Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry âm Việt hoá
mường tượng 夢想
◎ Nôm: 恾象 AHV: mộng tưởng.
đgt. hy vọng và mơ tới, đọc theo âm Việt hoá. Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng, lá chưa ai quét cửa thông. (Thuật hứng 51.7)‖ (Tự thán 98.5).
an 案
dt. âm Việt hoá của án trong án đọc sách, “an sách: yên sách” [Rhodes 1651 tb 1994: 30]. Tham nhàn lánh đến giang san, Ngày vắng xem chơi sách một an. (Ngôn chí 17.2)‖ (Bảo kính 164.1).‖ (Nghiễn trung ngưu 254.2). x. án.
buộc bện 縛緶
◎ Nôm: 纀𥾽 buộc: âm THV [Schuessler 1988: 247]. AHV: phược biền. Ss đối ứng: puôk⁵ (nguồn), puôk⁵ (Mường bi), dzăk² (Chứt), (Vân Kiều) [NV Tài 1993: 236]. x. bện.
đgt. HVVT <từ cổ> níu, kéo, lôi kéo, gò ép, ràng buộc, khống chế. Thế sự dầu ai hay buộc bện, sen nào có bén trong lầm. (Thuật hứng 70.7).‖ Hoặc ở lâu trong nước người chẳng hay cẩn thận, phải người mưu lừa sá quanh co, buộc bện, luống phải điều bắt cầm, ràng trói. (Phật Thuyết, 19b), dịch chữ câu khiên 勾牽.
bãi 𣺽
◎ Ss đối ứng: bại (Tày) [HTA 2003: 27].
dt. doi cát do phù sa bồi nên. (Ngôn chí 9.5)‖ (Bảo kính 153.3)‖ Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh, thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh. (Bảo kính 158.4)‖ (Hoè 244.1)‖ (Nhạn trận 249.1).
bén tục 变俗
đgt. dính tục. Tô Thức có câu: “có thể ăn không thịt, chẳng thể ở không trúc. Không thịt làm người gầy, không trúc khiến người tục. Người gầy có thể béo. Người tục không chữa được.” (寧可食無肉, 不可居無竹。無肉令人瘦, 無竹令人俗。人瘦尚可肥, 俗士不可医 ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc. Vô nhục lệnh nhân sấu, vô trúc lệnh nhân tục. Nhân sấu thượng khả phì, tục sĩ bất khả y). Huống lại dưng dưng chăng bén tục, trượng phu tiết cứng khác người vay. (trúc 222.3).
bượp 乏
◎ âm HTC *bap [Schuessler 1988: 234]. AHV: phạp.
tt. <từ cổ> thiếu, ít, “bượp gì: thiếu gì” [Rhodes 1651 tb1994: 44]. Nhà còn “thi lễ” âu chi ngặt, đời bượp văn chương uổng mỗ danh. (Mạn thuật 31.4)‖ Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ, cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng. (Thuật hứng 62.7)‖ (Tự thán 103.5).
can qua 干戈
dt. <Tngls> cái can (cái mộc, cái khiên) và cái qua (cái mác), chỉ vũ khí, sau trỏ chung cho chiến tranh loạn lạc. Luận Ngữ thiên Quý thị ghi: “Nước đang chia rẽ lìa tan mà không biết giữ, lại mưu toan gây can qua trong nước” (邦分崩離析而不能守也, 而謀動干戈於邦內). Dụt xông biếng tới áng can qua, địch lều ta dưỡng tính ta. (Ngôn chí 18.1).
che 遮
◎ Nôm: 𩂏 AHV: giá, đọc theo âm THV PJ Duong 2013: 107]. Ss đối ứng cε¹ (Mường), cε² (Rục) [VĐ Nghiệu 2011: 64], cε (30 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 192]. Như vậy, đây là từ hán Việt-Mường đọc âm THV, có thể xác định đây là từ mượn ở giai đoạn PVM.
