Nguyễn Trãi Quốc Âm Từ Điển
A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese
Trần Trọng Dương.

Quốc Ngữ or Hán-Nôm:

Entry âm PHV
bích đào 碧桃
dt. loại đào thắm, cánh dày. Cửa động chẳng hay lìa nẻo ấy, bích đào đã mấy phút đâm hoa. (Tự thuật 118.8) câu này dịch ý từ câu thơ: “chẳng biết lưu lang khi đi khỏi, hoa đào đã mấy độ đâm cành mới” (不識劉郎歸去後桃花已發幾新枝 bất thức lưu lang quy khứ hậu, đào hoa dĩ phát kỷ tân chi?).
cúc 菊
◎ Ss đối ứng kuk³ (28 thổ ngữ Mường) [NV Tài 2005: 203].
dt. hoa quân tử, biểu tượng cho ẩn sĩ. Phần du lịu điệu thương quê cũ, tùng cúc bù trì nhớ việc hằng. (Ngôn chí 16.6, 17.5, 22.4)‖ Cúc Uyên Minh. (Mạn thuật 31.6)‖ (Thuật hứng 48.2)‖ Bạc cúc. (Thuật hứng 49.8, 50.2, 52.5, 60.5)‖ (Tự thán 71.3, 75.3, 83.4)‖ (Tự thuật 115.3)‖ (Bảo kính 129.4, 157.6, 164.3)‖ (Quy Côn Sơn 189.4).
cười cười 唭唭
đgt. cười nhưng có hàm ý bên trong. Sự thế đã hay thì vậy, có ai cốc được mỗ cười cười. (Tự thán 104.8).
gấm 錦
◎ Đọc âm HHV. AHV: cẩm. Xuất hiện trong câu thơ có sáu chữ. Kiểu tái lập: *?gam⁵. gấm (*?g-) chuẩn đối với mây (*km-), dưa (*kd-).
dt. lụa vải thêu hoa văn đẹp (Thuật hứng 56.6, 67.6)‖ Muối miễn dưa dầu đủ bữa, thao cùng gấm mặc chưng đời. (Tự thán 104.4).
hổ phách 琥珀 / 虎魄
dt. hoá thạch của nhựa cây tùng, có thể làm hương liệu hay đồ trang sức, đây còn là một vị thuốc. Hổ phách phục linh dìn mới biết, dành còn để đỡ dân này. (Tùng 220.3).
liền 連
lt. HVVD liền, ngay lập tức. Má đào phai hết bởi xuân qua, nẻo lại đâm thì liền luống hoa. (Đào hoa thi 231.2).
lưới thưới 𢅭𢄌
◎ Nôm: 䋥洒 AHV: lái sái. Sách Loại Thiên ghi: “Âm sư hãi thiết, si thượng thanh. Lái sái: áo rách.” (師駭切,篩上聲。𢅭𢄌,衣破也). Chữ sái còn cho âm đọc nữa là rưới trong từ rách rưới. Chữ lái sái còn để lại lưu tích trong từ lái xái hay lài xài “déchiré, déguenillé” [Bonet 1889: 333]. “lang thang lưới thưới: bộ rách rưới quá”[Paulus của 1895: 603], “lưới thưới: déguenillé” [Génibrel 1898]. Khảo dị: bản B ghi “rách rưới”. Phiên khác: lướt thướt (TVG), lái xái (ĐDA), rách rưới (Schneider), sếch sác: không chú nghĩa (BVN). Nay theo cách phiên của nhóm MQL, nhưng phân xuất nghĩa khác do ngữ cảnh, tạm xác định đây là nghĩa dẫn thân theo lối Việt dụng. x. la ỷ.
tt. HVVD <từ cổ> bộ giăng mắc phất phới, vẻ mậu thịnh. La ỷ lấy đâu chăng lưới thưới, hùng ngư khôn kiếm phải thèm thuồng. (Thuật hứng 68.3). lái xái, lái sái, lưới sưới, lưới rưới, lài xài.
lừng lẫy 凌礼
đgt. <từ cổ> “dấy tiếng mạnh mẽ” [Paulus của 1895: 601]. “…, vang lừng (nói về oai quiền)” [Paulus của 1895: 532], trỏ cơn thịnh nộ. Mấy phút om thòm dường tích lịch, một cơn lừng lẫy tựa phong ba. (Giới nộ 191.6).
ngược 逆
◎ Nôm: 䖈 âm HTC: ŋjak (Lý Phương Quế, Baxter), ŋiak (Vương Lực). Tiếng Việt còn bảo lưu song thức: ngỗ nghịch = ngỗ ngược. Trung ngôn nghịch nhĩ: lời trung trái tai.
