Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry Đào Tiềm
hiền tài 賢才
tt. có đạo đức và tài năng. Rày mừng thiên hạ hai của: tể tướng hiền tài, chúa thánh minh. (Thuật hứng 65.8).
hàu 蠔
AHV: hào.
dt. thuộc loài trai hến, vỏ xù xì bám vào đá. Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, hàu chất so le, cụm cuối làng. (Ngôn chí 9.6).
lăm 林
đgt. định, toan, lưu tích còn trong chữ lăm le, lăm lăm, nhăm nhăm. Quân tử hãy lăm bền chí cũ, chẳng âu ngặt chẳng âu già (Ngôn chí 18.7).
tử tái 紫塞
dt. tức nhạn môn tử tái 雁門紫塞, nằm tại huyện đại tỉnh Sơn Tây, là chốn hùng quan, có câu: “Chín cửa ải trong thiên hạ thì nhạn môn đứng đầu.” (天下九塞,雁門為首 thiên hạ cửu tái, nhạn môn vi thủ). Sách Sơn Hải Kinh ghi: “Nhạn môn: nhạn từ cửa này bay đi.” (雁門,飛雁出于其門). Dãy núi nhạn môn cao 1950m so với mặt nước biển, chỉ có một cửa khẩu thấp nhất là nơi chim nhạn thường bay qua. Thời Xuân Thu chiến quốc, triệu vũ linh vương đặt quận nhạn môn, đời Đường đặt cửa ải, tên Tây Kinh Quan 西烴關, hay Nhạn Môn quan 雁門關. Sau Nhạn Môn quan thường được dùng để trỏ nơi biên ải xa xôi, hiểm trở. Tử tái đường nghèo lòng mựa ngây. (Nhạn trận 249.8). x. Nghiêm Quang.
tửu binh 酒兵
dt. rượu. Tô Thức có câu: “Các ngài văn luật trùm tây kinh, lại dựng thi đàn dựa tửu binh.” (君家文律冠西京,旋筑詩壇按酒兵 quân gia văn luật quán tây kinh, toàn trúc thi đàn án tửu binh). Tào Dần trong bài Bắc hành tạp thi viết: “quanh mâm khách giang hồ, theo ai mượn tửu binh?” (满坐滄浪客,從誰借酒兵?mãn toạ Thương Lang khách, tòng thuỳ tá tửu binh?). Miệng khiến tửu binh pha luỹ khúc, mình làm thi tướng đánh đàn tao. (Tự thán 89.3).
vãn xuân 晚春
dt. tên bài thơ số 195 trong thì lệnh môn. Vãn xuân nghĩa là xuân muộn, cuối mùa xuân, tầm tháng ba âm lịch. Bài thơ thể hiện tinh thần nuối tiếc cuộc sống, nuối tiếc thời gian giống như chùm bài Tích cảnh thi.