đgt. chắn, ngăn (khỏi tầm nhìn, hoặc khỏi chịu sự tác động của mưa nắng). Bạch Cư Dị trong bài Tỳ bà hành có câu: “mời gọi mãi mới ra tiếp khách, tay ôm đàn che nửa mặt hoa” (千呼萬唤始出來,猶抱琵琶半遮面). (Ngôn chí 21.5)‖ Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che, cây im, thư thất lặng bằng the. (Tự thán 79.1)‖ (Tự thán 108.5).
đgt. phủ kín. Tráu cúc thu vàng nảy lác, sân mai tuyết bạc che đều. (Bảo kính 164.4).
đgt. trùm ở trên. Chân chạy, cánh bay, ai mỗ phận, thiên công nào có thửa tây che. (Tự thán 73.8), tây che dịch chữ tư phú 私覆.
chạy quấy 豸恠
đgt. <từ cổ> chạy băng xăng khắp nơi. Vắn dài, được trật dầu thiên mệnh, chạy quấy làm chi cho nhọc nhằn. (Bảo kính 175.8). x. quấy.
chận 瞋
◎ Nôm: 陣 AHV: trận. Xét, đối ứng gi- (HHV) ~ s- (AHV), như: giường ~ sàng 床 , giò (gà-) ~ sồ 雛 (con so, con non). Ss đối ứng gện [Rhodes 1651], chjấn (Lâm La), chẩn (bái đính), chân (tân ly), chơn (Hạ Sữu, uy lô, Thái Thịnh) [Gaston 1967: 142]; quá trình ch- > gi- diễn ra sau thời điểm soạn An Nam dịch ngữ [NN San 2003: 205]. Chuỗi đồng nguyên: sân giận trong tiếng Việt, vốn xuất phát từ 瞋. Xét, chữ “瞋” nghĩa gốc là “trừng mắt” (張目也) [Thuyết Văn] sau cho nghĩa “giận dữ” (Quảng Vận). Xét, ở thế kỷ XVII, ngữ tố này có thuỷ âm c- (như Rhodes và các thổ ngữ Mường). ở thế kỷ XV, có thể là một thuỷ âm kép. Kiểu tái lập: *kcan⁶. Quá trình du nhập từ tiếng Hán sang tiếng Việt như sau: sân > *kcan > chận > giận. Trong đó, *kcan là âm HHV ở thế kỷ XV, giận là âm HHV ở thế kỷ XVIII đến nay. Ngoài ra, các đối ứng có c- ở tiếng Mường đều là các âm Hán Mường. Chữ “giận hờn” dịch từ chữ “sân hận”.
đgt. tức. Chận làm chi, tổn khí hoà, nào từng hữu ích, nhọc mình ta. (Giới nộ 191.1)‖ (Miêu 251.8).
chẳng chẳng 拯拯
đgt. <từ cổ> bất cần, xua tay từ chối hết, không thiết đến cái gì, trái với quyền quyền. Chớ còn chẳng chẳng, chớ quyền quyền, Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn. (Tự thán 111.1).
cúc ba đường 菊𠀧唐
dt. dịch chữ tam kính cúc 三徑菊. Lan còn chín khúc, cúc ba đường, quê cũ chẳng về nỡ để hoang. (Tự thuật 117.1). x. Tưởng Hủ, Uyên Minh, ba đường cúc.
cả lòng 嘏腸
đgt. HVVT quyết ý, “làm gan, không sợ, cả quyết”. Cả quyết: quyết chắc, lấy làm chắc, dốc một lòng.” [Paulus của 1895: 87]. (Bảo kính 141.6) Ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng. (Tích cảnh thi 208.4). x. lòng.
dám 敢
đgt. đủ dũng cảm vượt qua điều kiện khách quan để thực hiện việc gì đó. Phồn hoa chẳng dám, ngặt yên phận, trong thế, anh hùng ấy mới biêu. (Tự thuật 116.7).
hoài 懷
đgt. HVVT <từ cổ> hoài: nghĩa gốc là “ôm trong lòng”, đây trỏ phía trong ngọn lửa. Than lửa hoài chưng thương vật nấu, [củi] thiêu tiếng khóc cảm thần linh. (Bảo kính 151.5).
khiếu 𫛕
◎ Có khả năng xưa đọc là kháo. Đối ứng kháo -sáo.
dt. chim khiếu. Hùm oai muông mạnh còn nằm cũi, khiếu hót chim khôn phải ở lồng. (Tự giới 127.6).
kể 計
AHV: kê. Đồng nguyên tự: (- đơn, - khai) và kể (-lể, -chuyện).
đgt. kê ra, tính ra. Không hết kể chi tay trí thuật, để đòi khi ngã thắt khi eo. (Mạn thuật 32.7, 36.3)‖ (Tự thán 72.6, 76.3, 102.5)‖ (Tích cảnh thi 203.2)‖ (Thiên tuế thụ 235.2) trong Toan kể (Đào hoa thi 230.3).
miền 沔
dt. từ trỏ nơi chốn. Ngàn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương. (Trần tình 42.3).
miệng 𠰘
◎ âm PVM: *miəŋ [VĐ Nghiệu 2011: 46].
dt. mồm. Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ, có lòng bằng trúc mỗ nên hư. (Mạn thuật 34.3) x. chử miệng tựa bình. ‖ (Tự thán 89.3, 91.5, 106.4, 108.3)‖ (Tự thuật 113.6)‖ (Bảo kính 136.3, 149.7, 171.5)‖ (Thuỷ trung nguyệt 212.6).
má đào 𦟐桃
dt. dịch chữ đào kiểm 桃臉. Trỏ người con gái đương xuân. (Đào hoa thi 230.4)‖ Má đào phai hết bởi xuân qua, nẻo lại đâm thì liền luống hoa. (Đào hoa thi 231.1). ở đây dùng nghĩa nước đôi.
mạc 模
đgt. <từ cổ> hình dung ra [Nguyễn Quang Hồng 2006: 655]. Mạc được thú mầu trong khuở ấy, thế gian hay một khách văn chương. (Trần tình 42.7)‖ Tiêu sái mấy lòng đà mạc được, bảo chăng khứng mạc một lòng thơm. (Tự thán 97.7).
mở 󱰙 / 𩦓 / 𨷑
đgt. trái với khép. (Ngôn chí 20.3)‖ Tình thư một bức phong còn kín, gió nơi đâu gượng mở xem. (Ba tiêu 236.4)‖ (Thái cầu 253.3).
phai 派
đgt. bợt màu. (Bảo kính 147.7)‖ Toan kể chỉn còn ba tháng nữa, gặp xuân mựa để má đào phai. (Đào hoa thi 230.4, 231.1).
sào 篙
◎ Nôm: 高 Văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi ký khắc năm 1157 ghi “nhị bán cao” nghĩa là “hai sào rưỡi” [văn bia thời lý 2010]. Phiên khác: cao (TVG, ĐDA, Schneider, VVK, BVN, MQL, NTN, PL). TV Giáp còn đề xuất cách hiểu “cao” viết nhầm từ “膏” nghĩa là “mỡ tức là mực, ý nói con trâu ở trong cái nghiên mực, được bồi dưỡng nhiều về chất béo của văn chương” (1956: 180). Xét, “sào văn” chuẩn đối với “ruộng thánh”. Nay đề xuất. Ss đối ứng k’aw (20 thổ ngữ Mường), ʂaw (5), t’aw (1), p’aw (1) [NV Tài 2005: 266].