đgt. trái với xuôi. Nước xuôi nước ngược nổi đòi triều, thuyền khách chơi thu các lướt chèo (Tự thán 101.1).
nọ 怒 / 奴
đt. từ trỏ cái không xác định cụ thể ở trong tương quan không gian hay thời gian (đại từ phiếm chỉ), thường đứng sau danh từ, hoặc đứng riêng một mình, đối với “kia”. Mấy người ngày nọ thi đỗ, lá ngô đồng khuở mạt thu. (Ngôn chí 3.7)‖ (Trần tình 42.3)‖ (Tự thán 71.7, 84.7)‖ (Bảo kính 145.5, 174.7, 176.3, 180.7, 185.3)‖ (Thuỷ thiên nhất sắc 213.8).
nồi hương 㘨香
dt. khng. <từ cổ> đỉnh trầm, lò đốt trầm. Tráu sưa sưa hai cụm trúc, chường tấp tấp một nồi hương. (Tức sự 126.2)‖ (Bảo kính 185.6).
phương 芳
dt. hương thơm. x. tìm phương.
phấn 粉
dt. mạt bột nhỏ, thường để điểm trang. Tuyết sóc treo, cây điểm phấn, quỹ đông dãi, nguyệt in câu. (Ngôn chí 14.3)‖ (Mạt lị hoa 242.1).
quạt chè 橘茶
◎ Phiên khác: quất chè (TVG), quất chè: cái que tre to và bẹt như chiếc đũa cả, dùng để quất vào cái túi nhỏ đựng vỏ chè mai hoặc lá chè tươi, cho chè dập nát trước khi bỏ cả túi vào ấm to mà om (BVN 1994: 83). Quých chè: chim tiêu liêu trong sách Trang Tử chỉ an phận làm tổ trên một cành cây nhỏ, chứ không quan tâm đến cả rừng cây, trỏ việc Hứa Do từ chối nhập thế (Schneider, PL 2012: 138). Thuyết này gán ”chích choè” thành “quých choè”. Hiện chưa thấy đâu ghi nhận âm này.
dt. <từ cổ> bộ dụng cụ để nấu và hãm chè. “quạt chè 橛茶: theum coquere” [Taberd 1838: 409]. Tỏ tường phiến sách con Chu Dịch, bàn bạc lòng nhàn cái quạt chè. (Tự thán 79.4).
rã keo 攞膠
◎ Nôm: 𣳮膠
đgt. HVVT <từ cổ> (đen) mất hết chất dính, (bóng) mất hết ý hướng. Tưởng thân hư ảo nổi bằng bèo, chí cũ công danh vuỗn rã keo. (Mạn thuật 32.2).
tiên thổi địch 仙𠺙笛
đc. Liệt tiên toàn truyện viết: Phí Văn Vĩ đắc đạo thành tiên, thường đến uống rượu ở một quán vùng giang hạ, nợ tiền đến mấy năm mà chủ quán vẫn không kêu ca. Phí Văn Vĩ bèn vẽ lên vách một con hạc, khách đến uống rượu cứ vỗ tay là hạc lại nhảy múa trên vách làm vui. Nhờ thế quán rượu đông lên gấp bội. Qua mười năm sau, vĩ lại đến, thấy quán đã giàu có, liền cầm địch thổi mấy bài, thoắt cái con hạc đã bay đến trước mặt, liền cưỡi hạc bay đi. Chủ quán bèn dựng lầu ở đó gọi là lầu Hoàng Hạc. Lầu nguyệt đã quen tiên thổi địch, non xuân từng bạn khách ăn thông. (Lão hạc 248.3).
tôi lành 碎冷
dt. hiền thần. Khi bão mới hay là cỏ cứng, khuở nghèo thì biết có tôi lành. (Bảo kính 131.6).
đôi co 堆姑
đgt. giành nhau, tranh nhau, cãi nhau, đôi gốc Hán, co gốc Việt. “Nói đi nói lại, chống báng, không nhịn, không vì.” [Paulus của 1895: 313]. Ngỡ ốc nhượng khiêm là mỹ đức, đôi co ai dễ kém chi ai. (Tự thán 91.8)‖ (Bảo kính 176.1)‖ Thế sự đôi co dầu thế sự. (HĐQA b.1), Làm chi cho có sự đôi co. (Bạch Vân Am b.72).
đổi ấn 兌印
◎ Nôm: 対印
đgt. HVVT trao ấn lại cho nhau. Hắc Đế, Huyền Minh đà đổi ấn, sóc phong, bạch tuyết hãy đeo đai. (Trừ tịch 194.3). Theo tín ngưỡng đời xưa, mỗi năm có một vị thần hành khiển của cả năm đó. Đến ngày cuối năm thì vị thần năm cũ trao ấn cho vị thần cai quản năm sau. (x. đoàn triển - An Nam phong tục sách).
mạc 模
◎ (sic) < 摸. Phiên khác: mua (TVG, BVN).
đgt. <từ cổ> vẽ, tô, “mặt mạc: mặt nạ” (Béhaine 1773: 350, 279), “mạc: peindre” (Gustave Hue). Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn (Đặng Trần Côn- Chinh phụ ngâm) dịch từ câu Chinh nhân mạo  thùy đan thanh, Tử sĩ hồn  thùy ai điếu (征人貌誰丹青, 死士魂誰哀弔), chữ “mạc mặt” dùng để dịch chữ “mạo” và “đan thanh”, trong đó “đan thanh 丹青, tức chu sa hay đan sa có mầu hồng, và thạch thanh một khoáng chất có mầu xanh, là những bột vẽ, nên có nghĩa là hội họa, là vẽ, là sử sách”. (PX Hy 2006). Cội cây la đá lấy làm nhà, Lân các ai hầu mạc đến ta. (Thuật hứng 54.2)‖ Bút thiêng Ma Cật, tay khôn mạc, Câu kháo Huyền Huy, ý chửa đông. (Thủy thiên nhất sắc 213.5)‖ hộ tượng: tượng vẽ mạc chưng mặt người (CNNA 44b).