Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Đào Uyên Minh
ba đường cúc 𠀧塘菊
dt. đc. dịch chữ tam kính cúc 三徑菊. Kính: đường nhỏ. tam kính: đc. Tam kính của Tưởng Hủ. Triệu Kỳ đời Hán trong Tam Phụ Quyết Lục phần Đào danh ghi: “Đời Hán, thứ sử duyện châu là Tưởng Hủ, nhân vì Vương Mãng chuyên quyền, từ quan ẩn cư, mở ba đường nhỏ trong rừng trúc, chỉ giao du với hai người Cầu Trọng và Dương Trọng. Đào Uyên Minh đời Tấn trong bài Quy Khứ Lai Từ có câu: “ba lối hoang vu, tùng cúc vẫn còn” (三徑就荒,松菊猶存 tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn). Mưa thu rưới ba đường cúc, gió xuân đưa một rãnh lan. (Ngôn chí 17.5)‖ (Tự thán 73.5, 107.5).
chốn chốn 准准
dt. <từ cổ> nơi nơi. Chén châm rượu đục ngày ngày cạn, túi quẩy thơ nhàn chốn chốn thâu. (Bảo kính 153.6).
lưng lưng 凌凌
tt. Như lâng lâng “lưng lưng: bộ hớn hở, bộ vui vẻ” [Paulus của 1895: 543]. Được trật dõi nơi sự tiếc mừng, đạo ta thông biết, hết lưng lưng. (Bảo kính 181.2).
lọ là 路羅
đgt. <từ cổ> cần gì phải, dịch chữ hà tất 何必, hà tu 何須. Có xạ, tự nhiên mùi ngát bay, lọ là đứng gió xang tay. (Bảo kính 172.2) do câu 有麝自然香,何必當風立 hữu xạ tự nhiên hương, hà tất đương phong lập. Hoặc 有麝自然香,何須迎風揚 hữu xạ tự nhiên hương, hà tu nghinh phong dương , hay câu 有麝自然香,何必人前誇 hữu xạ tự nhiên hương, hà tất nhân tiền khoa.
ngờ 疑
◎ Nôm: 𪟽 / 疑 AHV: nghi.
đgt. nghi. Sách Thuyết Văn ghi: “Nghi: ngờ vậy.” (疑,惑也). Chim có miệng kêu, âu lại ngậm, cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ. (Tự thán 108.4)‖ (Bảo kính 179.8)‖ (Đào hoa thi 232.4).
đgt. dự tính mà biết trước (thường đứng sau phủ định từ, hoặc đại từ phiếm chỉ). Đời Thương thánh biết cầu Y Doãn, nhà Hán ai ngờ được Tử Khanh. (Bảo kính 131.4, 166.2).
Nhan Uyên 顏淵
dt. <Nho> Nhan Hồi 顏回 (521 - 481 tcn), họ nhan, tên hồi, tự là Tử Uyên 子淵, nên cũng gọi là Nhan Uyên, là con của ông nhan do, người nước Lỗ. Nhan Hồi theo học với đức Khổng Tử, kém Khổng Tử 30 tuổi, thiên tư thông minh, nhanh nhẹn, hiếu học, chuộng lễ, làm việc gì cũng không lầm lỗi đến hai lần, nói điều gì cũng không cẩu thả, khi giận người nầy không giận lây người kia, đứng đầu khoa đức hạnh trong cửa Khổng. Khổng Tử thường khen rằng: ta có trò hồi, cho nên các học trò ngày càng thân với ta. Nhan Hồi nhà nghèo, ở trong ngõ hẹp, giỏ cơm bầu nước, nếu là người khác thì không chịu được mà lo buồn, Nhan Hồi thì tự nhiên vui vẻ, học đạo. Đức Khổng Tử khen là người hiền và có nhân. Năm Nhan Hồi 29 tuổi thì tóc đã bạc trắng. Đức Khổng Tử thường khen Nhan Hồi: hiền tai hồi dã! nhất đan tự, nhứt biều ẩm, tại lậu hang, nhân bất kham kỳ ưu, hồi giả, bất cải kỳ lạc! hiền tai hồi dã! (hiền vậy thay Nhan Hồi! một giỏ cơm, một bầu nước, ở chỗ ngõ hẹp, giá người khác ở vào cảnh ấy thì lo buồn không chịu được, thế mà Nhan Hồi không bao giờ đổi cái vui của mình. Hiền vậy thay Nhan Hồi!) Nhan Hồi mất lúc mới 31 tuổi. Đức Khổng Tử than rằng: - trời hại ta! trời hại ta! đời sau truy tặng Nhan Hồi là uyển quốc công, phối hưởng với Khổng Tử khi cúng tế và được tôn là phục thánh, một trong tứ thánh của nho giáo. Nhan Uyên nước chứa, bầu còn nguyệt, Đỗ Phủ thơ nên bút có thần. (Ngôn chí 12.5)‖ Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ, đường cùng Nguyễn Tịch khóc làm chi. (Thuật hứng 57.5)‖ Vũ truyền thiên hạ Nhan Uyên ngặt, đổi đất xong thì có khác nao. (Tự thuật 122.7).
nhau 饒
dt. từ biểu thị sự tác động qua lại giữa các đối tượng. Trúc mai bạn cũ họp nhau quen, cửa mận tường đào chân ngại chen. (Thuật hứng 46.1)‖ (Tức sự 126.4)‖ (Bảo kính 133.5, 138.7, 142.7, 145.7, 147.8, 149.4, 152.4, 178.1, 178.8)‖ (Hạ cảnh tuyệt cú 197.4).
tóc 𩯀 / 𬨻
◎ {cá + tốc}. Kiểu tái lập cho tiếng Việt tiền cổ: *ksok [TT Dương 2012a]. Âm PVM: *usŭk [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. tóc trên đầu. Lòng một tấc đan còn nhớ chúa, tóc hai phần bạc bởi thương thu. (Trần tình 43.4)‖ (Thuật hứng 46.5)‖ tóc. (Tự thán 80.1)‖ Biên tóc. (Tự thán 82.6, 99.5)‖ (Tự thuật 112.5, 113.4)‖ (Bảo kính 165.4).
tư văn 斯文
dt. <Nho> đạo này, văn hiến này, văn minh này. Sách Luận Ngữ thiên Tử hãn có đoạn: ”Khổng Tử bị hãm ở ấp khuông, ngài nói rằng: Văn Vương đã mất, cái nền văn minh (lễ nhạc, chế độ của nhà Chu) đều ở ngài đó sao? ông trời quả muốn diệt cái văn này (tư văn) thì ta (kẻ chết sau đức Văn Vương) chẳng còn cách nào mà truyền nối được cái văn minh ấy. Còn nếu trời chưa muốn huỷ hoại, thì bọn người khuông kia liệu có làm gì được ta?” (子畏于匡,曰:文王既没,文不在兹乎?天之將喪斯文也,后死者不得與于斯文也。天之未喪斯文也,匡人其如予何?). Mấy kẻ tư văn sinh đất Việt, đạo này nối nắm để cho dài. (Tự thán 92.7). x. văn này.
Tạ Phó 謝傅
dt. tức Tạ An 謝安 (320 – 385),tự là An Thạch 安石, hiệu Đông Sơn 東山, người đời Đông Tấn, trải các chức Ngô Hưng Thái thú. Thị trung kiêm Lại bộ Thượng thư kiêm Trung hộ quân, Thượng thư Bộc xạ kiêm Lĩnh Lại bộ Gia hậu tướng quân, Dương Châu thứ sử, kiêm Trung thư giám, kiêm Lục thương thư sự, Đô đốc ngũ châu… Sau khi chết được truy phong làm Thái phó kiêm Lư Lăng Quận công. Đời sau gọi là Tạ Thái Phó, Tạ An Thạch, Tạ Tướng, Tạ Công. Trước khi ra làm quan, thời trẻ, Tạ An từng đi ở ẩn ở Cối Kê và Đông Sơn. Ông kết giao với nhiều danh sĩ đương thời bấy giờ như Chi Đạo Lâm 支道林 , Vương Hy Chi 王羲之, Tôn Xước 孫綽, Lý Sung 李充,…nhiều lần bàn luận thơ văn, sướng đàm lẽ huyền diệu hay ngao du sơn thuỷ. Đây chính là nhóm tác gia hay tụ họp tại Lan Đình. Bài Lan Đình Tự 蘭亭序 nổi tiếng của Vương Hy Chi cũng làm trong giai đoạn xướng hoạ bất tận này. Bói ở lần tìm non Tạ Phó, xin về xưa cổi ấn Ngu Khanh. (Bảo kính 169.3).
đóa 朵 / 朶
dt. <từ cổ> khóm, cụm. Sách Thuyết Văn ghi: “đóa: cây buông hoa tua tủa” (朶樹木垂朵朵也). Một đóa đào hoa kháo tốt tươi, cách xuân mởn mởn thấy xuân cười. (Đào hoa thi 227.1).
dt. lượng từ của hoa. Ánh nước hoa in một đóa hồng, vện nhơ chẳng bén, “Bụt là lòng” (Mộc cận 237.1).
ưa 於
đgt. thích, mến. Đến trường đào mận ngạc chăng thông, quê cũ ưa làm chủ cúc thông. (Thuật hứng 50.2)‖ Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc. (Tự thán 86.3)‖ Chép hết bao nhiêu sự thế ưa. (Bảo kính 179.1)‖ (Trúc thi 221.2)‖ (Mai thi 224.2). đng mến, yêu, dấu, thương.