dt. đơn vị đo lường ruộng đất thời xưa, mười sào bằng một mẫu. Nguyên nghĩa là “đồ đo ruộng có 15 thước mộc” sau dùng “sào mẫu, sào đất, sào ruộng” [Paulus của 1895: 903]. Về văn tự, “sào” có chính tự là 篙 (cây sào). Như vậy, có thể xác định, “sào” (cây gậy để đo) là một từ gốc Hán, cho nên “sào” (đơn vị đo lường) là một từ gốc Hán Việt dụng. Về ngữ âm, AHV có thuỷ âm k-, âm nôm có thuỷ âm s-, có thể tái lập ngữ âm là *krao². Quá trình biến âm từ Hán sang Việt sẽ là cao > *krao² > sào. Âm s- bắt đầu từ thế kỷ XVI về sau. Khoẻ cày ruộng thánh đà nhiều khóm, được dưỡng sào văn vô số phần. (Nghiễn trung ngưu 254.6).
tri kỉ 知己
dt. người bạn hiểu rõ mình. Trượng phu non vắng là tri kỉ, tiên khách nguồn im ấy cố nhân. (Tự thán 81.5)‖ (Bảo kính 161.7).
triều 朝
đgt. chầu về, hướng về, đổ về. Lý Xương Kỳ đời Đường trong bài Tống đới giáo thụ bắc hành có câu: “Lúc chia tay tình như nước chảy, muôn nhánh chia cũng thảy về đông.” (離情如逝水, 萬折亦朝東 ly tình như thệ thuỷ, vạn chiết diệc triều đông). Vương Thực Phủ 王實甫 đời nguyên trong bài Lệ xuân đường có câu: “Chốc đà tựa muôn sao chầu bắc, vạn suối về đông.” (恰便似衆星拱北,萬水朝東). Bui một tấc lòng ưu ái cũ, đêm ngày cuộn cuộn nước triều đông. (thuật hưng 50. 8). chầu. TVG, ĐDA, Schneider, VVK, PL phiên “triều”, nhóm MQL phiên “chầu”.
trúc 竹
dt. loài thực vật xanh tốt quanh năm, mùa xuân mọc măng, thân có nhiều đốt, rỗng trong. Được coi là tuế hàn tam hữu (ba người bạn trong mùa đông). (Ngôn chí 4.1)‖ Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm. (Ngôn chí 5.7, 7.6, 12.2, 13.4, 16.3, 18.5, 21.2)‖ (Mạn thuật 28.3, 34.4)‖ (Trần tình 39.1)‖ (Thuật hứng 46.1, 49.5, 50.6, 51.5, 56.5, 60.3, 61.3, 70.2)‖ (Tự thán 77.3, 79.1, 81.3, 95.3, 97.4, 110.6)‖ (Tự thuật 119.4)‖ (Tức sự 123.6, 126.1)‖ (Bảo kính 154.1, 155.5)‖ (Trừ tịch 194.6)‖ (Tích cảnh thi 200.1, 211.3). x. có lòng bằng trúc.
trận 陣
dt. nghĩa gốc là bày chiến xa sắp hàng theo các thế trong binh pháp. Sách Bội Huề Tập ghi “quân đội bày thế là trận” (軍陳爲陣). Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử, tám trận khôn hay chước Khổng Minh. (Bảo kính 156.6) x. tám trận.
trị 治
đgt. bình trị, trái với loạn. Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị, tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh. (Thuật hứng 65.5)‖ (Tự thán 72.5, 98.8, 100.1)‖ (Bảo kính 137.5).
tầm 尋
dt. đơn vị đo chiều dài cổ, một tầm bằng tám thước. Kinh Thi phần Lỗ tụng bài Bí cung có câu: (是尋是尺), lời truyện rằng: “tám tấc là một tầm” (八尺曰尋). Sách Thuyết Văn ghi: “Quãng dài hai sải tay người là tầm, bằng tám thước” (度人之两臂為尋,八尺也). Tiếng Việt còn bảo lưu lối nói tầm tay, sau mở rộng hơn, như tầm mắt, tầm ngắm, tầm nhìn. Tào khê rửa nghìn tầm suối, sạch chẳng còn một chút phàm. (Thuật hứng 64.7).
