Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Đông Phương Sóc
bạc phận 薄分
◎ Nôm: 泊分
tt. (phụ nữ có số phận) mỏng manh, không tốt. Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận, hồng nhan kia chớ cậy mình thay. (Mạt lị hoa 242.3). Câu này ý nói về việc tài mệnh tương đố.
chim bay cá dảy 𪀄𠖤个𧿆
đc. <Pháp> các loài vật thung dung tự tại sống hoà theo tự nhiên. Sách Pháp Gia thiên Thận tử viết: “chim bay trên không, cá bơi dưới vực, chẳng theo thuật nào cả. Cho nên chim và cá cũng chẳng tự biết là nó có thể bay hay bơi. Nếu mà có biết, rắp tâm bay rắp tâm bơi thì lập tức rơi chìm… cho nên biết thuận theo tự nhiên thì sẽ bền lâu”. (鳥飛於空,魚游於淵,非術也。故為鳥為魚者,亦不自知其能飛能遊。苟知之,立心以為之,則必墮必溺…是以任自然者久,得其常者). Lẽ có chim bay cùng cá dảy, mới hay kìa nước nọ hư không. (Thuỷ thiên nhất sắc 213.7). Câu này tác giả ngầm có ý sâu xa hơn.
lưng lưng 凌凌
tt. Như lâng lâng “lưng lưng: bộ hớn hở, bộ vui vẻ” [Paulus của 1895: 543]. Được trật dõi nơi sự tiếc mừng, đạo ta thông biết, hết lưng lưng. (Bảo kính 181.2).
phút 𤼵 / 丿
◎ Các bản phiên trước nay đều phiên bằng hai cách: phútphát. Xét, đây là hai đồng nguyên tự. Nay thống nhất.
dt. <từ cổ> lần, bận, thường trỏ quãng thời gian ngắn. Thế kỷ 19 có các nghĩa “thình lình, bấy giờ, một giây một lát. Một phút. id. phút chốc: bỗng chốc, tức thì. Phút thấy: ngó thấy thình lình. Phút đồng hồ: phần thứ sau mươi trong một giờ” [Paulus của 1895: 827]. Như vậy, đến thế kỷ 19, “phút” đã được dùng để dịch thuật ngữ thời gian theo công nghệ của phương Tây. (Ngôn chí 16.7, 22.2)‖ (Mạn thuật 26.2)‖ (Trần tình 42.2)‖ (Tự thán 77.7, 85.3, 104.2)‖ Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8)‖ (Bảo kính 138.3, 167.3)‖ (quy côn 189.1)‖ (Giới nộ 191.5)‖ (Tích cảnh 207.4)‖ (Hoè 244.2, 244.2) ‖ (Dương 247.4).
điệu khiếp 悼怯
đgt. HVVT điệu: buồn; khiếp: thương. Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tịn, lui thuyền lãng đãng ở trên dòng. (Thuỷ trung nguyệt 212.7).
ảo hoá 幻化
tt. AHVhuyễn hoá, nghĩa gốc là “sự biến đổi”, trong đó huyễn = hoá (từ kép đẳng lập), như: “幻化也” (Quảng Vận). Liệt Tử phần chu mục vương ghi: “Những việc mà đến lúc cùng thì sẽ biến đổi, nhân theo hình mà thay đổi, đó gọi là hoá, gọi là ảo…… nên biết rằng việc ảo hoá không khác gì với việc sống chết.” (窮數達變,因形移易者,謂之化,謂之幻.…知幻化之不異生死也). Sau được dùng để dịch thuật nhữ māyā-upamatā của Phật giáo, trỏ vạn vật không có thực tính. Đào Uyên Minh trong bài Quy viên điền cư có câu: “đời người tựa ảo hoá, thảy đều về hư vô” (人生似幻化,終當歸空無 nhân sinh tự ảo hoá, chung đương quy không vô). Toàn Đường Thi (q.806) bài Hàn san thi có câu: “phù sinh ảo hoá như đèn lụi, thân vùi dưới đất ấy hữu - vô” (浮生幻化如燈燼,塚內埋身是有無 phù sinh ảo hoá như đăng tận, trủng nội mai thân thị hữu vô). Người ảo hoá khoe thân ảo hoá, khuở chiêm bao thốt sự chiêm bao. (Thuật hứng 47.3). ai ai sá cóc: bằng huyễn chiêm bao; xẩy tỉnh giấc hoè, châu rơi lã chã. Cóc hay thân huyễn, chẳng khác phù vân; vạn sự giai không, tựa dường bọt bã. [Trần Nhân Tông - Đắc Thú lâm tuyền 31a]. kinh kim cương có câu: “tất thảy phép hữu vi, như bóng bọt mộng ảo” (一切有爲法,如夢幻泡影 nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh).