và động từ, ví dụ “chồng một chồng sách”. Ngoài ra còn song thức: trập trùng / chập chồng. Xét, trập / chập gốc Việt, trùng / chồng gốc Hán. Âm HTC: *drjuŋ (Lý Phương Quế), *drjoŋ (Baxter).x. trập. Tương ứng ch- (HHV) tr- (AHV): chiềng trình呈, (che) chắn trấn鎮, chìm trầm沈, chầy trì遲, chay trai齋, (dính) chấu trảo (nha)爪 [An Chi 2005 T2: 355].
đgt. đắp lên trên tiếp. Nước càng tuôn đến bể càng cả, Đất một chồng thêm núi một cao. (Tự thuật 122.4).
duôi 唯
◎ Phiên khác: xui (TVG, BVN), roi (ĐDA). Nay theo Schneider, MQL, PL.
đgt. <từ cổ> khinh, rẻ, trong “dể duôi: khinh dể” [Paulus Của 1895: 252]. Như vậy, dể gốc Hán, duôi gốc Việt. Khong khảy kẻ cười cùng kẻ thốt, Khó khăn người dể miễn người duôi. (Tự thán 106.6).x. dể.