xình xoàng 情控
AHV: tình khống. Phiên khác: tình suông (TVG, BVN, MQL, VVK). Chữ 控 “khống”, có khả năng viết nhầm từ chữ “腔” (xoang). Xét, cách phiên trên là dựa theo AHV. Phiên “xênh xang” như Schneider là có cơ sở về âm khi coi đây là một từ láy. Xét, chữ “xênh xang” không thấy xuất hiện trong văn cổ, thêm nữa lại không hợp với chữ “quản” (mặc kệ). Chữ Nôm trên có thể phiên là “xênh xang” hoặc “xinh xang” nhưng âm này lại chỉ có nghĩa là “nở nang, tươi tốt, khoe khoang” [Paulus của 1895 t2: 579, 583], không hợp với văn cảnh. ĐDA phiên là “xềnh xoàng”, có lẽ ông cho đó là âm cổ của “xình xoàng”, “xuềnh xoàng” hiện nay, với nghĩa “dễ dãi, sơ sài, coi thế nào cũng xong”. pbb xênh xang.
tt. <từ cổ> chếnh choáng. “xình xoàng: say, vừa say, có chén” [Paulus của 1895: 1193]. Túi thơ bầu rượu quản xình xoàng, quảy dụng đầm hâm mấy dặm đàng. (Ngôn chí 9.1).
đong lừa 冬𪪏
đgt. <từ cổ> lừa gạt, nói tắt từ câu đong đấu lựa thưng, Tng. lừa thăng tráo đấu, trỏ việc gian lận. [Paulus của 1895: 319]. Công danh bịn rịn già lú, tạo hoá đong lừa trẻ chơi. (Tự thán 104.6).
đáo để 到底
đáo để trong tiếng Hán nghĩa là cuối cùng, rốt cuộc.
p. HVVD <từ cổ> “cùng tột, hết cách” như “lo đáo để: lo hết thế. kiếm đáo để: kiếm khắp nơi.” [Paulus của 1895: 275]. Chàu mấy kiếp, tham lam bấy, sống bao lâu, đáo để màng. (Thuật hứng 55.4)‖ (Tự thuật 117.8)‖ Thương chàng đáo để xót xa. (phương hoa, c. 318).
đồ 圖
dt. <từ cổ> bức tranh. Giang san dạm được đồ hai bức, thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 19.5)‖ Đăm chiêu đồ mở hình cao thấp (HĐQA, b. 12). đng tranh, bức.
đội 戴
◎ Nôm: 隊 AHV: đái. Ss đối ứng toj, doj, tɤj, dɤj (13 thổ ngữ Mường), puəŋ, buəŋ (10 thổ ngữ) [NV Tài 2005: 216]. Như vậy, “đội” là gốc Hán, “mang” (< bang) [NV Khang 2001: 31] là gốc Việt-Mường. Một số nơi hiện vẫn nói mang mũ, mang áo.
đgt. mang (mũ áo) ở phía trên. Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ, tay còn lựa hái cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.5).
đgt. (bóng) mang ở trên. Lộng lộng trời, tây chút đâu, nào ai chẳng đội ở trên đầu? (Trần tình 40.2).
đgt. chịu, mang (bị động). Dịch chữ đái ân 戴恩 (chịu ơn, đội ơn). (Ngôn chí 15.6)‖ Trong mắt những mừng ơn bậu bạn, trên đầu luống đội đức triều đình. (Tự thán 99.4, 100.3).
ưu ái 憂愛
đgt. HVVT lo và yêu. (Thuật hứng 50.7)‖ Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, tật được tiêu nhờ thuốc đắng cay. (Tự thuật 112.5)‖ (Tự thuật 115.6). x. âu.
lâu 樓
dt. lầu. Tà dương bóng ngả khuở giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu. (Ngôn chí 14.1).x. lầu.